Bài tập nhóm của VHKD&TTKN
Chủ đề lựa chọn: Phong cách lãnh đạo của một doanh
nhân mà em biết.
Thành viên của nhóm 1
1, Đoàn Nhật Linh - 20196622
2, Nguyễn Quốc Trịnh - 20196716
3, Nguyễn Mạnh Trường - 20196721
4, Nguyễn Văn Công - 20171088
I, Cơ sở lý thuyết
1, Phong cách:
Trong tiếng Việt khái niệm phong cách được hiểu theo một số nghĩa sau:
Những lối, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động ứng xử tạo
nên cái riêng của mỗi người, một loại người nào đó. Những đực điểm
tính chất hệ thống về tưởng nghệ thuật biểu hiện trong sáng tác của
một nghệ sỹ hay trong các sấng tác nói chung của cùng một thể loại. Dạng
nông ngữ trong những hoàn cảnh hội điển hình nào đó khác với những
dạng về đặc điểm từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm. Nói tóm lại, phong cách
tính phổ quát, ổn định về cách thức để thực hiện một hoạt động nào đó của
một nhân hay một nhóm người cùng tính chất hoạt động. Mỗi cá
nhân khi thực hiện bất kỳ một hoạt động nào đều theo một phong cách
nhất định. Mỗi một tình huống khác nhau, con người thường đi theo một
hướng ứng xử nhất định bản thân người đó đã định hướng ràng để
thực hiện những mục tiêu dần trở thành một lối sống cho riêng mình,
tạo ra phong cách riêng.
2, Lãnh đạo:
Có nhiều quan niệm khác nhau về lãnh đạo.
Theo James Gibson: lãnh đạo một phần công việc của quản nhưng
không phải toàn bộ công việc quản lý. Lãnh đạo năng lực thuyết phục
người khác hăng hái phấn đấu cho những mục tiêu đã xác định. George
Tery: Lãnh đạo hoạt động gây nh hưởng đến con người để họ phấn
đấu tự nguyện cho các mục tiêu của tổ chức.
R. Tannenbaum, R. Weschler F. Massarik: Lãnh đạo ảnh hưởng liên
nhân cách được thực hiện trong tình huống được định hướng thông
qua quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích chung hoặc những mục
đích chuyên biệt.
H. Koontz các tác giả: Lãnh đạo quá trình tác động đến con người
sao cho họ cố gắng một cách tự giác và hăng hái thực hiện mục tiêu chung
của tổ chức.
P. Hersey Ken Blanc Hard: Lãnh đạo một quá trình gây ảnh hưởng
đến các hoạt động của một nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục
đích trong tình huống nhất định. nhiều quan niệm khác nhau về mối
quan hệ giữa lãnh đạo quản lý. Nhưng thể khái quát thành hai
khuynh hướng điển hình: Một là: Lãnh đạo quản đồng nhất với
nhau. Hai là: Lãnh đạo quản hoàn toàn khác biệt. Thực chất, lãnh
đạo quản vừa sự đồng nhất, vừa sự khác biệt. Để thấy được
lãnh đạo quản vừa sự đồng nhất, vừa sự khác biệt, cần phải
căn cứ vào các phương diện sau:
- Thứ nhất, xét về chủ thể hoạt động. Sự đồng nhất giữa lãnh đạo quản
chỗ một nhà lãnh đạo cũng thể được gọi một nhà quản lý,
ngược lại, một nhà quản thể được coi một nhà lãnh đạo. Sự khác
biệt giữa lãnh đạo quản được biểu hiện: chỉ những nhà quản cấp
cao mới là những nhà lãnh đạo đúng nghĩa; còn các nhà quản cấp trung
và cấp thấp thường không được gọi là nhà lãnh đạo.
- Thứ hai, xét v phương diện mục tiêu (Nội dung) hoạt động. Sự đồng
nhất giữa lãnh đạo quản đó các hoạt động này được thực thi
theo cách nào thì cũng nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Sự khác biệt giữa lãnh đạo quản thuộc về tính chất của mục tiêu
chúng hướng tới. Mục tiêu của lãnh đạo mang tính định hướng, chiến
lược, định tính; Mục tiêu của quản mang tính chất cụ thể, chiến thuật,
định lượng. Thứ ba, về phương thức hoạt động. Sự đồng nhất giữa lãnh
đạo quản lý: hoạt động lãnh đạo hoạt động quản đều phải được
thực hiện trên sở khoa học nghệ thuật để phối hợp các nguồn lực
nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất. Sự khác biệt giữa lãnh đạo quản thể
hiện chỗ: hoạt động lãnh đạo hoạt động nhằm hướng dẫn, động viên,
khích lệ nhân viên duy trì kỷ luật, kỷ cương của họ, do vậy, yếu tố nghệ
thuật phải được đặt lên hàng đầu cùng với phải sử dụng yếu tố
khoa học; hoạt động quản hoạt động nhằm duy trì kỷ luật, kỷ cương
động viên, khích lệ nhân viên, do vậy, yếu tố khoa học được đặt lên
trước cùng với yếu tố nghệ thuật Từ những quan niệm về lãnh
đạo về mối quan hệ giữa lãnh đạo quản lý, xuất phát từ thực tiễn
lãnh đạo quản lý, thể đưa ra một định nghĩa về lãnh đạo (theo nghĩa
rộng) như sau: Lãnh đạo tác động bằng nghệ thuật khoa học để gây
ảnh hưởng tích cực tới con người để phát huy phối hợp tiềm năng
năng lực của họ nhằm hướng tới hoàn thành mục tiêu của tổ chức.
3, Phong cách lãnh đạo:
Theo tác giả Trần Ngọc Khuê: phong cách lãnh đạo nói đến hệ thống
hành vi nhân của người lãnh đạo, quản trong việc sử dụng những
quyền hạn, quyền lực, tri thức trách nhiệm được giao. Phong cách lãnh
đạo một khái niệm thường gặp, còn hay gọi kiểu lãnh đạo hay lối làm
việc của người lãnh đạo. quan niệm rằng phong cách lãnh đạo được
giải thích như một hệ thống các mục đích, các phương pháp người
lãnh đạo sử dụng trong công tác quản lý. Từ góc độ luận cũng như thực
tiễn tâm học, phong cách lãnh đạo đã được bàn nhiều trong các công
trình khoa học thường khái niệm phong cách lãnh đạo thường được
hiểu theo các góc độ sau:
- Được coi một nhân tố quan trọng của người quản lý, lãnh đạo; gắn
liền với kiểu người lãnh đạo và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý con người.
- Phong cách lãnh đạo không chỉ thể hiện về mặt khoa học và tổ chức lãnh
đạo, quản còn thể hiện, tài năng, chí hướng, nghệ thuật điều khiển,
tác động người khác của người lãnh đạo.
- Phong cách lãnh đạo là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo
- Phong cách lãnh đạo hệ thống các dấu hiệu đặc trưng của hoạt động
quản của nhà lãnh đạo, được quy định bởi các đặc điểm nhân cách của
họ.
- Phong cách lãnh đạo là kết quả của mối quan hệ giữa cá nhân và sự kiện
được biểu hiện bằng công thức: Phong cách lãnh đạo = tính x môi
trường. Nhìn chung những định nghĩa trên đã đề cập phản ánh khá
nhiều mặt, nhiều đặc trưng khác nhau của phong cách lãnh đạo. Tuy nhiên
phần lớn các định nghĩa chỉ nhấn mạnh đến mặt chủ quan, mặt cá tính của
chủ thể lãnh đạo chứ chưa đề cập, xem xét phong cách lãnh đạo như một
kiểu hoạt động. Kiểu hoạt động đó được diễn ra như thế nào còn phụ
thuộc vào yếu tố môi trường hội trong đó sự ảnh hưởng của hệ
tưởng, của nền văn hoá...
Như vậy, phong cách lãnh đạo kiểu hoạt động đặc thù của người lãnh
đạo được hình thành trên sở kết hợp chặt chẽ tác động qua lại biện
chứng giữa yếu tố tâm chủ quan của người lãnh đạo yếu tố môi
trường xã hội trong hệ thống quản lý.
4,Các mô hình phong cách lãnh đạo:
a, Phong cách lãnh đạo chuyên quyền - nhà lãnh đạo ra quyết định
một cách đơn phương, hạn chế sự tham gia của cấp dưới; quyền hạn
được tập trung tối đa vào nhà lãnh đạo; không tham vấn nhân viên, không
cho phép ý kiến; giao nhiệm vụ bằng mệnh lệnh, chờ đợi sự phục tùng;
giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện các quyết định; quản lý bằng th ưởng
phạt. - Nhà lãnh đạo chuyên quyền sẽ dựa trên sự đe dọa thưởng phạt
để gây ảnh hưởng đến nhân viên; họ thường không tin tưởng không
cho phép nhân viên có ý kiến. - Phong cách này th ường được sử dụng khi
nhân viên chưa được đào tạo, không biết nhiệm vụ hay quy trình phải làm;
hoặc khi những mẹnh lệnh, chỉ dẫn cần thiết; hoặc thời gian ra quyết
định bị hạn chế; hoặc quyền lực của người lãnh đạo bị đe dọa; hoặc cầ
sự phối hợp giữa các bộ phận.
b, Phong cách lãnh đạo bàn giấy - Quản lý bằng g iấy tờ, công việc thực
hiện theo quy trình hoặc chính sách, nếu công việc chưa hướng dẫn thì
chuyển lên cấp trên, tăng cường các nguyên tắc. - Phong cách này sử
dụng khi nhân viên đã quen với công việc, cần phải hiểu một số quy
trình chuẩn mực. - Không sử dụng khi nhân viên không còn hứng thú trong
công việc m việc với đồng nghiệp; nhân viên chỉ biết làm các công
việc được chỉ định.
c, Phong cách lãnh đạo dân chủ - Khuyến khích cấp dưới tham gia vào
việc ra quy ết định, thông tin đến cấp dưới mọi thông tin liên quan đến họ
chia sẻ quá trình ra quyết định; phân quyền; khuyến khích cấp dưới tự
quyết định mục tiêu phương pháp, sử dụng thông tin phản hồi để huấn
luyện nhân viên. - Phong cách này được sử dụng khi: muốn nhân viên
được thông tin về mọi vấn đề ảnh hưởng đến họ; muốn nhân viên chia
sẻ công việc ra quyết định thực hiện; muốn tạo hội cho nhân viên
phát triển và thăng tiến và tạo sự thích thú trong công việc; có nhiều vấn đề
cần giải quyết đòi hỏi sự tham gia của nhiều người; muốn khuyến khích
làm việc theo nhóm.
d, Phong cách lãnh đạo tự do - Nhà quản trị cho phép nhân viên quyền
tự do cao nhất thể; cho phép nhóm, tập thể toàn quyền quyết định; cấp
dưới thể hoàn thành công việc theo bất cứ cách nào họ xem phù
hợp; nhà quản trị người cung cấp thông tin đầu mối liên hệ với bên
ngoài. - Phong cách này sử dụng phù hợp khi nhân viên kiến thức, kinh
nghiệm, kỹ năng cao; hoặc khi sử dụng chuyên gia bên ngoài hoặc
vấn. - Không thích hợp khi nhà qu ản trkhông khả năng đánh giá công
việc của nhân viên; hoặc khi nhà quản trị không hiểu được trách nhiện của
mình và mong muốn nhân viên hỗ trợ mình.
II, Thực trạng của tập đoàn Vingroup và phong cách lãnh đạo của chủ
tịch Phạm Nhật Vượng:
1, Tổng quan về tập đoàn Vingroup:
Tập đoàn Vingroup - Công ty CP (gọi tắt "Tập đoàn Vingroup"), tiền thân
Tập đoàn Technocom, được thành lập tại Ukraina năm 1993 bởi những
người Việt Nam trẻ tuổi, hoạt động ban đầu trong lĩnh vực thực phẩm
thành công rực rvới thương hiệu Mivina. Những năm đầu của thế kỷ 21,
Technocom luôn mặt trong bảng xếp hạng Top 100 doanh nghiệp lớn
mạnh nhất Ukraina. Từ năm 2000, Technocom - Vingroup trở về Việt Nam
đầu với ước vọng được góp phần xây dựng đất nước. Với tầm nhìn dài
hạn quan điểm phát triển bền vững, Vingroup đã tập trung đầu vào
lĩnh vực du lịch và bất động sản (BĐS) với hai thương hiệu chiến lược ban
đầu Vinpearl Vincom. Bằng những nỗ lực không ngừng, Vincom đã
trở thành một trong những thương hiệu số 1 Việt Nam về BĐS với hàng
loạt các tổ hợp Trung tâm thương mại (TTTM) - Văn phòng - Căn hộ đẳng
cấp tại các thành phố lớn, dẫn đầu xu thế đô thị thông minh - sinh thái
hạng sang tại Việt Nam. Cùng với Vincom, Vinpearl cũng trở thành cánh
chim đầu đàn của ngành Du lịch với chuỗi khách sạn, khu nghỉ dưỡng, khu
biệt thự biển, công viên giải trí, sân golf đẳng cấp 5 sao và trên 5 sao quốc
tế. Tháng 1/2012, Công ty CP Vinpearl sáp nhập vào Công ty CP Vincom
chính thức hoạt động dưới hình Tập đoàn với tên gọi Tập đoàn
Vingroup - Công ty CP. Trên tinh thần phát triển bền vững chuyên
nghiệp, sau khi thành lập, Vingroup đã cơ cấu lại và tập trung phát triển với
nhiều nhóm thương hiệu như: