MÃ SỐ MÃ VẠCH VÀ XUẤT XỨ HÀNG
HÓA
CHƯƠNG 6
MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG
Chương này giúp sinh viên hiểu được khái niệm, vai
trò và ý nghĩa của MSMV
Hiểu được cấu tạo của MSMV
Trang bị kiến thức về cấu trúc của MSMV
Giúp sinh viên biết được quy trình đăng ký MSMV
MSQG 893
NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG
6.1 Khái quát về mã số, mã vạch
6.2 Cấu tạo mã số, mã vạch của một số mã số, mã vạch
chủ yếu
6.3 Ứng dụng mã số, mã vạch vào hàng hóa
6.4 Quản lý nhà nu ớc về mã số, mã vạch
6.5 Xuất xứ hàng hóa
So sánh EAN 8 và EAN 13; EAN và UPC. Khi nào
sử dụng những chuẩn MSMV trên. Số kiểm tra trong
MSMV dùng để làm gì?
Các vấn đề gặp phải khi triển khai sử dụng MSMV
Thủ tục đăng ký MSMV, Chi phí sử dụng MSMV,
nếu hag ở nước ngoài đã đăng ký MSMV, thì sang
VN dùng MSMV nào?
KHÁI QUÁT VỀ MÃ SỐ MÃ VẠCH
Mã vạch (Bar Code) là một dãy các mã vạch và khoảng trống song song, xen kẽ được
sắp xếp theo một qui tắc mã hóa nhất định để thể hiện mã số (hoặc cả dữ liệu gồm cả
chữ và số) dưới dạng máy quét có thể đọc được
Mã số hàng hóa là một dãy con số dể phân định hàng hóa trong chuỗi thương mại từ
nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng
Từ những năm 40 của thế kỷ XX người ta đã nghiên cứu mã số, mã vạch
Vào năm 1967, lần đầu tiên ở Mỹ, công nghệ mã số, mã vạch được ứng dụng kết hợp
với máy tính tiền.
Năm 1971, Ông Mc Enroe và Jones đã nghiên cứu thành công loại mã vạch UPC
(Universal Product Code) và đưa vào áp dụng lần đầu tiên trong bán lẻ
Năm 1972, Tiến sỹ David Allais chế tạo ra mã ITF (Inter leaved Two of five
Năm 1973, tổ chức mã số, mã vạch đầu tiên được thành lập tại Mỹ với tên gọi là Hội
đồng mã thống nhất (tên tiếng Anh là Uniform Code Council viết tắt là UCC)
Năm 1975 mã EAN-13 ra đời
Năm 1976 mã tám số EAN-8 ra đời và được chấp nhận
Năm 1977, Hội mã số vật phẩm Châu Âu (European Article Numbering Asociation
viết tắt là EAN) được chính thức thành lập
Tháng 2 năm 2005, EAN quốc tế đổi tên thành GS1 năm 2005, Tổ chức mã số, mã
vạch Việt Nam cũng đổi thành GS1-Việt Nam.