
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
..........o0o..........
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MÂU THUẪN VÀ VẬN DỤNG
PHÂN TÍCH MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG CHỦ
NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Hà
Nội, 2022
MỤC LỤC
MỤC LỤC..........................................................................................................................1
Sinh viên thực hiện : Đoàn Phương Hạnh
Mã sinh viên : 2211330029
Số thứ tự : 38
Lớp tín chỉ : TRI114(GD2-HK1-2223)K61.9
Giảng viên hướng dẫn : TS Đào Thị Minh Thảo

LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................................2
NỘI DUNG
I. Quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật.....................................................3
1. Khái quát lịch sử phát triển của phép biện chứng.................................................3
2. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật.......................................................4
3. Lí luận phép biện chứng về mâu thuẫn...................................................................7
II. Vận dụng phân tích mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay...........................................................................10
1.+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng, phát triển kinh tế với sự bất cập của cơ
chế, chính sách khai thác nguồn lực hiện
nay.......................................................................10
2. Mâu thuẫn giữa tính ưu việt của nền kinh tế thị trường đinh hướng XHCN với
những hạn chế trong việc tìm ra quyết sách khắc phục mặt trái của kinh tế thị
trường................................................................................................................................11
3. Mâu thuẫn giữa tính tất yếu khách quan phải nâng cao sự đồng thuận xã hội
trong đổi đất nước với sự tấn công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm
phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân
tộc.................................................................................11
4. Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao tính tích cực chính trị với lối sống thực dụng
trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.........................................................12
5. Mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị với sự thiếu hụt
trong những biện pháp mang tính đột phá trên lĩnh vực
này..................................................12
6. Mâu thuẫn giữa quá trình phát triển dân chủ với tình trạng thiếu giá đỡ về lý luận
và thực tiễn cho quá trình đó............................................................................................12
7. Mâu thuẫn giữa tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với khả năng giữ
vững độc lập tự chủ trong hội nhập và khắc phục những tác động tiêu cực của hội
nhập...................................................................................................................................13

KẾT LUẬN.......................................................................................................................14
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................15
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật luôn luôn xảy ra mâu thuẫn.Đó
là mâu thuẫn giữa các yếu tố trong bản thân hay mâu thuẫn giữa các sự vật với nhau.
Nhà Triết học Hêgen đã khẳng định: Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn.
Thực tiễn phát triển đất nước ta hiện nay một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của luận
điểm đó.
Qua gần 20 năm đổi mới, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và tính tích cực, sáng
tạo của nhân dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang từng bước được xây dựng. Nền dân
chủ XHCN với Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã được thiết định trên
những đường nét cơ bản. Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sự thống nhất
trong đa dạng đã hình thành. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nền tảng là liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ngày càng được củng cố,
thực sự trở thành một động lực quan trọng của đổi mới đất nước…
Bên cạnh những thành tựu, tiến bộ đã đạt được sau gần 20 năm đổi mới, vẫn còn
những yếu điểm làm gay gắt những mâu thuẫn của quá trình phát triển, ví dụ: Sự phân
hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội... Là những hạn chế đòi hỏi cần có sự
quan tâm, phương pháp giải quyết nhằm thúc đẩy sự đi lên của nước ta, đưa nước ta thực
sự trở thành nền kinh tế thị trường, sánh vai cùng các nước trên thế giới.
Để đưa công cuộc đổi mới tiếp tục tiến lên, chúng ta phải giải quyết những mâu
thuẫn còn tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế và đồng thời với mong muốn tìm hiểu
sâu về các quan điểm lí luận cũng như nền kinh tế Việt Nam của bản thân, em quyết định
viết để tài: “ Phép biện chứng về mâu thuẫn và vận dụng phân tích mâu thuẫn biện chứng
trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”.Do kiến
thức và kinh nghiệm còn hạn chế, bài tiểu luận của em không tránh khỏi thiếu sót, mong

các thầy cô có thể bỏ qua đồng thời góp ý giúp bài tiểu luận của em trở nên hoàn thiện
hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
2
I. Quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật
1. Khái quát lịch sử phát triển của phép biện chứng
Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại, và từ đó đến nay lịch sử phát triển của nó
đã trải qua nhiều gian đoạn khác nhau gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn.
Từ phép biện chứng mộc mạc, chất phác thời cổ đại đã thể hiện rõ những tư tưởng biện
chứng khá sâu sắc như mối quan hệ quy định lẫn nhau tạo ra sự thống nhất giữa cái bất
biến với cái biến đổi, giữa cái duy nhất với số nhiều, bất kỳ sự vật nào cũng là thể thống
nhất của hai mặt đối lập vừa xung khắc nhau, vừa nương tựa vào nhau, vừa bao hàm lẫn
nhau. Thế giới vật chất tồn tại trong sự hình thành, vận động vĩnh viễn của sự thống nhất
giữa các mặt đối lập… Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là tính tự phát, ngây
thơ. Cho dù còn nhiều hạn chế, nhưng nhìn chung phép biện chứng cổ đại đã coi thế giới
là chỉnh thế thống nhất giữa các bộ phận của thế giới có mối lien hệ qua lại, thâm nhập,
tác động và quy định lẫn nhau, thế giới không ngừng vận động, biến đổi. Tiếp theo đó là
phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức và đỉnh cao là phép biện chứng duy
tâm của Hêghen. Về hình thức, phép biện chứng này bao quát cả 3 lĩnh vực: logic thuần
túy, tự nhiên, biện chứng của toàn bộ quá trình lịch sử. Về nội dung, phép biện chứng chia
thành tồn tại, bản chất và khái niệm. Phép biện chứng trong giai đoạn này là sự phát triển
từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, từ chất này sang chất khác nhờ giải quyết mâu thuẫn.
Phát triển được coi là sự tự phát triển, và là nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng
với phạm trù trung tâm là “tha hóa” và khẳng định “tha hóa được diễn ra ở mọi nơi, mọi
lúc trong cả tự nhiên, xã hội và tinh thần”.k
Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức thời kỳ này đã xây dựng
được hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh trong một chừng mực nhất định và đã trở
thành một phương pháp tư duy triết học phổ biến. Tuy nhiên nó vẫn tồn tại một số mặt
hạn chế nhất định và sau này sẽ bị phủ định, thay thế bằng phép biện chứng duy vật.

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và
phương pháp biện chứng, giữa lý luận nhận thức và logic biện chứng. Sự ra đời của phép
3
biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học, là phương
pháp tư duy khác về chất so với những phương pháp tư duy trước đó. “Nó xem xét những
sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau,
trong sự rằng buộc, sự vẫn động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”. Phép biện
chứng duy vật thể hiện ở 2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù và 3 quy luật.k
2. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
2.1. Hai nguyên lý
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Các sự vật, hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau đến thế nào đi
chăng nữa thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất.
Nó có tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau tạo nên sự phát triển. Trong hoạt động thực
tiễn, phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến.
*Nguyên lý về sự phát triển
Mọi sự vật hiện tượng đều vận động từ thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quá trình đó diễn ra làm cho sự vật, hiện tượng cũ
mất đi, sự vật, hiện tượng vật chất mới ra đời. Phát triển là tự thân, có mặt trong cả tự
nhiên, xã hội và tư duy, rất đa dạng và phong phú. Động lực của sự phát triển là mâu
thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng. Phát triển đi theo đường xoáy ốc,
cái mời dường như lặp lại một số điểm của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn.k
2.2. Ba quy luật
* Quy luật lượng chất
Mọi sự vật đều có lượng và chất. Lượng là tính quy định, thuộc tính vốn có của sự
vật. Chất là cái để phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vât, hiện tượng khác. Mối sự
vật đều là sự thống nhất giữa chất và lượng. Lượng biến đổi đạt tới điểm nút, phá vỡ độ
cũ thì chất của sự vật thay đổi căn bản. Sự vật biến thành sự vật khác. Lượng biến đổi,

