
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN ĐÌNH SƠN
MSHV: 23C56059
VẬN DỤNG HAI NGUYÊN LÝ
CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
TRONG VIỆC NGHIÊN PHẢN ỨNG HỮU CƠ
Tiểu luận Triết học
Chương trình cao học và nghiên cứu sinh
không chuyên ngành Triết học
TP. HỒ CHÍ MINH – 2024

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VẬN DỤNG HAI NGUYÊN LÝ
CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU PHẢN ỨNG HỮU CƠ
Tiểu luận Triết học
Chương trình cao học và nghiên cứu sinh
không chuyên ngành Triết học
NGUYỄN ĐÌNH SƠN
MSHV: 23C56059
SBD: TR0159
Học viên Khoa Hóa học
TP. HỒ CHÍ MINH – 2024

Mục lục
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................1
Chương 1:......................................................................................................................2
HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT......................................2
1.1. Phép biện chứng: [1]..........................................................................................................2
1.2. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:[2]................................................................................3
1.3. Nguyên lý về sự phát triển: [2]...........................................................................................4
Chương 2:......................................................................................................................5
VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN TRONG VIỆC
NGHIÊN CỨU PHẢN ỨNG HỮU CƠ.......................................................................5
2.1. Khái quát về phản ứng hữu cơ:.........................................................................................5
2.2. Việc nghiên cứu về phản ứng hữu cơ ở Việt Nam:.............................................................5
2.3. Vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vào việc nghiên cứu các phản ứng hữu cơ.. 6
2.4. Vận dụng nguyên lý về sự phát triển vào việc nghiên cứu các phản ứng hữu cơ:..........11
KẾT LUẬN.................................................................................................................13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................14

1
MỞ ĐẦU
Đời sống của con người nói riêng và của mọi sinh vật nói chung luôn gắn liền
với thế giới tự nhiên. Tự nhiên là cội nguồn của sự sống, quyết định sự tồn tại của con
người, và ngược lại, con người với sự hiểu biết và khả năng sáng tạo của mình cũng
định hình số phận của tự nhiên thông qua các hoạt động sản xuất và phát triển khoa
học. Một trong những khía cạnh nổi bật nhất trong mối quan hệ này là sự phát triển của
hóa học hữu cơ, nơi con người khai thác, biến đổi các nguồn nguyên liệu từ tự nhiên
thành các sản phẩm có giá trị, phục vụ cuộc sống và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Từ những phản ứng đơn giản như lên men, đến các phương pháp tổng hợp phức
tạp trong dược phẩm, hóa học hữu cơ đã và đang tạo nên nền tảng vững chắc cho nhiều
ngành công nghiệp hiện đại. Khả năng của con người không chỉ dừng lại ở việc hiểu và
điều khiển các phản ứng hóa học, mà còn mở rộng trong việc nghiên cứu, phát triển các
công nghệ mới nhằm tối ưu hóa và tạo ra các phản ứng an toàn, hiệu quả và thân thiện
với môi trường. Để làm được điều này, việc vận dụng những nguyên lý triết học, đặc
biệt là phép biện chứng duy vật, đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và nâng
cao nhận thức về quá trình nghiên cứu các phản ứng hữu cơ.
Vậy triết học, được mệnh danh là "khoa học của mọi khoa học", có vai trò như
thế nào trong việc định hướng và phát triển nghiên cứu các phản ứng hữu cơ? Trong
phạm vi bài tiểu luận này, em sẽ làm rõ vấn đề “Vận dụng hai nguyên lý của phép biện
chứng duy vật trong việc nghiên cứu phản ứng hữu cơ”, cụ thể thông qua hai nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Qua đó, bài viết sẽ phân tích các
yếu tố liên kết giữa các phản ứng hóa học, đồng thời làm rõ sự tiến bộ liên tục của các
phương pháp tổng hợp hóa học hữu cơ.
Bài tiểu luận này là sự tổng hợp và vận dụng những kiến thức đã học từ giáo
trình Triết học, kết hợp với các nghiên cứu và tài liệu tham khảo khác. Tuy nhiên, với
khả năng hiểu biết còn hạn chế, em rất mong nhận được sự đánh giá, nhận xét từ
thầy/cô để bài viết có thể hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!.

2
Chương 1:
HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.1. Phép biện chứng: [1]
Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ, sự vận động và phát triển.
Phép biện chứng là học thuyết về các mối quan hệ, sự vận động và phát triển. Học
thuyết chính là sản phẩm của nhận thức nên khi nhận thức của con người thay đổi thì
học thuyết cũng sẽ được thay đổi. Với tư cách là học thuyết, phép biện chứng thể hiện
tri thức của con người về các mối liên hệ, về sự vận động và phát triển.
Phép biện chứng – là học thuyết về các mối liên hệ, về sự vận động và phát triển.
Và với tư cách là học thuyết, phép biện chứng thể hiện tri thức của con người về các
mối liên hệ, về sự vận động và phát triển.
Phép biện chứng vừa là lý luận, vừa là phương pháp:
Là lý luận vì phép biện chứng là học thuyết về các mối liên hệ, học thuyết về sự vận
động và phát triển.
Là phương pháp vì phép biện chứng là hệ thống những những yêu cầu đòi hỏi con
người phải thực hiện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Học thuyết là sản phẩm của quá trình nhận thức, nó thể hiện trình độ nhận thức của
con người. Mà sự hiểu biết và nhận thức con người thì không cố định, nó luôn vận
động thay đổi theo thời gian, nên các học thuyết trong lịch sử cũng thay đổi, và các nội
dung của “phép biện chứng” cũng khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử. Căn cứ vào
sự vận động, thay đổi của phép biện chứng, người ta chia lịch sử của “phép biện
chứng” thành 3 hình thức cơ bản (3 hình thức lịch sử) của “phép biện chứng”.
Phép biện chứng tự phát (chất phác): Học thuyết về các mối liên hệ, về sự vận động
và phát triển ra đời vào thời kỳ cổ đại, mang tính tự phát. Nội dung của học thuyết
này vẫn còn mang nặng tính ngây thơ, chất phác. Tiêu biểu cho phép biện chứng
chất phác thời cổ đại ở phương Đông là quan điểm về Âm Dương, Ngũ hành ở
Trung Quốc. Tiêu biểu cho phép biện chứng chất phác thời cổ đại ở phương Tây là
quan điểm của Hêraclit ở Hy Lạp.
Phép biện chứng duy tâm: Học thuyết về các mối liên hệ, về sự vận động và phát
triển của các nhà triết học duy tâm, phổ biến vào thế kỷ thứ XIX trong triết học cổ
điển Đức. Phép biện chứng duy tâm đạt đến đỉnh cao trong triết học của Heghen. Về

