
Bài 1: Tổng quan về ngân hàng và hoạt ngân hàng
01_NEU_FIN504_Bai1_b3_v1.0013110211 1
BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG
NGÂN HÀNG
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. Giáo trình Quản trị Ngân hàng thương mại, PGS. TS. Phan Thị Thu Hà, NXB Giao
thông vận tải.
2. Tiền tệ, Ngân hàng và Thị trường tài chính, Frederic S.Mishkin, NXB Khoa học
Kỹ thuật, 2001.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
Trang Web môn học.
Nội dung
N
gân hàng là
m
ột trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng
bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài
chính nói riêng. Trong bài này, chúng ta sẽ nghiên cứu về quá trình hình thành và phát
triển của ngân hàng, chức năng và vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế ngày nay. Bên
cạnh đó, chúng ta sẽ nghiên cứu tính đặc thủ của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Mục tiêu
Giúp sinh viên nắm được lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng.
Hiểu và giải thích các chức năng của ngân hàng.
Nắm vững các nghiệp vụ, sản phẩm mà ngân hàng cung cấp để hiểu được vai trò của
ngân hàng trong nền kinh tế.
Hiểu và phân biệt các loại hình ngân hàng.
Biết được lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.

Bài 1: Tổng quan về ngân hàng và hoạt ngân hàng
2 01_NEU_FIN504_Bai1_b3_v1.0013110211
Tình huống dẫn nhập
Cỗ máy kỳ diệu nhất của tạo hóa chính là cơ thể một con người. Vậy để vận hành “thể chế”
này, chúng ta cần có một nguồn năng lượng nuôi dưỡng, cung cấp cho cỗ máy đó. Và hệ tuần
hoàn với trái tim mình đã mang những chất dinh dưỡng thiết yếu nhất chứa đựng trong dòng
máu ngọt lành đến các cơ quan trong cơ thể này.
Với vai trò là phát minh quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng đóng
vai trò là trái tim, là nhịp đập của nền kinh tế. Huy động vốn từ những người có tiền nhàn rỗi
để “nuôi dưỡng” các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế.
1. Vậy cụ thể ngân hàng là gì? Chức năng của ngân hàng trong nền kinh tế ra sao?
2. Các dịch vụ chính của ngân hàng trong nền kinh tế?

Bài 1: Tổng quan về ngân hàng và hoạt ngân hàng
01_NEU_FIN504_Bai1_b3_v1.0013110211 3
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng
1.1.1. Lịch sử hình thành
Vào khoảng ba nghìn năm trước Công nguyên. Hình thức ngân hàng sơ khai được
nhiều nhà sử học cho rằng đã hình thành trước khi con người phát minh ra tiền. Ban
đầu, tài sản gửi tại "ngân hàng'' là các loại ngũ cốc, sau đó là gia cầm, nông sản, rồi
đến kim loại quý như vàng. Đền thờ là nơi an toàn để cất trữ tài sản. Đó là các công
trình được xây dựng kiên cố, thường xuyên có người tới hành lễ. Và xét về tâm linh
thì ngay những tên trộm táo tợn nhất cũng có ý tránh chốn linh thiêng này.
Tại Ai Cập và Mesopotamia, vàng được gửi vào các
đền thờ. Nhưng những tài sản quý giá này lại ngủ yên
trong đó, trong khi, ở bên ngoài xã hội, các nhóm
thương nhân và hoàng tộc lại rất cần sử dụng chúng.
Các nhà khảo cổ học tìm được những tàng tích cho
thấy tới đầu thế kỷ 18 trước công nguyên, tại Babylon,
dưới thời trị vì của Hammurabi, thầy tu trông giữ đền
thờ bắt đầu cho các nhà buôn mượn tài sản cất trữ trong
đền. Khái niệm ngân hàng ra đời.
Hoạt động tín dụng ngân hàng phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ thứ 4 trước công
nguyên ở vùng Địa Trung Hải. Tại Ai Cập, từ rất sớm, ngũ cốc đã được sử dụng như
một loại tiền tệ bên cạnh kim loại quý (vàng và bạc). Các kho chứa ngũ cốc của triều
đình thực hiện chức năng của ngân hàng. Khi đế chế Hy Lạp chinh phục Ai Cập, thời
kỳ trị vì của hoàng gia Ptolemies (330-323 B.C.), những kho chứa nằm rải rác được tổ
chức lại thành một hệ thống ngân hàng ngũ cốc, và được quản lý tập trung tại
Alexandria- nơi ghi chép và lưu trữ tài khoản của các tất cả các ngân hàng ngũ cốc.
Mạng lưới ngân hàng này hoạt động như hệ thống tín dụng thương mại, trong đó, việc
thanh toán được thực hiện bằng ghi sổ từ tài khoản này sang tài khoản khác mà không
cần chuyển tiền trên thực tế. Đây chính là bản chất và hình thức đầu rõ ràng nhất của
các nghiệp vụ bù trừ hay thanh toán điện tử của các ngân hàng hiện đại.
Thành Rome cổ đại đã hoàn thiện các qui tắc và thủ tục hành chính của ngân hàng,
cũng như các tổ chức và giao dịch tài chính. Lãi suất tiền vay và lãi tiền gửi được sử
dụng rộng rãi với kỹ thuật tính toán phát triển và trong môi trường cạnh tranh. Trong
thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, các khoản nợ được coi là đã chính thức thanh toán sau
khi số tiền tương ứng đã chuyển tới ngân hàng. Nhà nước La Mã bổ nhiệm công
chứng viên ghi nhận các giao dịch ngân hàng. Tuy vậy, sự phát triển của các ngân
hàng La Mã gặp phải cản trở lớn từ thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch của
người La Mã. Trong thời gian trị vì của Gallienus (260-268 sau Công nguyên), hệ
thống ngân hàng La Mã từng bị gián đoạn sau khi các ngân hàng từ chối tiền bằng
đồng mà vị Hoàng đế cho đúc ra.
Khi đế chế La Mã suy vong, các hoạt động thương mại giảm đáng kể nên các ngân
hàng cũng không còn cần thiết. Thêm vào đó, giáo lý Cơ đốc cổ ngăn cấm thực hiện
các giao dịch ngân hàng và coi việc tính lãi (cả với tiền gửi và tiền cho vay) là không
Đền thờ Bel ở Mesopotamia

Bài 1: Tổng quan về ngân hàng và hoạt ngân hàng
4 01_NEU_FIN504_Bai1_b3_v1.0013110211
có đạo đức. Sau khi La Mã sụp đổ, hoạt động ngân hàng bị cấm tại Tây Âu và chỉ
được phục hồi trở lại vào thời điểm các cuộc thập tự chinh xuất hiện.
Trong suốt thế kỷ 13, các nhà ngân hàng ở bắc Italy, được biết tới tên gọi chung
''những người Lombards'', dần thay thế vai trò của người Do Thái trong hoạt động
truyền thống: cung cấp tiền bạc cho những người giàu có và quyền lực, các hoàng gia
Châu Âu. Kỹ năng kinh doanh của ngân hàng được phát triển với phát kiến về nghiệp
vụ ghi sổ kép và cách thức bù trừ nghĩa vụ tín dụng của khách hàng trên ghi chép sổ
sách giữa các ngân hàng trong hệ thống, vốn được các ngân hàng ở Genoa áp dụng từ
thế kỷ 12. Cách thức kế toán sáng tạo này giúp họp tránh được “tội lỗi'' cho vay nặng
lãi được qui định trong giáo lý Cơ đốc. Lợi nhuận của khoản vay được ghi trong các
tài khoản dưới dạng quà tặng tự nguyện của người vay hoặc phần thưởng cho những
rủi ro mà nhà ngân hàng đã trải qua. Hẳn nhiên, những món quà và phần thưởng của
các hoàng tộc đứng đầu châu Âu không bao giờ có giá trị nhỏ.
Các ngân hàng tại Siena và Lucca, Milan và Genoa
đều thu lợi từ những thương vụ mới này. Nhưng xứ
Florence mới thực sự chiếm phần lớn nhất. Hệ thống
ngân hàng Florence thống lĩnh hệ thống tài chính quốc
tế nhờ đồng tiền vàng florin nổi tiếng. Được đúc lần
đầu tiên vào năm 1252, đồng florin nhanh chóng nhận
được sự tín nhiệm và công nhận rộng rãi, thực sự trở
thành đồng tiền mạnh (hard currency) vào thời đó.
Các ngân hàng xứ Florence đảm bảo dịch vụ này nhờ số lượng chi nhánh ở khắp nước
Italia và tại các trung tâm buôn bán lớn của châu Âu. Tới đầu thế kỷ 14, hệ thống ngân
hàng Bardi đã hiện diện tại Barcelona, Seville và Majorca; Paris, Avignon, Nice và
Marseilles; London, Bruges, Constantinople, Rhodes, Cyprus và Jerusalem.
Quyền lực của xứ Florence còn được củng có bởi những khoản nợ lớn mà các chủ
ngân hàng ở đây đang nắm giữ. Con nợ, không ai xa lạ, chính là các vị Hoàng đế uy
quyền bậc nhất châu Âu. Cũng chính vì lẽ đó, không lâu sau, các ngân hàng này rơi
vào cảnh tồi tệ.
Năm 1340, vua Edward III của nước Anh thực hiện thương vụ cực kỳ tốn kém: cuộc
chiến với nước Pháp, sự khởi đầu của một thế kỷ chiến tranh. Vị Hoàng đế vay rất
nhiều tiền từ xứ Florence. Nhà Peruzzi cho vua Edward III vay 600.000 florin vàng
còn nhà Bardi cung cấp khoản vay 900.000 florin vàng. Tới năm 1345, nhà vua vỡ nợ
và cả hai dòng họ ngân hàng Florence cũng lâm vào cảnh phá sản.
Hoạt động ngân hàng trong thế kỷ 16 cũng không tránh khỏi rủi ro này. Trong khi
nhiều ngân hàng lớn của Đức và Italia cho các vương triều Châu Âu mượn tiền thì
việc thu hồi các khoản nợ gặp rất nhiều khó khăn. Hỗ trợ cho bên chiến bại đồng
nghĩa với việc người vay tiền sẽ bị xử tử và lãnh địa của họ bị tàn phá bởi các đạo
quân vô cùng hung hãn. Cũng không kém phần nguy hiểm, ngay cả các hoàng gia lớn
cũng có thể sử dụng quá mức nguồn lực tài chính của mình và thường dẫn tới kết cục
vỡ nợ. Vua Philip II của Tây Ban Nha đã phải tuyên bố phá sản vào năm 1557. Hậu
quả tại hại của sự kiện này là các ngân hàng lớn của Đức đều bị tổn thất nặng nề.
Đ
ồn
g
tiền
v
àn
g
florin

Bài 1: Tổng quan về ngân hàng và hoạt ngân hàng
01_NEU_FIN504_Bai1_b3_v1.0013110211 5
Năm 1587, Banco della Piazza di Rialto mở cửa tại Venice với tư cách một sáng kiến
của nhà nước. Mục tiêu của nó là cất giữ an toàn các khoản tiền của thương nhân và
đảm bảo các giao dịch tài chính giữa Venice và đối tác ở bất kỳ đâu mà không thực
hiện di chuyển vật lý của tiền đúc.
Venice, sau khi là thành phố đầu tiên lập ngân hàng cho việc giữ tiền và thanh toán bù
trừ séc, cũng đi tiên phong trong việc cho phép một ngân hàng can dự vào tài chính
chính phủ. Năm 1617, Banco Giro được thành lập để giải quyết các vấn đề mà Banco
della Piazza di Rialto để lại sau khi thực hiện những khoản cho vay không đảm bảo.
Con nợ của ngân hàng chính là nhà nước Venice. Banco Giro ra đời trên nguyên tắc
những chủ nợ của chính phủ chấp nhận nợ được thanh toán dưới dạng tín dụng với
ngân hàng mới. Để giải quyết một vấn đề trước mắt, những cơ hội mới được tạo ra.
Venice đã có một cơ chế tạo nguồn quỹ tài chính công trên cơ sở các khoản tín dụng
được đảm bảo.
Mở rộng khái niệm này theo logic đưa tới khái niệm ngân hàng quốc gia, được thành
lập dưới dạng các liên kết với chính phủ. Ngân hàng quốc gia đầu tiên ra đời là Ngân
hàng Thụy Điển (Bank of Sweden), thành lập năm 1668. Cho tới nay ngân hàng này
vẫn hoạt động và thường được nhắc tới với tư cách tổ chức xét và trao Giải thưởng
Khoa học Kinh tế Tưởng nhớ Alfred Nobel. Cũng rất lâu đời và giữ vai trò quan trọng
trong lịch sử ngân hàng thế giới là Ngân hàng Anh (Bank of England) được thành lập
năm 1694, ban đầu là một công ty cổ phần, với thương vụ đầu tiên là thu xếp khoản
nợ 1,2 triệu bảng được vua nước Anh Willam sử dụng trong cuộc chiến với Louis XIV
của Pháp (Ellen Hodgson Brown, 2008. Web of Debt).
Tiền giấy xuất hiện lần đầu tiên tại châu Âu vào thế kỷ 17 tại Thụy Điển, vài năm
trước khi ngân hàng quốc gia đầu tiên ra đời. Năm 1656, Johan Palmstruch lập
Stockholm Banco. Dù đây là ngân hàng tư nhân nhưng có mối liên hệ rất mật thiết với
Nhà nước. Một nửa lợi nhuận của ngân hàng này là khoản phải trả cho Bộ tài chính
của Hoàng gia Thụy Điển. Năm 1661, sau khi thảo luận cùng chính phủ Thụy Điển,
Palmstruch nhận được quyền phát hành giấy tín dụng có thể trao đổi. Khi đưa giấy
này tới ngân hàng của Palmstruch, một số lượng tiền xu đúc bằng bạc đã được định
trước sẽ được trao cho người xuất trình.
Giấy bạc Palmstruch được thiết kế rất ấn tượng. In trên
mặt giấy là 8 chữ ký. Nếu đạt đủ lòng tin của dân
chúng, đó sẽ là loại tiền tệ lý tưởng. Giấy bạc này có
thể được sử dụng để mua hàng hóa trong chợ nếu từng
người nắm giữ nó cùng có chung niềm tin rằng sẽ đổi
được môt lượng tiền đúc thực sự khi cầm giấy đến
ngân hàng.
Nhưng tai họa đã xảy ra. Palmstruch phát hành nhiều
tiền giấy hơn số bạc có thể đổi cho khách hàng. Đến
năm 1667 Palmstruch bị thất sủng, và đối diện với án tử hình, sau đó được giảm nhẹ
xuống phạt tù, do gian lận.
Các hệ thống ngân hàng vẫn tiếp tục phát triển cùng sự tiến bộ của xã hội loài người
với vai trò và ảnh hưởng ngày một quan trọng và sâu sắc hơn. Lịch sử thế giới đương
Tiền giấy 1661

