ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CLC & POHE
BÀI TẬP LỚN
MÔN: ĐÀM PHÁN KINH TẾ QUỐC TẾ
Văn hóa đàm phán quốc tế Liên Bang Nga và giải pháp thích
nghi cho Việt Nam
Họ và tên SV Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Đình Huy
Email Huongthunguyen99@gmail.com
Số điện thoại 077.633.6199
Mã sinh viên 11172004; 11172102
Lớp Kinh tế quốc tế CLC 59A
GV hướng
dẫn
PGS. TS. Nguyễn Thường Lạng
Hà Nội, 2020
LỜI CAM ĐOAN
Trên cơ sở kiến thức và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu và triển khai thực hiện
nhiệm vụ, bản thân em cam đoan và hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực và
liêm chính trong học thuật của bài viết
Em xin trân trọng cảm ơn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu đề tài
Nga (tiếng Nga: Россия, chuyển tự. Rossiya IPA: [rɐˈsʲijə]), quốc danh hiện tại
Liên bang Nga,một quốc gia phía bắc lục địa Á - Âu (châu Âu châu Á). Với diện
tích 17,098,246 km² (6,601,670 mi²), Nga nước có diện tích lớn nhất thế giới, bao phủ
1/9 diện tích lục địa Trái Đất. Nga cũng nước đông dân thứ 9 thế giới với 144,5 triệu
người (ước lượng năm 2015). Nganền kinh tế đứng thứ 12 theo GDP danh nghĩa năm
2016 hay lớn thứ 6 theo sức mua tương đương. GDP danh nghĩa theo thống của IMF
đạt 1.268 tỉ USD, hạng 12 thế giới (năm 2016) sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Đức, Anh,
Pháp, Ấn Độ, Ý, Brazil, Canada Hàn Quốc. Nước Nga truyền thống lâu dài giàu
về nhiều lĩnh vực nghệ thuật khoa học, cũng như một truyền thống mạnh về khoa
học công nghệ, gồm cả những thành tựu quan trọng như tàu trụ đầu tiên của loài
người.
Quan hệ Việt Nam- Liên Bang Nga cũng là một mối quan hệ lâu đời và có chiều sâu
nhất định. Lịch sử cho thấy mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên trước đây, với
Liên bang Nga ngày nay luôn nồng ấm, tin cậy, vượt qua mọi thử thách của thời gian
sự biến động của lịch sử. Việc ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu
nghị giữa CHXHCN Việt Nam Liên bang Nga ngày 16/6/1994, nhân chuyến thăm
Nga của Thủ tướng Văn Kiệt, đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ
hai nước. Tiếp đó, các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai bên diễn ra thường
xuyên. Đặc biệt, chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tới Liên bang Nga
tháng 8/1998 đã tạo bước đột phá mới trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.
Lần đầu tiên, Tổng thống Nga Boris Yeltsin khẳng định Nga coi Việt Nam đối tác
chiến lược Đông Nam Á. khuôn khổ quan hệ Việt-Nga trong thế kỷ XXI đã được
chính thức hóa bằng việc Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược nhân dịp
Tổng thống Nga Vladimir Putin thăm Việt Nam (28/2 đến 2/3/2001). Việt Nam Liên
bang Nga đã hơn 30 văn kiện cấp Nhà nước Chính phủ, một sở pháp đồ sộ
cho sự phát triển quan hệ hợp c, hữu nghị giữa hai nước trong giai đoạn mới. Quan hệ
Việt-Nga được xây dựng phát triển trên nền tảng của tình hữu nghị gắn giữa hai
dân tộc đã được kiểm chứng bởi thời gian. Tiếp tục củng cố, phát triển quan hệ hữu
nghị truyền thống, sự hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam Liên bang Nga trên tinh thần
đối tác chiến lược, không chỉ lợi ích của nhân dân hai nước còn góp phần hòa
bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Chính vì vậy, việc xây dựng quan hệ hợp tác tốt đẹp, hữu nghị với Liên Bang Nga là
vô cùng quan trọng, đặc biệt là trên phương diện đàm phán quốc tế. Chính vì những lý do
kể trên, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Văn hóa đàm phán quốc tế của Liên Bang
Nga và giải pháp thích nghi cho Việt Nam.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu khác
Olegario Llamazares (2016) in articles “Keys to Negotiate In Russia” stated that: “In
Russia accessing relevant information can be difficult and official bodies do not always
provide you with reliable data. Success or failure may depend on the identification and
initial knowledge of the niche which you intend to take: it is highly recommendable to
count on a partner with a presence in the market and access to internal channels of
information.”
Vassily Rudomino (2019) in paper “The foreign investment regulation in Russia”
wrote “Attracting foreign investment has been a priority for the Russian government
since the country took its first steps towards developing a market economy in 1991.
During the past few decades, consistent legislative and administrative measures have
been taken to improve the investment climate and provide guarantees and protection for
foreign companies undertaking business in Russia. This trend remains effective and has
been maintained by the government within the period of mutual economic sanctions,
since investment in Russia is encouraged and supported despite the political alienation
between Russia and European countries.”
Nguyễn Hạnh (2019) có bài “Văn hóa doanh nghiệp: Yếu tố cốt lõi để phát triển bền
vững” đăng trên o điện tử Bộ Công thương đã khẳng định “văn hóa doanh nghiệp
rất nhiều nội hàm, trong đó thương hiệu của doanh nghiệp chính một phần cốt lõi. Bên
cạnh đó, doanh nghiệp phải trách nhiệm với sản phẩm của mình tới cùng. Mỗi doanh
nghiệp có một văn hóa riêng dựa trên phong cách của người lãnh đạo. Văn hóa quan
trọng nhất của một doanh nghiệp cần đó chữ “Tín” trong quản lý. Thương hiệu
văn hóa doanh nghiệp đi song song với nhau, nếu thương hiệu tốt sẽ tiếng vang để
doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp hiện nay chưa
tương xứng với tầm quan trọng vai trò của nó. Còn nhiều doanh nghiệp chưa biết đến,
hoặc chưa thực sự tham gia vào Cuộc vận động. Còn nhiều doanh nghiệp làm văn hóa
doanh nghiệp không theo chuẩn, mang tính phiến diện, đối phó hoặc nặng về tính hình
thức nên ít tác dụng và hiệu quả thấp.”
Trần Thị Thu Trang (2017) trong “Hồ sơ thị trường Liên Bang Nga” đã viết: “Người
Nga rất thích biểu lộ tình cảm, nên họ thường dùng ngôn ngữ thể trong giao tiếp.
Người
cùng giới hoặc các thành viên trong gia đình thường ôm, vuốt ve, vỗ lưng thậm chí
thơm má. Người Nga thường đứng gần khi nói chuyện. Tuy nhiên, đưa ngón cái qua ngón
trỏ và ngón giữa, hoặc làm dấu hiệu OK được coi là cử chỉ thô lỗ”
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và bản chất của đàm phán kinh tế quốc tế
Đánh giá văn hóa đàm phán kinh tế quốc tế của Liên Bang Nga và Việt Nam
Đưa ra các giải pháp cho chính phủ doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với văn
hóa đàm phán Liên Bang Nga
4. Đối tương và phạm vi nghiên cứu