intTypePromotion=1
ADSENSE

Bài soạn giảng chuyên đề: Công tác kiểm tra của tổ chức cơ sở Đảng

Chia sẻ: đàm Văn Phương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:52

187
lượt xem
28
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài soạn giảng chuyên đề: Công tác kiểm tra của tổ chức cơ sở Đảng với mục đích giúp cho học viên nắm vững những kiến thức cơ bản về công tác kiểm tra của Đảng, đồng thời nhận thức đây đủ về tính cấp thiết của công tác kiểm tra trong tình hình mới hiện nay;.... Mời các bạn cùng tìm hiểu và tham khảo nội dung thông tin tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài soạn giảng chuyên đề: Công tác kiểm tra của tổ chức cơ sở Đảng

  1. HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA XÂY ĐỰNG ĐẢNG BÀI SOẠN GIẢNG CHUYÊN ĐỀ: CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Giáo viên hướng dẫn: TS. VÕ HỒNG KHANH Sinh viên thực hiện : NGUYỄN ANH TIẾN Lớp : XDĐ và CQNN - K22
  2. HÀ NỘI, 2005 CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG A. MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU - Giúp cho học viên nắm vững những kiến thức cơ bản về công tác kiểm tra của Đảng, đồng thời nhận thức đây đủ về tính cấp thiết của công tác kiểm tra trong tình hình mới hiện nay. - Mỗi học viên phải tự giác học tập, tìm đọc tài liệu, nghiên cứu kết hợp bài giảng này để nâng cao trình độ hiểu biét của mình. - Từ những kiến thức đã được trang bị, mỗi học viên có thể vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và đưa kết quả nhận biết những kiến thức đã học vào thực tiễn công tác của mình. B. KẾT CẤU BÀI GIẢNG Bài giảng gồm 4 phần, được trình bày trong 4 tiết Tiết 1: I. Kiểm tra là một nội dung lãnh đạo quan trọng của tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ) 1. Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng 2. Vị trí, tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác kiểm tra 3. Các nguyên tắc Tiết 2 + 3 II. Đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của công tác kiểm tra của tổ chức cơ sở Đảng 2
  3. 1. Đặc điểm (tiết 2) 2. Chức năng (tiết 2) 3. Nhiệm vụ chủ yếu của công tác kiểm tra ở TCCSĐ (Tiết 2+ 3) Tiết 4: III. Quan hệ giữa công tác kiểm tra với thi hành kỷ luật IV. Những điểm then chốt cần nắm vững, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Tổ chức cơ sở Đảng trong giai đoạn hiện nay C. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẬY Căn cứ vào đối tượng học viên, phương pháp sử dụng trong bài giảng là thuyết trình kết hợp vừa nêu, phân tích vấn, liên hệ thực tiễn. D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình xây dựng Đảng “Trung cấp lý luận chính trị” HVCTQGHCM, Hà Nội - 2004. 2. “Công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng” (BCHTW - Ủy ban kiểm tra) - Tài liệu tập huấn nghiệp vụ - Hà Nội, 2002. 3. Hướng dẫn thực hiện các qui định về công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng - Ủy ban kiểm tra Trung ương, Hà Nội 2001. 4. Hỏi đáp về công tác kiểm tra và thi hành ký luật trong Đảng - Ủy ban kiểm tra trung ương - Nxb lý luận chính trị, Hà Nội 2004. 5. Công tác kiểm tra, khen thưởng và kỷ luật của Đảng (lưu hành nội bộ - Ngô Đình Tính, Võ Hồng Khanh), Hà Nội 2005. 3
  4. CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA TỔ CHỨC CƠ SƠ ĐẢNG I. KIỂM TRA LÀ MỘT NỘI DUNG LÃNH ĐẠO QUAN TRỌNG CỦA TỐ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG (TCCSĐ) Phần ghi Phần thuyết trình 1. Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng - Để tìm hiểu về công tác kiểm tra của Đảng, trước hết chúng ta đi tìm hiểu thế nào là kiểm tra? * Theo từ điển tiếng việt: Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế, để đánh giá, nhận xét đúng sai, mà việc đánh giá đó phải căn cứ vào những tiêu chi, văn bản qui định đang có giá trị lưu hành. - Nói như vậy trong cuộc sống để tồn tại và phát triển được phải có kiểm tra. - Kiểm tra là một tất yếu khách quan, là biểu hiện nghiên cứu của hoạt động có ý thức ở mọi tổ chức và con người trong xã hội. - Trước khi hành động mọi tổ chức và con người đều phải suy nghĩ, xác định rõ ý định, chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. - Song thực tiễn vận động và biến đổi không ngừng theo quy luật khách quan, nên nhận thức, định hướng, chủ trương đã xác định dù có được nghiên cứu đã xác định dù có được nghiên cứu, tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng vẫn có thể có những thiếu sót, thậm chí không có khả năng thực thi hoặc sai lầm nghiên trọng. - Nhận thức bao giờ cũng là một quá trình. Vì vậy muốn đạt được kết quả cao trong thực tiễn phải kiểm tra. - Kiểm tra để đánh giá ưu khuyết điểm, kịp thời rút kinh nghiệm, để bổ sung, sửa chữa những thiếu sót, sai lầm. Vì vậy hoạt động có ý thức là 4
  5. hoạt động có kiểm tra, ý thức càng cao thì càng phải coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra. - Hoạt động kiểm tra tồn tại dưới nhiều dạng biểu hiện dưới nhiều thuật ngữ khác nhau: + ở lĩnh vực hoạt động kinh tế - kỹ thuật, do yêu cầu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, nên đòi hỏi cần có kiểm tra; do đó hoạt động kinh tế - kỹ thuật có một luật coi thuật ngữ như: CKS, OTK, kiểm ngân, kiểm toán, kiểm định, thi cử… + Trong xã hội, hoạt động của mỗi tổ chức mỗi con người, cần có sự thống nhất, cần có kỷ luật chặt chẽ nhằm hướng vào mục tiêu chung. Vì vậy cần có hoạt động kiểm tra. Tuy nhiên trong xã hội hoạt động kiểm tra phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất, vai trò, chức năng của mỗi tổ chức, nên cũng có nhiều tên gọi khác nhau gắn liền với nội dung yêu cầu cơ chế hoạt động khác nhau như:  Hoạt động gián sát của quốc hội.  Hoạt động kiểm soát của cơ quan cho phép  Hoạt động thanh tra của cơ quan hành pháp  Hoạt động kiểm tra của Đảng, của các đoàn thể quần chúng và hoạt động thanh tra của quần chúng ở cơ sở. * Vậy công tác kiểm tra của Đảng được hiểu là: Công tác kiểm tra của Đảng là hoạt động của cấp ủy Đảng, các ban chức năng của cấp ủy và đảng viên, hoạt động đó hướng vào việc thực hiện các quyết định, cũng như hướng vào giải quyết các vấn đề. Trong sinh hoạt động nội bộ Đảng, hoàn thiện qui trình lãnh đạo của Đảng, giữ gìn kỷ luật Đảng nhằm thực hiện nghiêm túc và thắng lợi những quyết định mà Đảng đặt ra. 5
  6. Vậy công tác kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng là bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. - Điều này được thể hiện ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Đảng đã thực hiện nghiêm ngặt công tác kiểm tra, giữ gìn kỷ luật trong Đảng. - Điều lệ Đảng năm 1930 quy định rõ: “Tất cả đảng viên phải chấp hành các nghị quyết của đại hội Đảng, của TW và của thượng cấp cơ quan. Các cấp ủy viên có thể đặt ra đặc biệt ủy viên để kiểm tra xét những vấn đề vi phạm đến kỷ luật của Đảng”. - Qua các thời kỳ thì Đảng ta có nhận thức sâu sắc đầy đủ hơn về khái niệm công tác kiểm tra trên cơ sở nhiệm vụ mục đích của nó. Chúng ta sẽ làm rõ ở phần II. Đặc điểm công tác kiểm tra của Đảng. Còn ở đây từ khái niệm công tác kiểm tra rút ra 3 kết luận sau: - Công tác kiểm tra của Đảng là một hoạt động đồng tất yếu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng. - Hoạt động kiểm tra nhằm mục đích nâng cao năng lữ lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, gắn với nhiệm vụ chính trị của Đảng. - Công tác kiểm tra là hoạt động quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. - Muốn lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi, thì yếu tố có tính chất quyết định trước hết là phải có đường lối đúng đắn. - Muốn biến đường lối đúng đắn đó thành thắng lội trong thực tiễn Đảng phải có tổ chức vững mạnh, có phương pháp cách mạng khoa học, có năng lực tổ chức thực hiện cao và phải có kiểm tra một cách thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả. - Lãnh đạo không chỉ xây dựng cương hình, chiến lược kinh tế - xã hội, các định hướng về 6
  7. đường lối chính sách, mà lãnh đạo còn có nghĩa là kiểm tra. Tức “lãnh đạo mà không kiểm tra có như không có lãnh đạo”. - Không những kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách, NQ… của Đảng, mà kiểm tra ngay bản thân đường lối… đó và kiểm tra các tổ chức tiến hành kiểm tra. Đó vừa là chức năng, trách nhiệm lãnh đạo, vừa là phương pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng. 2. Vị trí, tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác kiểm tra Đảng 2.1. Vị trí, tầm quan trọng… - Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước, có rất nhiều vấn đề mới nảy sinh, đối tượng, phạm vi, nội dung lãnh đạo của Đảng phong phú, đa dạng, phức tạp hơn trước, đòi hỏi Đảng phải có những quyết sách, chủ trương đúng đắn, kịp thời, để đáp ứng được nhiệm vụ hay tình hình mới. - Để có chủ trương quyết định đúng đắn, giải pháp thực hiện tối ưu, kịp thời phát hiện những sai sót, cũng như những điển hình tốt, sáng kiếm mới đánh giá đúng chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy và điểm khắc phục nhược điểm, phải thông qua hoạt động kiểm tra thường xuyên của Đảng. - Do đó kiểm tra là một nội dung không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo của mỗi tổ chức Đảng và từng đảng viên, đồng thời vị trí của nó là không thể phú nhận. - Vậy vị trí - tầm quan trọng của công tác kiểm tra có 3 luận điểm cơ bản. * Thứ nhất: Kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng.  ĐCS là Đảng chính trị, ra đời là nhu cầu đòi hỏi tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp đạt tới trình độ cao, là đội tiên phong, Đảng phải thường xuyên tăng cường sức mạnh của mình, giữ gìn kỷ luật của tổ chức, đấu tranh loại bỏ mọi mầm mống hành vi “phi” vô sản. 7
  8. - Để thực hiện được vai trò lãnh đạo và sứ mệnh lịch sử của mình trước giai cấp và dân tộc, phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức theo đúng qui định của điều lệ Đảng. - Đảng phải định ra được đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phải có khả năng thực hiện tốt, bám sát thực tiễn và phải tiến hành kiểm tra đôn đốc thường xuyên. - Trong văn kiện đại hội Đảng III (9/1960) Đảng ta khẳng định: “Công tác kiểm tra là để đấu tranh chống quan liêu, đồng thời nhấn mạnh lãnh đạo mà không kiểm tra thì lãnh đạo trở thành quan liêu. Có nghĩa là vô hiệu hóa quá trình lãnh đạo”.  Tức Đảng là khẳng định hoạt động kiểm tra là một bộ phận trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. (VKĐH III, Nxb Sự Thật, HN 1960, tr 80) - Đến đại hội IV (12/1976) Đảng ta khẳng định: “Công tác kiểm tra nằm trong quá trình lãnh đạo không kiểm tra coi như không lãnh đạo”. (VKĐH IV, Nxb Sự Thật, HN 1977, trang 192). - Đặc biệt từ đại hội VI (12/1986): Đại hội đổi mới đã khẳng định: “Kiểm tra là chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, là khác nhau quan trọng của tổ chức thực hiện, đó cũng là biện pháp hữu hiệu để khắc phục bệnh quan liêu. Mọi tổ chức từ cơ quan Đảng - Nhà nước, đến đoàn thể quần chúng, mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội đến quốc phòng an ninh, đối ngoại không ngoại lệ đều phải đặt dưới sự kiểm tra của Tổ chức Đảng có thẩm quyền…”. (VKĐH VI, Nxb Sự Thật, HN 1987, tr 14) - Theo Hồ Chí Minh thì lãnh đạo đúng có nghĩa là: 1. Phải có quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng (…). 2. Phải tổ chức thi hành cho đúng. 3. Phải tổ chức sự kiểm soát. (HCM toàn tập, tập 5 - Tr285) 8
  9. - Lãnh đạo là đề ra đường lối chủ trương. Tổ chức thực hiện thắng lợi trong thực tiễn và kiểm nhằm phát hiện ưu khuyết điểm, kịp thời uốn nắn, bổ sung hoàn chỉnh qui trình lãnh đạo, giáo dục, bảo vệ ngũ đảng viên. Vậy kiểm tra không chỉ là khâu cuối cùng của quy trình lãnh đạo, mà nó đan xem và tác động tích cực lên tất cả các khâu trong quá trình lãnh đạo. - Thực tiễn cho thấy, công tác kiểm tra của Đảng góp phần tích cực vào việc hoàn thiện, uốn nắn và nâng cao chất lượng các NQ, chỉ thị của Đảng. - Điều quan trọng nữa là kiểm tra góp phần vào việc chống chủ nghĩa quan liêu, mở rộng dân chủ và nhân lên những nhân tố mới, khắc phục sai lầm khuyết điểm. Chính vì lẽ đó Đại hội Đảng VIII khẳng định: “… công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng…”. (VKĐH VIII, Nxb CTQG 1996, tr 150) * Thứ 2: Kiểm tra là một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng nội bộ Đảng. - Quan điểm của Mác - Angghen cho rằng: “Đảng phải thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra, phải quan tâm kiểm tra mọi hoạt động của bản thân mình và thường xuyên uốn nắn hoàn thiện trong quá trình lãnh đạo cách mạng”. - Đến Lênin người khẳng định: “Kiểm tra là nhiệm vụ then chốt ttrong xây dựng Đảng, là biện pháp hữu hiệu khắc phục mọi sai lầm trong công tác lãnh đạo và quản lý. Đây là phương sách duy nhất có thể hoàn toàn loại trừ hết thảy mọi sự thảo hiệp vô nguyên tắc”. - Thấm nhuần các quan điểm của các nhà kinh điển, chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ: “Khi có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó: là do cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn 9
  10. cán bộ và do nơi kiểm tra. Ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. “Có thể nói 9/10 khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra, thanh tra”. (HCM Toàn tập, T5 - trang 520 - 521) - XDĐ là xây dựng trên cả ba mặt: XDĐ về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ba mặt đó có nơi liên hệ biện chứng gắn bó không tách rời nhau. + Sự thống nhất - cội nguồn sức mậnh của Đảng cũng chiníh là kết quả, là sản phẩm của quá trình tiến hành làm tốt công tác XDĐ trên cả 3 mặt. + Tuy nhiên trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau thì tình hình chính trị, tư tưởng và tổ chức cũng có những nhu cầu và biến động khác nhau. + Do vậy muốn bảo đảm sự ổn định và phát triển đúng đắn trên cả ba mặt, nhất thiết phải coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra, thông qua hoạt động kiểm tra cho phép Đảng xác định đúng đắn phương hướng, nội dung, mục tiêu, đối tượng, trọng tâm, trọng điểm… để tiến hành các mặt hoạt động XDĐ sao cho sát và có hiệu quả cao nhất. Chính vì lẽ đó văn kiện Đại hội Đảng V, VI đã kết luận: … Công tác kiểm tra là bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác XDĐ, nhất là trong hoàn cảnh Đảng lãnh đạo chính quyền, là khâu quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện và là biện pháp hữu hiệu để khắc phục bệnh quan liêu. Vì vậy để XDĐ vững mạnh không được phép buông lỏng công tác kiểm tra. * Thứ 3: Kiểm tra có vị trí đặc biệt quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đặt ra trong yêu cầu sau: - Trong giai đoạn cách mạng mới, đẩy mạnh CNH - HĐN đất nước, thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh, xây dựng thành công CNXH. 10
  11. + Để thực hiện được điều đó, trước hết phải đổi mới và không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, Đảng phải ngang tầm và phù hợp với quá trình đổi mới nội dung lãnh đạo phải phong phú đa dạng trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ cơ sở đến TW. + Tại đại hội toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định: vị trí đặc biệt của công tác kiểm tra và nhấn mạnh muốn công tác kiểm tra tốt phải biết tự kiểm tra. Trong điều kiện đảng cầm quyền, đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng mới cũng không cho phép buông lỏng công tác kiểm tra trong quá trình lãnh đạo của Đảng. - Dân đối với Đảng và chính quyền cách mạng tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sự chiến đấu của Đảng. - Trong quá trình “Xây” và “Chống” cẩnp thực hiện tốt công tác kiểm tra. Vì nó quyết định nội dung, hình thức, phương pháp, đối tượng của công tác XDĐ. - Tiến hành kiểm tra thường xuyên, đúng nguyên tắc và có kế hoạch giúp cho cấp ủy nắm vững tình hình thực tế và Đảng tổng kết được các “kiểu”, “dạng” vi phạm, để tổ chức Đảng có biện pháp thích hợp để khắc phục. - Thông qua kiểm tra, kích thích tính tích cực, đảm bảo công bằng trong nội bộ Đảng. + Lênin khẳng định: “Kiểm tra là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chủ yếu trong XDĐ và chính quyền nhà nước”. (Lênin toàn tập, T44 - T45). + Tại Hội nghị giảm tô năm 1955 HCM nói: “Phải đi sâu, xét kỹ, phải luôn kiểm tra việc chấp hành chính sách, phải coi trọng từ việc to đến việc nhỏ, phải nhớ rằng sai một ly đi một dặm”. (HCM toàn tập - Tập 8 - tr78). - Đứng trước một xu thế mới “mở cửa hội nhập”, nhiệm vụ cách mạng đặt ra là hết sức nặng nề, chúng ta đang đứng trước những thời cơ lớn, vận hội mới - nhưng cũng phải đối mặt với những cách thức, khó khăn lớn, cần phải 11
  12. giải quyết nhiều mối quan hệ đan xen, chịu nhiều tác động của các yếu tố và sự chống phá của các thế lực thù địch, những vấn đề mới nảy sinh chưa có trong điều lệ, trong hoàn cảnh đó, cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là chú trọng hơn nữa công tác kiểm tra trong quá trình lãnh đạo, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và tổ chức thực hiện có hiệu quả. - Đại hội Đảng VIII khẳng định: “Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng”… - Đại hội Đảng IX tiếp tục khẳng định: “Trong điều kiện hiện nay càng cần phải tăng cường công tác kiểm tra giảm sát của các cấp ủy và UBKT các cấp”. + Song trong quá trình đổi mới một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên phai nhạt lý tưởng, xa sút về phẩm chất, đạo đức, mất cảnh giác, kém ý thức tổ chức kỷ luật, làm ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo của Đảng. + Tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ) nhiềm nơi yếu kém, có nơi tê liệu phương thức lãnh đạo và sinh hoạt lúng túng, tình trạng kém dân chủ, mất đoàn kết, vi phạm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ.  Vì vậy, tập trung làm tốt hơn của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tăng cường mạnh mẽ công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng, thiết lập vững chắc kỷ luật, kỷ cương, chặn đúng và đẩy lùi khuyết điểm, tiêu cực là nhiệm vụ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay. 2.2. ý nghĩa - Thứ nhất: Công tác kiểm tra bảo đảm thường xuyên, chắc chắn cho các NQ của cấp ủy cấp trên và các NQ của cấp ủy cơ sở được xác định đúng, chấp hành triệt để và ngày càng hoàn thiện. 12
  13. - Muốn lãnh đạo cách mạng thắng lợi, thì yếu tố có tính quyết định trước hết phải là đường lối, chủ trương, chính sách đúng. Điều đó phải được đảm bảo bằng công tác kiểm tra. + Kiểm tra chính bản thân đường lối, chính sách, NQ đã đề ra. + Kiểm tra việc ra NQ để khẳng định cái đúng, sửa đổi cái sai, bổ sung cái thiếu sót, làm cho đường lối, NQ thực sự phù hợp với cuộc sống, phù hợp với ý đảng lòng dân. - Tại sao? Chúng ta có thể khẳng định công tác kiểm tra đảm bảo NQ được chấp hành triệt để. + Ngay trong quá trình tổ chức thực hiện NQ, công tác kiểm tra phải kịp thời nắm bắt tình hình hoạt động của tổ chức Đảng, cán bộ đảng viên và nhân dân, khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm hoặc biểu hiện sai lệch phải kịp thời uốn nắn những hành vi sai phạm lệch lạc, để nâng cao ý thức chấp hành NQ, giúp cho việc thực hiện NQ được triệt để hơn. - Đồng thời sau khi NQ được triển khai thực hiện phải tổ chức kiểm tra, sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, kết luận về tình hình thực tế có những mặt được, chưa được, điểm phù hợp hay chưa phù hợp của NQ so với thực tế, cũng như phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để kịp thời có sự điều chỉnh bổ sung hoàn thiện NQ. - Chính vì vậy có thể nói công tác kiểm tra có ý nghĩa nó làm cho sự lãnh đạo gắn với thực tiến, bảo đảm sự thống nhất giữa NQ với chấp hành, khắc phục tư tưởng nóng vội. - Thứ 2: Là biện pháp khắc phục bệnh quan liệu, đảm bảo nguyên tắc TTDC, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. - Thứ 3: Giáo dục, bảo vệ đội ngũ đảng viên, giữ nghiêm kỷ luật Đảng. Đặc biệt bảo vệ đội ngũ đảng viên là có ý nghĩa rất quan trọng. Ví dụ: Trường có 3 tờ báo (tiền phong, báo 13
  14. thanh niên, báo công luận) cùng đăng một bài có tên: “Khi chủ tịch sửa tay bằng khoáng”. Cụ thể là đ/c Phạm Văn Chi - chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa. - Vấn đề này không chỉ động chạm đến mọi cán bộ, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ cán bộ đảng viên. - Khi xem xét lại đ/c Chi cho biết: Là vào dịp gần tết, ở phường cắt điện, khi đồng chí đang làm vườn thì có khách đến chơi, tiện có chai nước khoáng đang uống dở, đồng chí lấy rửa tay vội vội vào tiếp khách. - Sự việc này đưa lên báo, khi chưa qua kiểm duyệt xác minh lại? Vậy nếu không kiểm tra xác minh rõ sẽ không bảo vệ được uy tín, danh dự của đảng viên. - Thứ 4: Công tác kiên tra nó là đòn bẩy tác động mạnh mẽ đến việc giải quyết các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội và công tác XDĐ. - Công tác kiểm tra xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác XDĐ từng thời kỳ và lấy việc thực hiện thuận lợi nhiệm vụ công tác ấy làm mục tiêu, phương hướng, nội dung hoạt động. - Đó là vị trí vai trò và ý nghĩa của công tác kiểm tra, để công tác kiểm tra thực sự có hiệu quả thì cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau: 3. Các nguyên tắc 3.1. Nguyên tắc tính Đảng và * Tại sao công tác kiểm tra lại mang tính tính khoa học Đảng, tính khoa học? - Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, lấy CNMCN làm nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng.  Như chúng ta đã biết học thuyết Mác - Lênin là học thuyết CM nhất, khoa học nhất, đảm bảo sự chính xác đúng đắn, khách quan.  Chính vì thế đương nhiên công tác kiểm tra là một nội dung lãnh đạo của Đảng, phải mang tính khoa học và tính Đảng. 14
  15. - Công tác kiểm tra là một bộ phận quan trọng của công tác XDĐ  Nó được trưởng thành trong khuôn khổ cương lĩnh, đường lối chính trị và điều lệ Đảng và nó lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị và công tác XDĐ làm mục tiêu phương hướng hoạt động. * Vậy biểu hiện của tính Đảng, tính khoa học trong công tác kiểm tra là: - Hoạt động kiểm tra của Đảng phải vì lợi ích của Đảng, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. - Thái độ không khoan nhượng trước các khuyết điểm sai lầm của đảng viên và tổ chức Đảng. * Làm thế nào để đảm bảo tính Đảng và tính khoa học? - Khi tiến hành công tác kiểm tra phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.  Trước hết là nguyên tắc TTDC  Thông qua trí tuệ của tập thể Đảng, để xem xét các hành vi sai trái, rồi có kết luận xử lý đúng mức độ sai phạm (nếu có) - Phân tích xem xét các sự việc 1 cách khách quan, thận trọng và có quan điểm lịch sử cụ thể. Kiểm tra có kế hoạch có mục đích, tránh nóng vội duy ý chí.  Việc xem xét này phải dựa trên cơ sở những văn bản pháp qui, những tiêu chí có giá trị hiện hành so với thực tế của đối tượng kiểm tra. 3.2. Nguyên tắc tính quần chúng * Tại sao phải có tính quần chúng? - Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng. 15
  16.  Một trong những phương châm XDĐ là tổ chức cho quần chúng tham gia XDĐ, góp phần kiểm tra hoạt động của tổ chức Đảng, kiểm công tác và phẩm chất cán bộ Đảng viên.  Quần chúng gắn bó với tổ chức Đảng và đảng viên. Mọi hoạt động của tổ chức Đảng và đảng viên, quần chúng luôn quan tâm và nhận biết. * Vậy nguyên tắc quần chúng xuất phát từ ba lý do sau: - Tính dân chủ rộng rãi trong Đảng - Vì chỉ dựa vào quần chúng và kết hợp với cơ quan lãnh đạo có thẩm quyền thì mới có thể kiểm tra, đánh giá đúng, kết luận chính xác bản chất của vụ việc. - Đảm bảo việc thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mỗi đảng viên tham gia vào các hình thức kiểm tra của Đảng. * Để đảm bảo nguyên tắc quần chúng, cần phải tiến hành công tác kiểm tra như thế nào? - Phải dựa vào quần chúng  Phải tổ chức cho quần chúng tham gia vào các hoạt động kiểm tra, như lấy ý kiến của quần chúng (có thể trực tiếp hoặc góp ý bằng thư từ, hòm thư góp ý…) - Phát huy đến mức cao nhất tính tự giác của mối cá nhân đảng viên.  Tự giác là cơ sở tư tưởng và tổ chức để đảng viên chấp hành cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng, đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước và nhiệm vụ được giao.  Tự giác chịu sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền và tự kiểm tra. 16
  17. Ví dụ: Có trường hợp đảng viên sai lầm, khuyết điểm, nhưng không tự giác, thì làm thế nào để phát huy được tính tự giác của họ? - Tự giác là phản ánh bản chất chính trị, ý thức đạo đức cách mạng, bản lãnh chính trị của đảng viên. - Do đó tự giác nó có quá trình và mức độ tự giác khác nhau. - Tự giác nó phụ thuộc vào điều kiện trưởng thành, rèn luyện tu dưỡng, nó không phụ thuộc vào chức vụ, tuổi đảng… Do đó cần phải làm tốt công tác tư tưởng đối với những trường hợip giấu diếm quanh co không tự giác nhận khuyết điểm, thì cần phải kiên trì thuyết phục, kết hợp với thẩm tra xác minh để có kết luận chính xác. 3.3. Nguyên tắc công khai - Tính công khai bắt nguồn từ bản chất CNXH và tính dân chủ rộng rãi trong Đảgn. Đồng thời, phát huy chức năng tâm lý giáo dục và chiến đấu của công tác kiểm tra. - Mọi khuyết điểm đưa ra công khai không phải chỉ để thi hành kỷ luật mà điều chủ yếu là để uốn nắn sửa đổi một cách nhanh chóng kịp thời. Như Lênin đã nói: “Đưa tin công khai là một thanh kiểm tự nó chữa lành những vết thương do nó gây ra”. (Lênin toàn tập, tập 25, trang 64) * Vậy công tác kiểm tra đảm bảo kích công khai bởi vì: - Kiểm tra đánh giá kết luận công khai nhằm tạo, bầu không khí thẳng thắn, trung thực, tin tưởng lẫn nhau. - Nâng cao tính giáo dục của công tác kiểm tra. * Làm thế nào để đảm bảo tính công khai? - Quá trình kiểm tra, đánh giá công khai, không dùng thủ đoạn nghiệp vụ hoặc gò ép áp đặt. Bởi vì: - Tổ chức Đảng khác với các cơ quan, bảo vệ 17
  18. pháp luật, nên không được bắt giữ, tra hỏi bố trí người theo dõi bị mất cán bộ đảng viên. Trong trường hợp càn thiết thì chuyển qua cơ quan bảo vệ pháp luật có thẩm quyền tiến hành điều tra, với danh nghĩa là cơ quan, bảo vệ pháp luật với công dân có vi phạm pháp luật. - Công tác kiểm tra của Đảng: Là công tác đảng, là sinh hoạt nội bộ đảng. Vì vậy khi tiến hành kiểm tra phải đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Phương pháp cơ bản là dựa vào tổ chức Đảng phát huy tinh thần tự giác của đảng viên, của tổ chức Đảng. - Dự thảo được kết luận trao đổi dân chủ và khi có kết luận chính thức của cấp có thẩm quyền quyết định thì được thông báo rộng rãi. 3.4. Nguyên tắc tính hiệu quả - Có thể nói giá trị đích thực của công tác kiểm tra, của mỗi cuộc kiểm tra được xác định ở tính hiệu quả về mặt chính trị - kinh tế - xã hội. - Kiểm tra phái đi để kết luận cụ thể đúng sai, chỉ rõ hướng phát huy hoặc sửa chữa, mức độ xử phạt. * Biểu hiện của tính hiệu quả là: - Phải có sự đoàn kết nhất trong toàn Đảng. - Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên được nâng lên ngay đầu với công cuộc đổi mới. * Hiệu quả của công tác kiểm tra: Sau khi kết thúc 1 cuộc kiểm tra, đối tượng bị kiểm tra (tổ chức Đảng, đảng viên) thấy được ưu, khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có) để sửa chữa phấn đấu tiến bộ, tổ chức rút kinh nghiệm quản lý lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra để xây dựng đảng bộ TSVM, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. * Làm thế nào để nâng cao tính hiệu quả của công tác kiểm tra? 18
  19. - Phải có nội dung chương trình kế hoạch cụ thể. - Kết luận chính xác về nội dung kiểm tra, để giúp cho tổ chức Đảng đánh giá thực chất tình hình tổ chức Đảng cấp dưới và đảng viên. - Phải rút ra những bài học kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, giáo dục quản lý đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới. Trên đây là các nguyên tắc cơ bản đòi hỏi công tác kiểm tra cần quán triệt nhằm bảo đảm cho hoạt động kiểm tra của Đảng đúng mục đích và có tác dụng thiết thực đối với việc thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo và công tác XDĐ. II. ĐẶC ĐIỂM, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CÔNG TÁC KIỂM CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ Phần ghi Phần thuyết trình 1. Đặc điểm * Khái quát TCCSĐ là gì? - TCCSĐ là tổ chức Đảng ở đơn vị cơ sở (xã, phường, thị trấn, cơ quan, HTX, DN, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị cơ sở khác) có từ 3 đảng viên chính thức trở lên. - TCCSĐ dưới 30 đảng viên, lập chi bộ cơ sở có các tổ chức trực thuộc, TCCSĐ có trừ 30 đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy. Lập chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở có hơn 30 đảng viên, lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ 30 đảng viên, lập đảng bộ bộ phận trực thuộc Đảng ủy cơ sở. Cấp ủy cấp chức phải báo cáo và được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được lập. - TCCSĐ: Là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị, là nơi tập trung quản lý, giáo dục rèn luyện, kiểm tra Đảng viên cũng là nơi 19
  20. trực tiếp thực hiện và lãnh đạo quần chúng. + Nền tảng?  Trước hết là phần chắc chắn ở dưới để đỡ và giữ cái bên trên.  Là tổ chức đầu tiên trực tiếp liên kết các đảng viên lại với nhau, mà sự liên kết này là liên minh tự nguyện của những người cùng mục đích, cùng chung lý tưởng.  Nền tảng cần được xét trong mối quan hệ giữa chất lượng của TCCSĐ với chất lượng của toàn Đảng.  Nền tảng cần thể hiện trong hoạt động của Đảng đối với tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. + Hạt nhân chính trị ở cơ sở  Hạt nhân là nói đến các trung tâm của tế bào.  Hạt nhân nó là bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị và nó lãnh đạo hệ thống chính trị đó. Cụ thể và lãnh đạo chính quyền cơ sở, chỉ đạo các hoạt động của chính quyền cơ sở bằng hệ thống những quan điểm lý luận, nguyên tắc chính trị, làm cho chính quyền cơ sở thực sự là cơ quan đại biểu ý chí cho quyền lực của nhân dân.  Hạt nhân chính trị: Tức là trực tiếp quán triệt, chấp hành đề ra NQ và tổ chức thực hiện, là trung tâm qui tại mọi lực lượng cơ sở thành một khối đoàn kết thống nhất. * Hạt nhân chính trị ở cơ sở còn thể hiện ở năng lực phát hiện ra mâu thuẫn, những tình huống, đưa ra những giải pháp khả thi. - Một trong 5 nhiệm của TCCSĐ được qui định ở điểm 5 điều 23 điều lệ Đảng là: “TCCSĐ có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm cho các NQ, chỉ thị của Đảng, pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành điều lệ Đảng”.  Vậy hoạt động kiểm tra của tổ chức cơ sở đảng có những đặc điểm gì? 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2