intTypePromotion=1
ADSENSE

Bài giảng Sinh lý bệnh học

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:100

21
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của môn sinh lý bệnh học được chia làm ba chương: Các khái niệm và quy luật chung về bệnh; Sinh lý bệnh các quá trình bệnh lý chung; Sinh lý bệnh các cơ quan, hệ thống. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Sinh lý bệnh học

  1. Bài mở đầu NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN BỆNH LÝ HỌC THÚ Y HAY SINH LÝ BỆNH THÚ Y 1. ĐỊNH NGHĨA MÔN HỌC Sinh lý bệnh (PHthophysiology) theo nghĩa tổng quát nhất là môn học về những thay đổi chức năng của cơ thể, cơ quan, mô và tế bào khi chúng bị bệnh. Sinh lý bệnh học là một môn khoa học nghiên cứu những hoạt động của sự sống trong cơ thể bệnh, cụ thể là nghiên cứu những biến đổi bệnh lý về cơ năng các cơ quan, hệ thống và mô bào, đồng thời nghiên cứu những nguyên nhân, điều kiện gây bệnh và tìm ra quy luật chung của sự phát sinh, phát triển và kết thúc của quá trình bệnh lý. Môn sinh lý gia súc nghiên cứu tất cả cơ năng, hệ thống trong cơ thể gia súc (động vật) bình thường và tìm ra được quy luật nhất định, cũng như vậy trên cơ thể bệnh chúng ta cũng nghiên cứu tuần tự và so sánh lại với quy luật bình thường để thấy được những thay đổi như thế nào và từ đó rút ra kết luận với từng trường hợp. Chính vì vậy người ta thấy mỗi một bệnh có một quy luật riêng và nó cũng có những biểu hiện bệnh lý chung. Ví dụ: Trong tất cả các loại nhiễm khuẩn chúng ta đều thấy các quá trình bệnh lý như viêm, sốt, khi kiểm tra máu thấy bạch cầu tăng và đó là những quy luật chung. Trong khi đó ở bệnh dịch tả lợn chúng ta thấy cơ thể lợn sốt, viêm nhưng bạch cầu hạ; bệnh lao phổi chúng ta lại thấy cơ thể vật bệnh sốt liên miên, thường hay sốt vào buổi chiều, ra mồi hôi nhiều và đó là những quy luật riêng. Những quy luật riêng tạo nên những biến đổi trên cơ quan, tổ chức gọi là quá trình bệnh lý điển hình và các quá trình này tạo nên bệnh tích điển hình. Từ những quy luật đó khái quát lại và nêu lên quy luật hoạt động của từng bệnh, tạo cơ sở lý luận cho các môn học lâm sàng tìm biện pháp khống chế. 2. NỘI DUNG MÔN HỌC Nội dung của môn sinh lý bệnh học được chia làm ba chương: Chương 1 : Các khái niệm và quy luật chung về bệnh Bao gồm: khái niệm về bệnh, nguyên nhân gây bệnh, sinh bệnh học, đặc tính của cơ thể đối với sự phát bệnh (bệnh lý của quá trình miễn địch). Chương 2: Sinh lý bệnh các quá trình bệnh lý chung Bao gồm: rối loạn tuần hoàn cục bộ, rối loạn chuyển hóa các chất, viêm, rối loạn điều hoà thân nhiệt, quá trình bệnh lý của sự phát triển mô bào. Chương 3: Sinh lý bệnh các cơ quan, hệ thống Nghiên cứu rối loạn chức năng của các cơ quan, hệ thống: hệ thống máu và cơ quan tạo máu, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu và hệ thống thần kinh. Với những nội dung trên môn sinh lý bệnh học là môn học cơ sở của ngành thú y, có liên quan chặt chẽ với nhiều môn học khác như: sinh lý gia súc, sinh hóa 1
  2. học, dược lý học, vi sinh vật học và các môn lâm sàng thú y như: bệnh nội khoa, chẩn đoán bệnh, bệnh ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm, bệnh sản khoa... Đặc biệt sinh lý bệnh và giải phẫu bệnh là hai cấu thành của môn Bệnh lý học, là hai môn học có cùng chung một đối tượng nghiên cứu nhưng sinh lý bệnh chủ yếu nghiên cứu những biến đổi về cơ năng, còn giải phẫu bệnh thì nghiên cứu những biến đổi về hình thái trên cơ thể bệnh 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN SINH LÝ BỆNH THÚ Y Phương pháp nghiên cứu của môn sinh lý bệnh học là phương pháp thực nghiệm, một phương pháp rất khách quan và khoa học. Phương pháp này tiến hành gây bệnh nhân tạo trên cơ thể động vật, sau đó quan sát toàn bộ quá trình diễn biến của bệnh, cuối cùng phân tích và rút ra quy luật chung của quá trình bệnh lý. Trong phương pháp thực nghiệm, thường sử dụng hai phương pháp là phương pháp thực nghiệm cấp tính hay còn gọi là cấp diễn và phương pháp thực nghiệm mãn tính hay còn gọi là trường diễn. 3.1. Phương pháp thực nghiệm cấp tính (cấp diễn) Phương pháp này thường phân tích các chức năng của các cơ quan riêng biệt, có khi cô lập ra khỏi cơ thể để nghiên cứu, tức là làm nhanh có kết quả ngay để có thể nắm được các quy luật Người ta thường sử dụng phương pháp này trong một số trường hợp chẩn đoán nhanh và dùng để giảng dạy cho sinh viên. Ví dụ: Người ta thường cô lập tim ếch hoặc cô lập một đoạn ruột để nghiên cứu. Ưu điểm: phương pháp này tương đối đơn giản, quan sát biến đổi về cơ năng trong một thời gian ngắn. Nhược điểm: Gây tổn thương trên cơ thể bệnh, kích thích từng cơ quan riêng biệt một cách nhân tạo, thậm chí còn tách rời một số cơ quan khỏi cơ thể hoặc tiến hành nghiên cứu dưới điều kiện gây mê. Trong những điều kiện thực nghiệm như vậy thì không thể biểu hiện được bản chất của bệnh một cách đầy đủ, kết quả thu được không sát so với khi con vật hoạt động bình thường. 3.2. Phương pháp thực nghiệm mãn tính (trường diễn) Phương pháp thực nghiệm mãn tính do Páp-lốp đề ra. Phương pháp này tiến hành trên con vật sau khi đã được phẫu thuật và hoàn toàn hồi phục, cơ thể con vật ở trạng thái tỉnh táo gần như bình thường. Ví dụ: người ta làm một ống để hứng dịch vị dạ dầy, làm một ống để hứng nước bọt. Ưu điểm: Làm thí nghiệm trên con vật ở trạng thái bình thường nghiên cứu được lâu dài, chính xác hơn, có thể rút ra những quy luật biến đổi ở cơ thể bệnh một cách toàn diện trong suất quá trình bệnh lý, tốn ít động vật thí nghiệm. Nhược điểm: Chỉ áp dụng nghiên cứu trong một số trường hợp có thời gian nghiên cứu lâu dài. Nhưng người ta thường kết hợp cả hai phương pháp trên để nghiên cứu quá trình bệnh một cách toàn diện hơn. 2
  3. Ngày nay có nhiều phương pháp nghiên cứu tiên tiến như: phương pháp nội soi, hoặc phương pháp cắt lát bộ óc để xem có u não không, phương pháp dùng máy siêu âm để kiểm tra hoạt động của thai... cũng được áp dụng trong nghiên cứu sinh lý bệnh. Ngoài ra sinh lý bệnh học còn ứng dụng những thành tựu và phương pháp mới nhất của khoa học như: miễn dịch học, sinh hóa học, phân tử học (nuôi cấy đen, cắt đen) để nghiên cứu các quá trình bệnh lý. 3
  4. Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM VÀ QUY LUẬT CHUNG VỀ BỆNH 1. KHÁI NIỆM VỀ BỆNH Kể từ thời nguyên thuỷ tới nay, qua bao ngàn năm, khái niệm về bệnh là bất biến. Điều đó không đúng mà nó thay đổi theo thời gian. Nói chung, sự thay đổi này phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố: Trình độ văn minh của xã hội đương thời. Thế giới quan (bao gồm cả triết học) của mỗi thời đại. Trong một xã hội, có thể đồng thời xuất hiện nhiều khái niệm về bệnh, kể cả những khái niệm đối lập nhau. Đó là điều bình thường nói lên những quan điểm học thuật khác nhau có thể cùng tồn tại trong khi chờ đợi sự ngã ngũ. Tuy nhiên, trong lịch sử đã có những trường hợp quan điểm chính thống tìm cách đàn áp các quan điểm khác. Một quan niệm về bệnh bao giờ cũng chi phối chặt chẽ các nguyên tắc chữa bệnh, phòng bệnh. Do vậy nó có vai trò rất lớn trong thực tiễn. 1.1 Một số khái niệm trong lịch sử 1.1.1 Thời nguyên thuỷ Người nguyên thuỷ khi biết tư duy cho rằng bệnh là sự trừng phạt của các đấng siêu linh đối với con người và trần thế. Ở đây có sự lẫn lộn giữa bản chất của bệnh với nguyên nhân gây ra bệnh (trả lời câu hỏi "bệnh là gì" cũng giống câu hỏi "bệnh do đâu"). Không thể đòi hỏi một quan niệm tích cực hơn khi trình độ con người còn quá thấp kém, với thế giới quan coi bất cứ vật gì và hiện tượng nào cũng có các lực lượng siêu linh can thiệp vào. Đáng chú ý là quan niệm này bước sang thế kỷ 21 vẫn còn tồn tại ở những bộ tộc lạc hậu hoặc một số bộ phận dân cư trong các xã hội văn minh. Với quan niệm như vậy thì người xưa chữa bệnh chủ yếu bằng dùng lễ vật để cầu xin, có thể cầu xin trực tiếp, hoặc thông qua những người làm nghề mê tín dị đoan. Bao giờ cũng vậy, giá trị của vật lễ luôn luôn nhỏ hơn giá trị của điều cầu xin. Tuy nhiên, trên thực tế người nguyên thuỷ đã bắt đầu biết dùng thuốc, không phải chỉ phó mặc số phận cho thần linh. 1.1.2. Thời các nền văn minh cổ đại Trước công nguyên nhiều ngàn năm, một số vùng trên thế giới đã đạt trình độ văn minh rất cao so với mặt bằng chung. Ví dụ: Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã, Ai 4
  5. Cập hay Ấn Độ. Trong xã hội hồi đó đã xuất hiện tôn giáo, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật, khoa học (gồm cả y học và triết học). Nền y học lúc đó ở một số nơi đã đạt được những thành tựu lớn về y lý cũng như về phương pháp chữa bệnh và đã đưa những quan niệm về bệnh của mình. 1.1.2.1. Trung Quốc cổ đại Khoảng hai hay ba ngàn năm trước công nguyên, y học chính thống Trung Quốc chịu ảnh hưởng lớn của triết học đương thời cho rằng vạn vật được cấu tạo từ năm nguyên tố (Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) tồn tại dưới hai mặt đối lập (âm và dương) trong quan hệ hỗ trợ hoặc át chế lẫn nhau (tương sinh hoặc tương khắc). Các nhà y học cổ đại Trung Quốc cho rằng bệnh là sự mất cân bằng âm dương và sự rối loạn quan hệ tương sinh tương khắc của Ngũ hành trong cơ thể. Từ đó nguyên tắc chữa bệnh là điều chỉnh lại, kích thích mặt yếu (bổ), chế át mặt mạnh (tả). Trong thời kỳ này quan niệm về bệnh ở đây là duy vật, các thế lực siêu linh bắt đầu bị loại trừ khỏi vai trò gây bệnh. Cố nhiên, đây mới chỉ là trình độ duy vật hết sức thô sơ (cho rằng vật chất chỉ gồm năm nguyên tố) và trong nhiều ngàn năm, quan niệm này tỏ ra bất biến, không hề vận dụng được các thành tựu vĩ đại của các ngành khoa học tự nhiên khác vào y học. Y học Trung Quốc cổ đại khá phong phú và chặt chẽ, thực sự có vai trò hướng dẫn cho thực hành, đồng thời có thể tự hào về tính biện chứng sâu sắc. Tuy nhiên, trình độ biện chứng ở đây chỉ là rất chung chung, trừu tượng. Do vậy, y lý chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết (do quan sát và suy luận mà có) chưa thể gọi là đạt mức lý luận (dùng thực nghiệm kiểm tra và chứng minh mà có). Học và y lý Trung Quốc cổ đại có những đóng góp rất lớn cho chẩn đoán và chữa bệnh. ảnh hưởng của nó lan cả sang phương Tây, xâm nhập cả vào y lý của một nền y học cổ ở châu âu. Người ta cho rằng chính lý thuyết về "bốn nguyên tố" của Pythagore và "bốn chất dịch" của Hippocrat cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt của y lý Trung Quốc cổ đại. Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, nền y học này đã có những đóng góp hết sức to lớn, với vô số bài thuốc phong phú và công hiệu. Tuy nhiên, cho đến khi chủ nghĩa tư bản châu âu bành trướng sang phương Đông để tìm thuộc địa đồng thời mang theo y học hiện đại sang châu Á - nó chỉ vẫn dừng ở mức y học cổ truyền mà chưa hề có yếu tố hiện đại nào. Nguyên nhân do chế độ phong kiến Trung Quốc tồn tại quá lâu, với quan niệm "chết mà không toàn vẹn cơ thể" là điều hết sức đau khổ, nhục nhã cho cả người chết và thân nhân họ. Do vậy, môn giải phẫu không thể ra đời. Các nhà y học chỉ có thể dùng tưởng tượng và suy luận để mô tả cấu trúc cơ thể. Tiếp sau là một chuỗi dài những suy luận và suy diễn, mặc dù ít nhiều có đối chiếu với quan sát thực tiễn nhưng không sao tránh khỏi sai lầm (vì không có thực nghiệm chứng minh). Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là những quan sát trực tiếp bằng các giác quan (dù 5
  6. rất tỉ mỉ) mà không có trang thiết bị hỗ trợ nên chỉ có thể dừng lại ở hiện tượng và sau đó lại tiếp tục dùng suy luận để mong hiểu được bản chất. 1.1.2.2. Thời văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại Muộn hơn ở Trung Quốc hàng ngàn năm. Y học cổ đại của nhiều nước châu âu cũng chịu ảnh hưởng khá rõ của Trung Quốc, nổi bật nhất là ở Hy Lạp -La Mã cổ đại. Gồm hai trường phái lớn: Trường phái Pythagore (600 năm trước công nguyên): dựa vào triết học đương thời cho rằng vạn vật do bốn nguyên tố tạo thành với bốn tính chất khác nhau: thổ (khô), khí (ẩm), hỏa (nóng), thuỷ (lạnh). Trong cơ thể, nếu bốn yếu tố đó phù hợp về tỷ lệ, tính chất và sự cân bằng sẽ tạo ra sức khoẻ; nếu ngược lại, sẽ sinh bệnh. Cách chữa bệnh cũng là điều chỉnh lại, bổ sung cái thiếu và yếu, loại bỏ cái mạnh và thừa. Trường phái Hippocrat (500 năm trước công nguyên): không chỉ thuần tuý tiếp thu và vận dụng triết học như trường phái Pythagore mà tiến bộ và cụ thể hơn, đã quan sát trực tiếp trên cơ thể sống. Hippocrat cho rằng cơ thể có bốn dịch, tồn tại theo tỷ lệ riêng, có quan hệ cân bằng với nhau để tạo ra sức khoẻ, đó là: Máu đỏ: do tim sản xuất, mang tính nóng; ông nhận xét rằng khi cơ thể lâm vào hoàn cảnh nóng (sốt) thì tim đập nhanh và mặt, da đều đỏ bừng. Đó là do tim tăng cường sản xuất máu đỏ. Dịch nhầy: không màu, do não sản xuất, thể hiện tính lạnh; xuất phát từ nhận xét khi cơ thể bị lạnh thì dịch mũi chảy ra rất nhiều, ngược lại khi niêm dịch xuất tiết nhiều cũng là lúc cơ thể nhiễm lạnh. Máu đen: do lách sản xuất, mang tính ẩm. Mật vàng: do gan sản xuất, mang tính khô. Bệnh là sự mất cân bằng về tỷ lệ và quan hệ giữa bốn dịch đó. Lý thuyết của Hippocrat có ảnh hưởng rất lớn đối với y học châu âu thời cổ đại. Bản thân Hippocrat là nhà y học cổ truyền vĩ đại, có công lao tất lớn; đã tách y học khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, chủ trương chẩn đoán bằng phát hiện triệu chứng khách quan, đề cao đạo đức y học. Thời kỳ này quan niệm về bệnh khá duy vật và biện chứng, tuy còn thô thiển. Có thể nói đây là đặc điểm dễ đạt được khi lý thuyết còn sơ sài, dừng lại ở trình độ chung chung và trừu tượng. Tuy nhiên, những quan sát trực tiếp của Hippocrat lại khá cụ thể như bốn chất dịch là có thật và cho phép kiểm chứng được. Nhờ vậy, các thế hệ sau có điều kiện kiểm tra, sửa đổi và phát triển nó, nhất là khi phương pháp thực nghiệm được áp dụng vào y học, đưa y học cổ truyền tiến lên hiện đại. Chính vì vậy, Hippocrat được thừa nhận là ông tổ của y học nói chung cả y học cổ truyền và hiện đại. 1.1.2.3. Các nền văn minh khác Cổ Ai Cập: Dựa vào thuyết Pneuma (sinh khí) cho rằng khí đem lại sinh lực cho cơ thể. Cơ thể phải thường xuyên hô hấp để đưa sinh khí vào. Bệnh là do hít phải khí xấu không trong sạch. Từ đó, các nhà y học đề ra những nguyên tắc chữa bệnh. 6
  7. Cổ Ấn Độ: Y học chính thống chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học đạo Phật cho rằng cuộc sống là một vòng luân hồi (gồm nhiều kiếp), mỗi kiếp trải qua bốn giai đoạn: sinh, lão, bệnh, tử. Như vậy, bệnh là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, các nhà y học cổ đại ấn Độ vẫn sáng tạo được rất nhiều phương thuốc công hiệu để chữa bệnh. Đạo Phật còn cho rằng con người có linh hồn vĩnh viễn tồn tại, nếu nó còn ngự trị trong thể xác tồn tại tạm thời là sống, đe doạ thoát khỏi xác là bệnh, thoát hẳn khỏi thể xác là chết. 1.1.3. Thời kỳ Trung cổ Châu âu thời kỳ Trung cổ (thế kỷ 4-12) được coi là "đêm dài" vì diễn ra suốt 8 thế kỷ dưới sự thống trị tàn bạo và hà khắc của nhà thờ, tôn giáo và chế độ phong kiến. Nguyên nhân do sự cuồng tín vào những lý thuyết mang tính tôn giáo khiến các giáo sĩ dựa vào cường quyền sẵn sàng đàn áp khốc liệt các ý kiến đối lập. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn là tầng lớp giáo sĩ và phong kiến muốn bảo vệ lâu đài đặc quyền thống trị của họ. Các quan niệm tiến bộ bị đàn áp nếu trái với những tín điều trong kinh thánh, khoa học lâm vào tình trạng trì trệ và thụt lùi. Các nhà khoa học tiến bộ bị khủng bố. Quan niệm chính thống về bệnh tỏ ra rất mê muội, không coi trọng chữa bằng thuốc, thay bằng cầu xin, y lý phải tuân theo các giáo lý của nhà thờ, mỗi vị thánh trấn giữ một bộ phận trong cơ thể, một số giáo sĩ cấm đọc sách thuốc... Những nhà y học có quan điểm tiến bộ bị ngược đãi. Tuy vậy, cuối thời Trung cổ vẫn lác đác có vài quan niệm duy vật nhưng rất sơ sài, PHracelsus (1493-1541) cho rằng lưu huỳnh có vai trò biểu hiện sức mạnh của linh hồn, trí tuệ, còn thuỷ ngân và muối có vai trò trong duy trì sức mạnh thể chất. Tuy vậy, các quan điểm này không được coi là chính thống nên ít ảnh hưởng trong giới y học. 1.1.4. Thời kỳ Phục hưng Thế kỷ 16-17, xã hội thoát khỏi thần quyền, văn học nghệ thuật và khoa học phục hưng lại nở rộ với nhiều tên tuổi như Newton, Descarte, Toricelli, Vesali, Harvey... Giải phẫu học (Vesali, 1414-1564) và Sinh lý học (Harvey, 1578-1657) ra đời đặt nền móng vững chắc để y học từ cổ truyền tiến vào thời kỳ hiện đại. Nhiều thuyết tiến bộ về y học liên tiếp xuất hiện. Tính duy vật tuy còn thô sơ, tính biện chứng vẫn còn máy móc nhưng so với thời kỳ y học cổ truyền thì đã có những bước tiến nhảy vọt về chất. Thời kỳ này có đặc điểm là: Mỗi thuyết đều cụ thể hơn trước, giảm mức độ trừu tượng, khiến có thể dùng thực nghiệm kiểm tra dễ dàng để thừa nhận hoặc bác bỏ; đồng thời có tác dụng giảm bớt tính nghệ thuật tăng thêm tính khoa học và tính chính xác trong hành nghề của người thầy thuốc. Các thuyết đều cố vận dụng các thành tựu mới nhất của các khoa học khác như co học, lý học, hóa học, sinh học, sinh lý, giải phẫu. Ví dụ: 7
  8. Thuyết cơ học (Descarte): Coi cơ thể như một cỗ máy, ví tim như cái máy bơm, mạch máu là các ống dẫn; các xương như những đòn bẩy và hệ cơ như các lực. Bệnh được ví như trục trặc của máy móc... Thuyết hóa học (Sylvius, 1614-1672): coi bệnh tật là do sự thay đổi tỷ lệ các hóa chất trong cơ thể, hoặc sự rối loạn của các phản ứng hóa học. Thuyết lực sống (Stalil, 1660-1734): Các nhà sinh học hồi đó cho rằng các sinh vật có những hoạt động sống và không bị thối rữa là nhờ trong chúng có cái gọi là lực sống. Lực sống cũng chi phối sức khoẻ và bệnh tật của cơ thể bằng lượng và chất của nó. 1.1.5. Thời kỳ thế kỷ 18 -19 Đây là thời kỳ phát triển của y học hiện đại với sự vững mạnh của hai môn Giải phẫu học và Sinh lý học. Nhiều môn y học và sinh học đã ra đời. Ở các nước phương Tây, y học cổ truyền hoàn toàn tiến sang thời y học hiện đại. Phương pháp thực nghiệm từ vật lý học được ứng dụng một cách phổ biến và có hệ thống vào y học đã mang lại rất nhiều thành tựu. Rất nhiều quan điểm về bệnh ra đời, với đặc điểm nổi bật dựa trên những kết quả đã được thực nghiệm kiểm tra và khẳng định. Một số quan niệm chủ yếu về bệnh trong thời kỳ này là: Thuyết bệnh lý tế bào: Wirchow là người sáng lập môn Giải phẫu bệnh cho rằng bệnh là do các tế bào bị tổn thương, hoặc các tế bào tuy lành mạnh nhưng thay đổi về số lượng, vị trí và thời điểm xuất hiện. Thuyết rối loạn hằng định nội môi: Claud Benard - nhà Sinh lý học thiên tài, người sáng lập môn y học thực nghiệm, tiền thân của môn Sinh lý bệnh - đã đưa thực nghiệm vào y học một cách hệ thống và sáng tạo, đã đề ra khái niệm "hằng định nội môi" cho rằng bệnh xuất hiện khi có rối loạn cân bằng này trong cơ thể. Muộn hơn, sang thế kỷ 19-20, Frend (1856-1939) và môn đệ cho rằng bệnh là do rối loạn và mất cân bằng giữa ý thức, tiềm thức, bản năng. Môn đệ Páp-lốp đã lạm dụng quá mức các công trình của ông thì cho rằng bệnh là kết quả của sự rối loạn hoạt động phản xạ của thần kinh cao cấp. Các khái niệm này đã có đóng góp nhất định trong một phạm vi nào đó, đồng thời cũng biểu hiện những thiên lệch hiểu biết về bệnh. 1.1.6. Thời kỳ hiện đại (Thế kỷ 20) Thế kỷ này là thời kỳ của điện tử, của các chất cao phân tử và cũng là thời kỳ của sinh học. Một số ngành sinh học phát triển mạnh như: di truyền học, miễn dịch học, sinh học phân tử... có ảnh hưởng lớn tới y học, do đó cũng có nhiều khái niệm khác nhau về bệnh. Riêng ở Nga, tiếp thu các công trình của các nhà khoa học như Sechenov, Botkin, Páp-lốp đã đề ra học thuyết thần kinh của bệnh. Theo thuyết này nội môi và ngoại cảnh là một khối thống nhất, trong đó hoạt động của thần kinh cao cấp đóng vai trò quyết định đối với khả năng thích ứng của cơ thể (tức nội môi) với những thay đổi bên ngoài. Sự kết hợp chặt chẽ giữa vỏ não và những đoạn dưới của hệ thần kinh, giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai của người, giữa thần kinh và 8
  9. nội tiết có tác động điều hoà chính xác và kịp thời mọi hoạt động của cơ thể, đảm bảo mối tương quan chính xác giữa nội môi và ngoại cảnh. Bệnh tật là do rối loạn hoạt động phản xạ của hệ thần kinh, rối loạn tương quan giữa các khu vực khác nhau của hệ thần kinh. Páp-lốp chỉ rõ: "trong người bệnh có hai quá trình tồn tại song song: quá trình bảo vệ sinh lý và quá trình huỷ hoại bệnh lý". Qua các lý luận trên các nhà khoa học Nga đã nhìn nhận vấn đề bệnh tật một cách toàn diện hơn. Tuy nhiên vẫn chưa giải thích một cách hoàn hảo khái niệm về bệnh. Trong thời kỳ này, ngành hóa chất, nhất là sinh hóa phát triển mạnh mẽ, người ta đã nhận thấy tính chất tương đối ổn định của các thành phần hóa học trong cơ thể. Dựa vào đó Hens Selye đưa ra ý kiến "Bệnh là sự rối loạn các khả năng thích nghi". Nghiên cứu các tác động mạnh của ngoại cảnh (stress) thì Selye cho rằng bao giờ cơ thể cũng đáp lại bằng những thay đổi của hoạt động nội tiết và thần kinh. Theo Selye sự mất cân bằng và hiệp đồng giữa hạ não và thượng thận thì sinh ra bệnh gọi là bệnh thích nghi. Theo tiến hóa luận khoa học thì mọi sinh vật đều bắt nguồn từ một đơn bào, sau đó phức tạp dần thành cơ quan, tổ chức khác nhau, có các hoạt động riêng nhưng nhằm mục đích chung là duy trì sự sống. Do đó, sự ngăn cách giữa các bộ phận (tế bào, cơ quan), giữa cơ thể trong cộng đồng, giữa cơ thể với thiên nhiên chỉ các tính chất tương đối, mà về thực chất có sự liên quan trao đổi mật thiết qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Giữa ngoại cảnh và cơ thể có sự thống nhất và có sự mâu thuẫn, ngoại cảnh thì luôn luôn thay đổi và cơ thể nhờ khả năng thích nghi của mình để mà duy trì hằng định nội môi một cách tương đối, để duy trì sự sống. 1.2. Quan niệm về bệnh hiện nay 1.2.1. Hiểu về bệnh qua quan niệm sức khoẻ Tổ chức Y tế thế giới (WHO - 1946) đưa ra định nghĩa: "Sức khoẻ là một tình trạng thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tật". Đây là định nghĩa mang tính mục tiêu xã hội, để phấn đâu, được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên dưới góc độ y học, cần có những định nghĩa phù hợp và chặt chẽ hơn. Các nhà y học cho rằng: "Sức khoẻ chức năng, cũng như khả năng điều hoà với sự thay đổi của hoàn cảnh". là tình trạng lành lặn của cơ thể về cấu trúc, giữ cân bằng nội môi, phù hợp và thích nghi 1.2.2. Những yếu tố để định nghĩa về bệnh Đa số các tác giả đều đưa vào khái niệm bệnh những yếu tố sau: Sự tổn thương, lệch lạc, rối loạn trong câu trúc và chức năng (từ mức phân tử, tế bào, mô, cơ quan đến mức toàn cơ thể). , Do những nguyên nhân cụ thể, có hại; đã tìm ra hay chưa tìm ra. Cơ thể có quá trình phản ứng nhằm loại trừ các tác nhân gây bệnh, lập lại cân bằng, sửa chữa tổn thương. Trong cơ thể bị bệnh vẫn có sự duy trì cân bằng nào đó, mặc dù nó đã lệch ra khỏi giới hạn sinh lý. Hậu quả của bệnh tuỳ thuộc vào tương quan giữa quá trình rối loạn, tổn thương và quá trình phục hồi, sửa chữa. 9
  10. Bệnh làm giảm khả năng thích nghi với ngoại cảnh. Với người, có tác giả đề nghị thêm: bệnh làm giảm khả năng lao động và khả năng hoà nhập xã hội. 1.2.3. Một số định nghĩa về bệnh "Bệnh là tình trạng tổn thương hoặc rối loạn về cấu trúc và chức năng, dẫn tới mất cân bằng nội môi và giảm khả năng thích nghi với ngoại cảnh". "Bệnh là sử rối loạn các hoạt động sống của cơ thể và mối tương quan với ngoại cảnh, dẫn đến giảm khả năng lao động". "Bệnh là sự thay đổi về lượng và chất các hoạt động sống của cơ thể do tổn thương cấu trúc và rối loạn chức năng, gây ra do tác hại từ môi trường hoặc từ bên trong cơ thể". "Bệnh là sự rối loạn đời sống bình thường của cơ thể sinh vật, do tác động của các yếu tố gây bệnh khác nhau, gây ra một quá trình đấu tranh phức tạp giữa hiện tượng tổn thương bệnh lý và hiện tượng phòng vệ sinh lý, làm hạn chế khả năng thích nghi của cơ thể đối với ngoại cảnh, làm cho khả năng sản xuất và giá trị kinh tế bị giảm sút". “Bệnh là một điều kiện mà ở đó một cá thể chỉ ra sự sai khác về giải phẫu, hóa học, sinh lý so với bình thường". Định nghĩa "thế nào là một bệnh" hiện nay đang được sử dụng phổ biến là: "Bệnh là bất kỳ sự sai lệch hoặc tổn thương nào về cấu trúc và chức năng của bất kỳ bộ phận, cơ quan, hệ thống nào của cơ thể biểu hiện bằng các triệu chứng đặc trưng giúp cho thầy thuốc có thể chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt, mặc dù nhiều khi ta chưa rõ về nguyên nhân, về bệnh học và tiên lượng" (Từ điển y học Dorlands, 2000). 2. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH NGUYÊN HỌC 2.1. Định nghĩa Bệnh nguyên học (Etiology) hay nguyên nhân bệnh học là môn học nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh, bản chất của chúng, cơ chế mà chúng tác động, đồng thời nghiên cứu các điều kiện thuận lợi hay không thuận lợi để nguyên nhân trên phát huy tác dụng. Việc nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh có ý nghĩa rất to lớn trong lý luận cũng như trong thực hành. Về lý luận nó biểu hiện một lập trường rõ rệt; về thực hành nó giúp cho việc phòng trị có hiệu quả. Páp-lốp đã nói: "Vấn đề phát hiện ra nguyên nhân gây bệnh là một vấn đề cơ bản của y học và chỉ khi nào biết rõ những nguyên nhân gây ra bệnh thì mới tiến hành điều trị được chính xác, hơn nữa mới ngăn chặn chúng đột nhập vào cơ thể và điều này là quan trọng bậc nhất". 2.2. Một số quan niệm sai lầm về bệnh nguyên học Để có được những quan điểm và khái niệm khoa học đúng đắn như hiện nay, bệnh nguyên học đã trải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài và đấu tranh gay gắt 10
  11. giữa các học thuyết khác nhau. Trong đó có một số học thuyết sai lầm về nguyên nhân bệnh học như: Thuyết "nguyên nhân đơn thuần" (Pure Etiology) cho rằng vi khuẩn là nguyên nhân của mọi bệnh, hễ có vi khuẩn là có bệnh (tức là mọi bệnh đều do một nguyên nhân và chỉ khi nào có nguyên nhân thì mới có bệnh). Với thái độ cực đoan, quá nhấn mạnh đến vai trò của một nguyên nhân gây ra bệnh là vi khuẩn, thuyết này đã bỏ qua vai trò và ảnh hưởng của những điều kiện khác thuận lợi cho sự phát sinh của bệnh, cũng không chú ý đến cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại sự đột nhập của các yếu tố gây bệnh và nó cũng không xét đến các ảnh hưởng khác trong bệnh nguyên học. Thực tế cho thấy rằng, trong nhiều bệnh không phát hiện thấy vi khuẩn như bệnh cao huyết áp, các bệnh đo tác động của các yếu tố lý, hóa học gây nên và ngược lại, trong nhiều trường hợp có vi khuẩn nhưng lại không thấy bệnh xuất hiện, ví dụ: có tới 80-90% gà mang vi khuẩn PHsteurella ở trong đường hô hấp trên mà không gây bệnh tụ huyết trùng hoặc có tới gần 100% vi khuẩn E, còn sống trong ruột già của động vật và người mà không gây bệnh. Một quan niệm sai lầm, phiến diện về bệnh nguyên học như trên, chỉ chú ý đến một nguyên nhân gây bệnh, tất nhiên cũng sẽ dẫn đến sai lầm trong công tác phòng bệnh và điều trị bệnh. Như ta đã biết việc chống lại yếu tố gây bệnh, nhất là vi khuẩn một cách tích cực cũng mới chỉ là một mặt trong công tác phòng bệnh và điều trị. Còn có những mặt khác cũng không kém phần quan trọng là tạo ra những điều kiện, những hoàn cảnh để yếu tố gây bệnh không phát huy được tác dụng như tăng cường sức đề kháng của cơ thể, v.v… Thuyết "điều kiện đơn thuần" (Pure Condition) cho rằng bệnh tật là do kết quả tác động tổng hợp của một số điều kiện và các điều kiện đó có thể gây bệnh mà không cán có nguyên nhân đặc hiệu. Quan niệm này là hoàn toàn sai lầm, bởi vì từng điều kiện tách riêng ra, cũng như nhiều điều kiện kết hợp lại không thể quyết định được sự phát sinh ra bệnh và tính đặc hiệu của bệnh, ví dụ: nếu không có vi khuẩn lao thì không có bệnh lao. Các điều kiện chỉ có tác dụng tạo nên cơ sở dễ dàng cho bệnh phát sinh khi có nguyên nhân gây bệnh tác động. Học thuyết này mang tính chất tiêu cực: cùng một lúc đưa ra nhiều điều kiện đòi hỏi phải thoả mãn thì mới có thể giải quyết được vấn đề bệnh tật. Vì vậy nó gây trở ngại cho công tác phòng bệnh và trị bệnh. Nó đã không phân biệt nguyên nhân và điều kiện và cũng không chỉ rõ được vai trò của mỗi yếu tố trong quá trình gây bệnh. Thuyết "thể tạng" (Constitution) cho rằng nguyên nhân gây bệnh không phải từ bên ngoài tới mà chính là do đặc điểm của cơ thể, do thể tạng của con vật mà ra. Đây là quan niệm của thuyết di truyền máy móc, nó không kể đến các yếu tố ngoại cảnh tác động đến quá trình phát triển và di truyền của sinh vật. Như vậy nó chống lại việc vệ sinh phòng dịch, bảo vệ sức khoẻ cho gia súc ngăn ngừa bệnh tật. 2.3. Quan niệm khoa học về bệnh nguyên học 11
  12. Một số quan niệm đúng đắn về bệnh nguyên học là phải dựa vào phương pháp duy vật biện chứng để nêu lên được mối quan hệ đúng đắn giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh. 2.3.1. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh Nguyên nhân có vai trò quyết định và điều kiện thì phát huy vai trò tác dụng của nguyên nhân. Nguyên nhân gây bệnh là yếu tố có hại, khi tác động lên cơ thể sẽ quyết định bệnh phát sinh và các đặc điểm của bệnh, ví dụ: Bốn bệnh đỏ của lợn (là bệnh phó thương hàn, tụ huyết trùng, đóng dấu, dịch tả) do bốn nguyên nhân khác nhau gây ra và phát sinh ra bệnh có biểu hiện riêng. Những yếu tố gây bệnh đó khi vào cơ thể phải đạt cường độ nhất định (độc lực, liều lượng cao...). Đặc điểm của bệnh chính là do nguyên nhân quyết định và chính dựa vào những đặc điểm của bệnh mà ta có thể khám phá ra nguyên nhân để từ đó mà xác định phương pháp cần thiết để điều trị. Song nguyên nhân gây bệnh chỉ có thể phát huy tác dụng trong những điều kiện cơ thể nhất định, ví dụ: Bệnh tụ huyết trùng gà phát triển dưới tác dụng của vi khuẩn PHsteurella nhưng phải ở cơ thể yếu, dinh dưỡng kém và đặc biệt là khi thời tiết thay đổi đột ngột. Ngược lại, khi có đầy đủ các điều kiện thuận lợi nhưng không có nguyên nhân thì bệnh không thể phát sinh và xảy ra được, nó chỉ phát sinh ra bệnh khác như suy dinh dưỡng, còi xương. Nguyên nhân và những điều kiện nhất định gây nên một bệnh được gọi chúng là những yếu tố bệnh nguyên. Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân có thể trở thành điều kiện, nghĩa là trong những hoàn cảnh nào đó, một số yếu tố có thể là nguyên nhân nhưng trong hoàn cảnh khác nó có thể trở thành điều kiện. Ví dụ: nuôi dưỡng kém là nguyên nhân của suy dinh dưỡng, thiếu vitamin là nguyên nhân của bệnh thiếu vitamin, song có thể lại là điều kiện cho các bệnh nhiễm khuẩn phát triển. Hoặc bệnh ghép tụ huyết trùng-dịch tả lợn, dịch tả-tụ huyết trùng lợn. Ví dụ: Khi khẩu phần ăn thiếu protein sẽ gây nên phù do protein trong huyết thanh giảm mà áp lực keo dựa vào nồng độ protein huyết thanh. Nếu protein huyết thanh giảm làm cho áp lực keo trong máu giảm từ đó làm cho nước bị đẩy từ động mạch ra ngoài gian bào gây ra hiện tượng phù (bệnh thận), hoặc khi thiếu vitamin B1 thì cũng gây ra phù. 2.3.2. Quy luật nhân quả trong bệnh nguyên học Mỗi bệnh (tức là hậu quả) đều có nguyên nhân nhất định gây ra và nguyên nhân bao giờ cũng có trước hậu quả. Nguyên nhân gây bệnh dù từ ngoài vào hay từ trong ra đều tác động lên cơ thể sinh ra hậu quả là bệnh. Bất cứ một bệnh nào cũng đều có nguyên nhân nhất định gây nên. Mặc dù hiện nay rất nhiều bệnh chưa tìm được nguyên nhân nhưng ai cũng tin rằng bất cứ bệnh nào cũng phải có nguyên nhân. Có nguyên nhân nhưng không nhất thiết phát sinh ra hậu quả (tức bệnh) nếu không có điều kiện thuận lợi. Như trên ta đã nói về mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện, trong đó điều kiện phát huy tác dụng quyết định của nguyên nhân. Song cũng cần phải hiểu 12
  13. rõ rằng, trong sinh học nói chung cũng như trong y học nói riêng, vì tính chất phức tạp của hiện tượng sống, phản ứng của sinh vật còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trình độ khoa học, kỹ thuật hiện nay còn chưa phát hiện và kiểm soát được. Cho nên đáp ứng của sinh vật đối với yếu tố gây bệnh có thể thay đổi tuỳ theo điều kiện bên ngoài cũng như bên trong. Điều kiện bên ngoài thì muôn hình muôn vẻ, còn điều kiện bên trong thì vô cùng phức tạp cho nên tính phản ứng thường thay đổi theo từng cơ thể. Do vậy, cùng một nguyên nhân trong những điều kiện nhất định thì tác động gây nên bệnh nhưng ở những điều kiện khác thì lại không gây ra bệnh. Cùng một nguyên nhân, có thể có những hậu quả khác nhau tuỳ theo điều kiện, ví dụ: bệnh cúm ở người, khỉ điều kiện sống như nhau nhưng tuỳ thuộc vào từng cá thể mà có người bị nặng, có người bị nhẹ, có người không mắc bệnh. Cùng một nguyên nhân tuỳ nơi tác động và tuỳ theo đáp ứng của cơ thể mà hậu quả (là bệnh) có thể khác nhau, ví dụ: Tụ cầu khuẩn có thể gây nên áp xe khi vào da, gây nên ỉa lỏng khi vào ruột và gây nhiễm khuẩn huyết khi vào máu. Một hậu quả (triệu chứng bệnh) có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như viêm, sốt là những quá trình bệnh lý điển hình, trong đó các triệu chứng rất dễ dàng được xác định song lại do rất nhiều nguyên nhân gây nên: cảm lạnh cũng dẫn đến sốt; chấn thương cũng gây nên sốt. Chính đây là khó khăn thường gặp khi đi từ những triệu chứng tới xác định được bệnh và nguyên nhân gây bệnh, đời hỏi phải có phương pháp suy luận đúng đắn và logic để phân biệt giữa hiện tượng và bản chất. Như vậy một quan niệm khoa học về bệnh nguyên học phải có tính chất toàn diện, nhìn nhận cả vai trò của nguyên nhân, điều kiện cũng như thề tạng. Song mỗi một yếu tố có tầm quan trọng và vị trí nhất định trong quá trình gây bệnh. Ngăn ngừa nguyên nhân, hạn chế tác dụng của điều kiện gây bệnh, tăng cường hoạt động tết của thể tạng, đó là những mặt hoạt động tích cực, là điều kiện quan trọng trong công tác điều trị và phòng bệnh. Điều trị không chỉ tìm ra được nguyên nhân mà còn phải thấy được cả những điều kiện trong đó bệnh cảnh diễn ra. 2.4. Phân loại các yếu tố bệnh nguyên 2.4.1. Yếu tố bệnh nguyên bên ngoài 2.4.1.1. Yếu tố cơ học Chủ yếu là chấn thương cho các mô bào và các cơ quan, hệ thống của cơ thể. Hậu quả tại chỗ bị tổn thương, mất máu, nhiễm khuẩn thứ phát...và hậu quả toàn thân là cơ thể bị sốc. 2.4.1.2. Yếu tố lý học - Nhiệt độ: Nếu nhiệt độ quá 500C có thể gây biến tính các protein và men trong tế bào, ảnh hưởng xấu tới chức năng hoặc gây chết tế bào. Nếu nhiệt độ quá cao: gây viêm, bỏng hoặc cháy tại chỗ tiếp xúc; Nếu nhiệt độ đủ cao và tác đụng lên toàn thân: gây nhiễm nóng; 13
  14. Nhiệt độ quá lạnh gây tê cóng, hoại tử tại chỗ tiếp xúc hoặc gây nhiễm lạnh khi tác động lên toàn thân. - Tia phóng xạ: Gây huỷ hoại các men tế bào, tác hại tương tự nhiệt độ trên 500C nhưng chủ yếu là tác hại lên ADN, nhất là khi tế bào đang phân chia (như tế bào non ở tuỷ xương). Cơ chế tác động: tia.xạ với năng lượng mang theo chúng tạo ra các sản phẩm ton hóa và các gốc tự do, gây rối loạn chuyển hóa cho tế bào, kể cả gây chết tế bào. - Dòng điện: tuỳ thuộc diện tiếp xúc rộng hay hẹp và điện trở thấp hay cao. Tuỳ thuộc vào điện áp: điện áp càng cao thì càng nguy hiểm, nhất là từ 220V trở lên. Tuỳ thuộc vào dòng điện: dòng một chiều tác dụng rất nhanh; dòng xoay chiều: tần số 25-50 rất nguy hiểm. Có thể gây bệnh tại chỗ (bỏng) hay toàn thân. Tuỳ thuộc cơ quan (nếu dòng điện qua tim, não gây nguy hiểm; qua cơ gây co cứng). Tuỳ thuộc vào khả năng điện ly của các dịch trong cơ thể. 2.4.1.3. Yếu tố hóa học và độc chất Tuỳ bản chất hóa học và liều lượng của hóa chất mà có thể gây bệnh tại chỗ (nơi tiếp xúc) hay toàn thân (khi xâm nhập vào cơ thể) với các cơ chế rất khác nhau. Hai cách tác động chủ yếu là gây tổn thương, phá huỷ (hoại tử, tan huyết...), hoặc gây rối loạn chuyển hóa, suy giảm hay kích thích quá mức chức năng cơ quan (ngộ độc, suy thận, suy gan, hôn mê, co giật...). Các axit mạnh, kiềm mạnh và một số chất khác có thể gây bỏng, cháy, hoại tử da và niêm mạc khi tiếp xúc. Nhiều chất có tác dụng huỷ men trong tế bào, hoặc gây ngộ độc toàn thân do làm rối loạn chuyển hóa (với các cơ quan đích khác nhau nhất là các cơ quan tích luỹ và đào thải chúng như gan, thận) với mức độ, hậu quả khác nhau. Các chất hóa học bao gồm: Chất vô cơ (chì, hợp chất thuỷ ngân, arsenic...); Các chất hữu cơ (benzen, phenylhydrazin, một số dược chất nếu quá liều...); + Một số sản phẩm của động vật hay thực vật (nọc rắn, nọc bò cạp, chất độc trong mật cá trắm, gan cóc, trong một số nấm độc, lá ngón, lá han...). 2.4.1.4. Yếu tố sinh học Bao gồm các loại sinh vật, vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, côn trùng. Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh mà người ta xếp vào hai loại bệnh đó là: Bệnh truyền nhiễm Bệnh ký sinh trùng 2.4.2. Yếu tố bệnh nguyên bên trong 14
  15. 2.4.2.1. Yếu tố di truyền Đó là những biến đổi bệnh lý thông qua cơ chế di truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau qua tế bào sinh dục mang đến bệnh. Qua nghiên cứu người ta đã thấy, một số bệnh phát sinh là do thiếu một số tiền chỉ huy tổng hợp nên các loại men, mà thiếu các men ấy sẽ phát sinh ra bệnh. Ví dụ: Bệnh phenylxeton niệu là do thiếu men pHrahyđroxylaza nên phenylalanin không chuyển thành tyrôxin được mà phân huỷ thành phenylxeton và được đào thải ra ngoài qua nước tiểu. Yếu tố di truyền có thể cũng là điều kiện để cho bệnh phát sinh. một số con giả súc cái ấy không biểu hiện ra bệnh nhưng mang gen lặn trong nhiễm sắc thể. Ví dụ trên lặn mang bệnh có ký hiệu là x+, đen không bệnh ký hiệu là x, con cái có ký. hiệu là Xx+, con đực không có bệnh có ký hiệu là XY. Ta có sơ đồ sau: Như vậy 1/2 số con đực (x+Y) sinh ra mắc bệnh 1/2 số con cái (x+X) sinh ra mang gen bệnh Nếu cả con đực và cái mang đến bệnh thì khi chúng giao phối ta có sơ đồ sau: Như vậy ta thấy: 1/2 số con đực sinh ra mắc bệnh (x+Y) 112 số con cái sinh ra mắc bệnh (x+x+) 1/2 số con cái sinh ra mang đến bệnh (x+X) Tóm lại chỉ có 1/4 số con sinh ra là khoẻ mạnh và 3/4 số con khác là mắc bệnh hoặc mang đến bệnh. Lưu ý: Có một số trường hợp trước không bị bệnh nhưng do bị đột biến trên sau khi bị chất phóng xạ hoặc bị nhiễm độc hóa học đã trở thành người mang đến bệnh và di truyền được. 2.4.2.2. Yếu tố thể tạng Thể tạng có thể định nghĩa như là tổng hợp các đặc điểm chức năng và hình thái của cơ thệ. Những đặc điểm này khá bền vững, được hình thành trên cơ sở tính di truyền và quyết định những.phản ứng của cơ thể đối với tác nhân bên ngoài trong quá trình sống. Như vậy thể tạng có tính chất rất phức tạp trong đó yếu tố di truyền đóng vai trò chủ chốt, quyết định. Trước một yếu tố gây bệnh, những cơ thể có thể tạng khác nhau sẽ có đáp ứng khác nhau hay nói cách khác thể tạng là cơ sở vật chất của tính phản ứng và chịu ảnh hưởng của một số yếu tố nhất định như chủng loại, giới tính, tuổi tác, hoạt động của hệ thần kinh, nội tiết và môi trường mà trong đó con vật sinh sống. Cho nên thay đổi môi trường sống có thể làm thay đổi phản ứng tính của cơ thể và do đó làm thay đổi phần nào thể tạng. Ví dụ: Bệnh chậm thể tạng giống như bệnh Eczema do cơ thể thích hợp với một loại nấm nào đó, cho nên không thể chữa được nhưng không lây lan sang người khác, mà nó được di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. 3. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH SINH HỌC 15
  16. 3.1. Định nghĩa Bệnh sinh học hay sinh bệnh học (Pathogenesis) là môn khoa học nghiên cứu những quy luật cơ bản của sự phát sinh, phát triển, diễn biến và kết thúc của một quá trình bệnh lý hay cơ chế sinh bệnh. Đối với mỗi một bệnh như ta đã biết đều có một nguyên nhân nhất định tác động và sau đó là sự phát sinh diễn biến của bệnh. Vì vậy nắm được cơ chế sinh bệnh là yêu cầu cơ bản trong công tác phòng trị bệnh, trên cơ sở đó có thể ngăn chặn sớm được những diễn biến xấu của bệnh, hạn chế được tác hại, đồng thời xác định những biện pháp tích cực để bảo vệ đàn vật nuôi. 3.2. Ảnh hưởng của bệnh nguyên tới quá trình bệnh sinh Cùng một yếu tố bệnh nguyên liều lượng, thời gian tác dụng và vị trí nhưng bệnh sinh có thể thay đổi tuỳ theo cường độ, trí tác dụng của bệnh nguyên. 3.2.1. Ảnh hưởng của cường độ và đều lượng bệnh nguyên Có rất nhiều bằng chứng và ví dụ trong thực tiễn nói lên hai yếu tố này của bệnh nguyên ảnh hưởng lớn tới quá trình bệnh sinh. Cùng tác động vào một vị trí trên cơ thể nhưng cường độ dòng điện hoặc các tác nhân vật lý khác như nhiệt độ, tia xạ, ánh sáng, lực cơ học... mạnh hay yếu sẽ làm bệnh diễn ra rất khác nhau. Cùng một chất độc, cùng một đường xâm nhập nhưng liều lượng khác nhau (lớn hay nhỏ) sẽ gây ra những bệnh có diễn biến khác nhau. Cùng một loại vi khuẩn, nếu độc lực hay số lượng khác nhau cũng làm bệnh sinh diễn ra không giống nhau. Các tác nhân hóa học và sinh học khác cũng có ảnh hưởng tương tự. Những yếu tố vốn không gây bệnh lại có thể gây bệnh nếu cường độ và số lượng đạt một ngưỡng nào đó. âm thanh có cường độ cao, hoặc không khí có áp lực quá ngưỡng đều trở thành những yếu tố bệnh nguyên rất hiệu quả. 3.2.2. Thời gian tác dụng của bệnh nguyên Những yếu tố bệnh nguyên có cường độ cao hay liều lượng lớn thường chỉ cần thời gian ngắn cũng đủ làm bệnh phát sinh. Nếu cường độ thấp hơn hoặc liều lượng nhỏ hơn thì thường cần thời gian tác động dài hơn. Nhưng điều đáng lưu ý là diễn biến của bệnh cũng thường thay đổi. Ví dụ: khi ăn lạc bị mốc trong thời gian dài có thể dẫn tới mắc bệnh ung thư; tiếng ồn dù cường độ không cao nhưng nếu cứ tác động liên tục ngày đêm lên cơ quan thính giác sẽ gây bệnh và diễn biến của bệnh khác hẳn trường hợp cơ thể chịu một âm thanh cường độ quá cao (tiếng nổ). Tương tự như vậy, tác dụng lặp đi lặp lại nhiều lần của một yếu tố bệnh nguyên dù chưa đạt ngưỡng cũng có thể sinh bệnh (lượn, mất ngủ). 3.2.3. Vị trí tác dụng của bệnh nguyên Mỗi cơ quan của cơ thể phản ứng khác nhau với cùng một bệnh nguyên. Mặt khác, tầm quan trọng sinh học của mỗi cơ quan cũng không giống nhau. Do vậy, vị trí tác động của bệnh nguyên trên cơ thể ảnh hưởng rất rõ tới bệnh sinh. 16
  17. Bệnh cảnh, diễn biến của bệnh lao rất khác nhau, tuỳ theo đó là lao phổi, lao xương, lao thận hay lao màng não tuy bệnh nguyên là một. Bệnh nguyên dù cùng một cường độ và liều lượng nhưng gây được bệnh hay không, nặng hay nhẹ, cấp tính hay mãn tính còn tuỳ thuộc vị trí tác động. ánh sáng chói chỉ gây được bệnh nếu chiếu vào võng mạc mà không phải vào đâu khác. Chấn thương vào đầu có bệnh cảnh khác hẳn vào cơ bắp hay vào xương. Dòng điện chạy qua tim hoặc qua não gây hậu quả khác hẳn qua các chi. Ví dụ: Bệnh lậu ở người: khi cầu khuẩn lậu tác dụng ở đường sinh dục gây viêm mãn tính, còn khi cầu khuẩn lậu ở giác mạc mắt gây viêm cấp tính. 3.2.4. Đường lây lan của nguyên nhân bệnh trong cơ thể Đường lây lan thường phụ thuộc vào tính chất của nguyên nhân bệnh và vị trí sinh bệnh. Thông thường bệnh nguyên lan theo ba đường chính: , Lan theo tổ chức: từ nơi phát bệnh lan rộng ra vùng lân cận tiếp giáp. Lan theo dịch thể: thường các yếu tố bệnh nguyên là độc tố, vi khuẩn, vi rút lan theo dịch lâm ba, máu đến toàn thân. Lan theo thần kinh: các yếu tố bệnh nguyên còn là những xung động đau. Các loại vi rút như vi rút bệnh dại, độc tố uốn ván lan theo thần kinh. Trong thực tế khi bệnh phát sinh thì yếu tố bệnh nguyên có thể lan theo nhiều đường chứ không phải lan theo một đường riêng biệt, vì trong kết cấu tổ chức của cơ thể sinh vật nơi nào cũng có mặt các hệ thống mạch quản, thần kinh và mạch lâm ba. Vì vậy, chúng ta phải xem xét những bệnh nào lan theo đường nào là chủ yếu để biết và kịp thời ngăn chặn. 3.3. Quan hệ giữa cục bộ và toàn thân trong quá trình bệnh sinh Theo thuyết thần kinh của Páp-lốp thì cơ thể là một khối thống nhất, các cơ quan, mô bào đều có sự liên hệ chặt chẽ với nhau và chịu sự điều tiết chung của thần kinh. Bất cứ một cơ thể nào, hoạt động nào cũng đều chịu sự điều tiết chung của vỏ não. Vì vậy các quá trình bệnh lý dù xảy ra ở bộ phận cục bộ nào cũng phụ thuộc vào trạng thái chung của cơ thể và ngược lại thông qua cung phản xạ nó ảnh hưởng tới toàn thân. 3.3.1. Mối Liên hệ giữa toàn thân và cục bộ Toàn thân khoẻ mạnh thì sức đề kháng tại chỗ cũng sẽ tốt hơn, do đó yếu tố gây bệnh khó xâm nhập hoặc nếu có vào được thì cũng nhanh chóng bị tiêu diệt hoặc bị đào thải ra ngoài. Ngoài ra, ta thấy tuổi có liên quan đến sức đề kháng. Tuổi trưởng thành cơ thể khoẻ mạnh, vết thương mau lành, phản ứng nhanh, tuổi già dễ mắc bệnh, phản ứng kém, vết thương lâu lành. 3.3.2. Mối liên hệ giữa cục bộ và toàn thân Bất kỳ một tổn thương nào (viêm nhiễm) ở cục bộ cũng đều ảnh hưởng tới toàn thân, đầu tiên thấy đau, cơ thể mệt mỏi, các chất độc tại ổ viêm sẽ ngấm vào cơ thể gây trạng thái nhiễm độc. Thành phần của máu thay đổi, nếu bạch cầu đa nhân trung tính mà tăng lên thì nhất định sẽ bị viêm nhiễm ở một nơi nào đó và gây sốt toàn thân, đồng thời làm thay đổi hoạt động của hệ thống nước tiểu. Như vậy, 17
  18. khi cục bộ bị tổn thương thì tất cả các cơ quan khác tăng cường hoạt động, cơ quan hô hấp thay đổi, cơ quan tiêu hóa giảm, tiết sữa giảm vì tất cả tập trung lực lượng vào đấu tranh bảo vệ cơ thể. Vì vậy có thể nói bất kỳ một quá trình bệnh lý nào cũng biểu hiện tại chỗ của tình trạng bệnh lý toàn thân. Ý nghĩa: Nắm được điều này giúp ta chăm sóc hộ lý tốt hơn. 3.4. Vòng bệnh lý Bệnh diễn ra theo trình tự gồm các bước (gọi là các khâu) nối tiếp nhau theo cơ chế phản xạ, khâu trước là tiền đề tạo điều kiện cho khâu sau hình thành và phát triển, cho tới khi bệnh kết thúc. Nhiều trường hợp, một khâu nào đó ở phía sau lại trở thành tiền đề (nuôi dưỡng) cho một khâu trước đó: từ đó hình thành một vòng bệnh lý, với đặc điểm là có khả năng tự duy trì. Vòng này có thể diễn biến cấp tính hoặc kéo dài. Trong đa số trường hợp, vòng bệnh lý làm cho quá trình bệnh sinh ngày càng nặng hơn, có thể quan sát dễ dàng qua các biểu hiện lâm sàng. Thường thì vòng bệnh lý không tự mất đi mà cần có sự can thiệp. Khi phát hiện vòng bệnh lý cần tìm cách cắt đứt nhiều khâu, nhất là khâu chính. Sau đây là một vài ví dụ: Ở bệnh lợn đóng dấu mãn tính, vi khuẩn lợn đóng dấu gây viêm nội tâm mạc, loét sùi van tim, do đó ảnh hưởng tới tuần hoàn chung gây thiếu oxy. Từ thiếu oxy gây vrối loạn chuyển hóa rồi tác động trở lại gây phì đại tim dẫn đến suy tim. Khi suy tim dẫn đến thiếu oxy và lặp lại thành vòng kín. Khi đột ngột mất đi 20% lượng máu, cơ thể sẽ huy động một loạt biện pháp do hệ giao cảm và hệ tim mạch chi phối nhằm bù đắp một phần khối lượng máu, duy trì huyết áp ở mức cần thiết tối thiểu, đảm bảo cơ bản về lưu lượng tuần hoàn và nhu cầu oxy cho các cơ quan quan trọng nhất. Cơ thể thích nghi dần, vòng bệnh lý sẽ không hình thành trong thời gian chờ đợi tuỷ xương sản xuất đủ lượng hồng cầu cần thiết. Nếu mất tới 40% lượng máu, các biện pháp trên chỉ giúp cơ thể thích nghi được một thời gian ngắn và mẫu thuẫn sẽ phát sinh, hệ tim mạch bị quá tải chức năng lại kém được nuôi dưỡng. Có thể thấy huyết áp tụt dần, mạch nhanh và yếu dần, kèm theo tình trạng lơ mơ, da lạnh, thể trạng xấu dần đi... Để ra khỏi tình trạng trên, hệ giao cảm và tuần hoàn lại càng phải tăng công suất. Như vậy vòng bệnh lý đã hình thành. Ý nghĩa: Nắm được sự tiến triển của bệnh, ta có thể phát hiện được khâu chính trong quá trình sinh bệnh và có tác động cần thiết ngăn cản diễn biến xấu của vòng bệnh lý. Qua đây thấy rằng khâu chăm sóc hộ lý nhằm cắt được vòng bệnh lý đi là khâu vô cùng quan trọng. 3.5. Các hiện tượng bệnh lý Trong một cơ thể bị bệnh ta có thể nhìn thấy được nhiều hiện tượng bệnh lý khác nhau. Chúng ta cần phải phân biệt và xác định những hiện tượng đó một cách chính xác. Các hiện tượng đó là: 18
  19. 3.5.1. Phản ứng bệnh lý Phản ứng bệnh lý là phản ứng của tế bào, của tổ chức hay cơ quan đối với tác nhân gây bệnh với cường độ và chất lượng vượt ra ngoài giới hạn bình thường. Ví dụ: Khi bị lạnh, cơ thể phản ứng lại bằng cách co mạch giảm thải nhiệt, tăng sản nhiệt trong cơ thể, đó là phản ứng sinh lý. Nếu co mạch quá mức dẫn đến thiếu máu từ đó dẫn đến hoại tử cơ. Nhưng nếu trung tâm điều hoà nhiệt bị rối loạn dẫn đến hoạt động quá mức của cơ quan sinh nhiệt thì sinh ra sốt, còn trong một số bệnh khác thì biểu hiện ho, nôn... ve thực chất đó là phản ứng bảo vệ sinh lý nhưng nếu quá mức thì sẽ gây bệnh. 3.5.2. Quá trình bệnh lý Quá trình bệnh lý là một phức hợp gồm nhiều phản ứng bệnh lý. Ví dụ: Trong quá trình viêm người ta thấy có phản ứng vận mạch (co, giãn mạch), phản ứng tăng sinh tế bào, phản ứng của thần kinh... Trong quá trình sốt ngoài phản ứng tăng sản nhiệt còn có nhiều phản ứng nhằm giảm thải nhiệt. Quan niệm về quá trình bệnh lý có tính chất động, nó bao gồm cả quá trình diễn biến của bệnh. 3.5.3. Trạng thái bệnh lý Là một quá trình bệnh lý biến chuyển chậm, kéo dài thành cố tật. Ví dụ: Những người bị liệt, những người bị viêm khớp sau khi khỏi để lại vết viêm làm cho khớp không cử động được nữa hoặc là viêm vú làm cho tuyến vú teo đi không cho sữa. 3.6. Các giai đoạn phát triển của bệnh Trong quá trình phát triển của bệnh, cơ thể có những biến đổi khác với khi ở trạng thái bình thường. Đặc trưng cho những biến đổi đó là triệu chứng. Khi các nguyên nhân gây bệnh tác động gây những biến đổi trong cơ thể biểu hiện ra bên ngoài gọi là triệu chứng. Hoặc triệu chứng là những biểu hiện của động vật sống được quan sát và miêu tả như bỏ ăn, ỉa chảy, bồn chồn, mất nước... và là kết quả của những biến đổi tổ chức. Triệu chứng của bệnh thì muôn hình, muôn vẻ, nó bao gồm nhiều biến đổi về hoạt động, về chức năng, biến đổi về chuyển hóa vật chất, biến đổi về thân nhiệt, về hô hấp, về tim mạch đến những thay đổi về thành phần của máu, nước tiểu và cơ, sự biến đổi về hình thái của cơ quan hay tổ chức. Triệu chứng thay đổi tuỳ theo các loại bệnh khác nhau, tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của bệnh. Triệu chứng phụ thuộc vào đặc điểm cơ thể vào lứa tuổi vào quá trình phát triển của bệnh, phụ thuộc vào môi trường ngoại cảnh bên ngoài. Nhìn chung quá trình phát triển của bệnh không những diễn biến theo những quy luật nhất định mà quá trình này còn có tính chất giai đoạn nhất định. Người ta thường chia ra bốn thời kỳ cơ bản trong quá trình phát triển của bệnh. Sự phân chia này có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu và giúp cho việc phòng trị bệnh được chính xác hơn. Tuy nhiên, việc định ra ranh giới các thời kỳ một cách rõ ràng chính xác là rất khó khăn, cho nên sự phân chia ra các thời kỳ cũng chỉ là tương đối trong quá trình phát triển liên tục của bệnh. 19
  20. Dựa vào các triệu chứng người ta phân chia ra thành các thời kỳ phát triển của bệnh như sau: 3.6.1. Thời kỳ nung bệnh (thời kỳ ủ bệnh) Thời kỳ nung bệnh được bắt đầu từ khi nguyên nhân bệnh xâm nhập vào cơ thể hoặc là nguyên nhân bệnh bắt đầu phát huy tác dụng cho đến khi mà cơ thể có những phản ứng đầu tiên. Lúc này nguyên nhân bệnh chưa đủ số lượng và độc lực để làm cho bệnh phát triển, đồng thời sức đề kháng của cơ thể còn mạnh, vì thế chưa có những phản ứng biểu hiện của bệnh. Cơ thể cũng có thể tiêu diệt nguyên nhân bệnh, bệnh không phát hoặc có thể tiến triển sang một giai đoạn khác. Thời kỳ này dài hay ngắn là phụ thuộc vào các yếu tố sau đây: Số lượng, độc lực và cường độ tác động của nguyên nhân bệnh. Trạng thái cơ thể và tính mẫn cảm của cơ thể đối với sự tác động của nguyên nhân. Vị trí mầm bệnh xâm nhập. Điều kiện ngoại cảnh (cả điều kiện bên ngoài: thời tiết khí hậu, chế độ dinh dưỡng, chế độ chăm sóc quản lý...). Ý nghĩa: Nắm được thời kỳ nung bệnh, chúng ta có biện pháp phòng bệnh bằng cách là cách ly các gia súc chưa biết được lý lịch của nó và nuôi cách ly trong khoảng thời gian một tháng để theo dõi tình hình bệnh. 3.6.2. Thời kỳ tiền phát (thời kỳ tiền chứng) Thời kỳ này bắt đầu từ khi cơ thể có những phản ứng đầu tiên đến khi bắt đầu xuất hiện những triệu chứng chủ yếu. Ở giai đoạn này, nguyên nhân bệnh tác động mạnh làm cho cơ thể thay đổi toàn bộ các phản ứng, khả năng thích nghi của con vật đã giảm sút, con vật có một số biểu hiện dấu hiệu của bệnh gọi là tiền chứng. Ví dụ: Trạng thái con vật thay đổi ủ rũ, bỏ ăn, hay nằm, thậm chí nằm không yên, nếu đo nhịp tim có thể nhanh, hô hấp tăng, thân nhiệt cao, sung huyết ở niêm mạc... Ý nghĩa: Căn cứ vào triệu chứng này ta có biện pháp hộ lý tốt hơn, chăm sóc tốt hơn và bước đầu chẩn đoán thăm dò, dựa vào dịch tễ học (mùa vụ, vùng, lứa tuổi...) bắt đầu sơ chẩn sau đó ta điều trị thăm dò. Giai đoạn này vô cùng quan trọng nên ta cần chú ý. 3.6.3. Thời kỳ toàn phát 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2