
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ DỰ ÁN CARD
004/04VIE
Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn dạng
công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm tra chất
lượng, quản lý sau thu hoạch cho ngành sản xuất Rau của
Việt Nam
MS3: Báo cáo tiến độ 6 tháng lần thứ 2
Ngày 31 tháng 7 năm 2006
1

1.Thông tin về các cơ quan tham gia dự án
Tên dự án Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn
dạng công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm
tra chất lượng, quản lý sau thu hoạch cho ngành
sản xuất Rau của Việt Nam
Phía Việt Nam Viện Nghiên cứu Rau quả (RIFAV) Trâu Quỳ - Gia
Lâm - Hà Nội
Chủ trì dự án phía Việt Nam PGS.TS. Trần Khắc Thi
Tổ chức phía Australia Bộ Nông nghiệp NSW DPI - Viện nghiên cứu Rau hoa
quả GOSFORD - NCGH
Chủ trì dự án phía Australia Dr. Nguyễn Quốc Vọng
Thời gian phê duyệt 30 tháng 9 năm 2005
Thời gian kết thúc (dự kiến
lúc đầu)
30 tháng 9 năm 2007
Thời gian kết thúc 30 tháng 9 năm 2007 (do chậm trễ khi ký hợp đồng)
Báo cáo tiến độ Báo cáo 6 tháng lần thứ hai
Các quan chức liên quan
Phía Australia: trưởng nhóm
Tên Dr. Nguyễn Quốc Vọng/Dr.
Suzie Newman
Điện
thoại
61 02 4348 1927
Chức vụ Chuyên gia nghiên cứu Rau
quả
Fax: 61 02 4348 1910
Cơ quan NSW DPI Email Vong.nguyen@dpi.nsw.gov.au
sizie.newman@dpi.nsw.gov.au
Phía Australia : cơ quan hành chính
Tên Graham Denney Điện
thoại
02 4348 1927
Chức vụ Cán bộ quản lý hành chính Fax: 02 4348 1910
Cơ quan NSW DPI Email Graham.denney@dpi.nsw.gov.au
Phía Việt Nam
Tên PGS.TS. Trần Khắc Thi Điện
thoại
84 4 8276 316
Chức vụ Phó viện trưởng Fax: 84 4 8276 148
Cơ quan Viện Nghiên cứu Rau quả -
Trâu quỳ - Gia Lâm - Hà Nội
Email Tkthi@vnn.vn
ngotranglinh@yahoo.com
2

2. Trích lược dự án
Tồn dư thuốc BVTV là nguyên nhân chính gây ô nhiễm rau ở Việt Nam. Đã có nhiều
phương pháp phát triển rau an toàn được Bộ NSW - DPI đưa ra trong dự án CARD-
0016, 2001-2003 nhưng điều này chỉ có thể thực hiện khi có sự kết hợp giữa Nghiên
cứu và phát triển. Dự án này sẽ giải quyết vấn đề thực phẩm an toàn và chất lượng cao
từ sản xuất đến thị trường để khuyến khích phát triển kinh tế và phát triển bền vững
ngành rau Việt Nam. Mục tiêu của dự án là:
1. Tăng cường khuyến khích phát triển sản xuất rau theo công nghệ từ thấp đến trung
bình hạn chế sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật thông qua hoạt động nghiên cứu và
khuyến nông
2. Kiểm tra những khó khăn của dây chuyền cung ứng và sử dụng nguyên tắc bảo đảm
chất lượng.
3. Tăng cường năng lực nghiên cứu, giảng dạy và khuyến nông cho Việt Nam để sản
xuất rau trong nhà lưới, quản lý sau thu hoạch và hệ thống bảo đảm chất lượng.
Dự án này được bắt đầu dựa trên những mục tiêu đó thông qua các nội dung:
1. Nghiên cứu xây dựng mô hình thí nghiệm tại Hà Nội và Lâm Đồng để xác định giá
thể phù hợp cho sản xuất cà chua, dưa chuột trồng thuỷ canh trong nhà lưới
2. Hội thảo tập huấn cho hơn 200 cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và nông dân
tiên tiến ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
3. Tư vấn cho cán bộ của Trung tâm công nghệ cao Hà Nội và Hải Phòng
3. Báo cáo tóm tắt
Với hệ thống nhà lưới người trồng rau sẽ có cơ hội sản xuất rau an toàn chất lượng cao.
Mục tiêu chính của dự án này là cung cấp cho các nhà khoa học, cán bộ khuyến nông
Việt Nam những kiến thức cũng như công cụ thực hiện và áp dụng trong điều kiện sản
xuất rau của Việt Nam và dây chuyền cung ứng. Dự án CARD-004/04Vietnam :"Nâng
cao chất lượng và an toàn cho rau ở Việt Nam" được bắt đầu thực hiện từ tháng 9/2005.
Chủ trì dự án phía Việt Nam là Viện Nghiên cứu Rau quả có sự phối hợp của Trường
Đại học Nông lâm Huế và Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam. NSW DPI
là cơ quan chủ trì phía Australia . .
Những kết quả chính đạt được trong 6 tháng lần thứ hai thực hiện dự án bao gồm:
1. Tổ chức thành công hai hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội vào tháng 2
năm 2006 cho hơn 150 đại biểu bao gồm: người sản xuất, nhà bán buôn, bán lẻ và
các cán bộ khuyến nông. Chương trình hội thảo gồm các bài trình bày của các thành
viên của dự án từ phía Úc và Việt Nam trên các lĩnh vực như: hệ thống sản xuất rau
trong trong nhà lồng, quản lý chuỗi cung ứng và thực hành nông nghiệp tốt (GAP).
2.Hai mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau đối với sự sinh
trưởng, phát triển của cà chua và dưa chuột đã được hoàn thành vào tháng 3 năm
2006.
3

3. Xây dựng các thí nghiệm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Rau hoa quả Gosford để
kiểm tra đặc tính lý, hoá học của xơ dừa Việt Nam để xác định sự sự dụng nước của
các loại giá thể khác nhau ( bao gồm cả xơ dừa) để sane xuất cà chua và dưa chuột
trong nhà kính.
4. Chuyến công tác của đoàn chuyên gia Úc vào tháng 2 và tháng 5 năm 2006 đã thuận
tiện cho kế hoạch tổ chức hội thảo, nghiên cứu, tập huấn và các hoạt động chuyển
giao.
4. Giới thiệu và bối cảnh
Mục tiêu chung của dự án:
Với hệ thống nhà lưới người trồng rau sẽ có cơ hội sản xuất rau an toàn chất lượng cao
giảm thuốc BVTV. Dự án trước đây AusAID-CARD0016 chú trọng đến việc phát triển
rau trong nhà lưới dạng công nghệ thấp để tăng cường sản lượng và sự ổn định cho
ngành Rau của Việt Nam. Nhà lưới này sử dụng giá thể xơ dừa với hệ thống tưới nhỏ
giọt đạt hiệu quả, do vậy khả năng chuyển giao của công nghệ này được chấp nhận và
có thể chuyển giao rộng rãi. Dự án tập trung vào việc cung cấp các vật tư, trang thiết bị
thích hợp cho sản xuất rau trong nhà lưới dạng công nghệ thấp - trung bình để đưa ra
sản phẩm chất lượng cao cho thị trường. Điều này đạt được thông qua những khoá đào
tạo chính quy và phi chính quy gồm các hội thảo tổ chức trong nước. Những chương
trình đào tạo cơ bản cho các cán bộ nghiên cứu, khuyến nông và nhiều mô hình nghiên
cứu. Dự án này sử dụng những nghiên cứu tiếp cận để khuyến khích sự sáng tạo của các
cơ quan nghiên cứu, nông dân, khuyến nông và các thành viên tham gia vào chuỗi cung
ứng.
Mục tiêu cụ thể của dự án này là:
1. Áp dụng các công nghệ sản xuất rau từ thấp đến trung bình trong nhà lưới có sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật với một lượng nhỏ thông qua mục tiêu nghiên cứu và
hoạt động khuyến nông
2. Nghiên cứu các dây chuyền cung ứng phổ biến và sử dụng nguyên tắc quản lý chất
lượng để thực hiện mục tiêu tăng cường;
3. Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển của người Việt Nam tại những vùng
sản xuất rau trong nhà lưới, quản lý sau thu hoạch và hệ thống bảo đảm chất lượng.
Sáu nhà khoa học từ RIFAV, IAS, HUAF học tập được kinh nghiệm ở Australia sẽ
trợ giúp thiết lập các mô hình khảo nghiệm tại những vùng của họ ở Việt Nam.
Khoảng 300 cán bộ khuyến nông, bảo vệ thực vật, người buôn bán rau và nông dân
sản xuất rau từ 64 tỉnh thành trong cả nước sẽ tham gia trong các buổi tập huấn, hội
thảo do 4 nhà khoa học của Australia - thành viên tham gia dự án. Những cán bộ,
nông dân Việt Nam được tập huấn sẽ có tác động mạnh mẽ đến ngành rau của Việt
Nam nhằm tăng cường sản xuất và chất lượng cho rau an toàn đem lại lợi ích cho tất
cả người tiêu dùng.
4. Thiết lập mối liên kết giữa các nhà nghiên cứu, làm dịch vụ, sản xuất, và người trồng
trọt để nâng cao năng suất và cạnh tranh của nông dân Việt Nam và liên quan đến
phát triển nông thôn.
4

5. Tiến độ cho đến thời điểm báo cáo
5.1. Những điểm đáng chú ý
Hội thảo và làm việc với các thành viên của dự án
Trong giai đoạn này, đoàn chuyên gia Úc đã có hai chuyến công tác, chuyến công tác
đầu tiên vào tháng 2 năm 2006 bao gồm TS. Nguyễn, Newman, Parks và ông Ekman
với các cơ quan thành viên của dự án ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, làm việc
với các công tác ở Lâm Đồng và Hải Phòng. Các kết quả chính đạt được từ chuyến
công tác này là:
1. Đã tổ chức hai hội thảo ở Hà Nội và Hồ Chí Minh. Các hội thảo này với tiêu đề:
"Cải thiện chất lượng và sự an toàn rau của Việt Nam" bao gồm các bài trình bày về
hệ thống trồng rau trong nhà lồng, quản lý sau thu hoạch, đảm bảo chất lượng và
thực hành nông nghiệp tốt (GAP). Các bài trình bày tại hội thảo chủ yếu là của các
nhà khoa học Việt Nam và Úc. Hội thảo đã thu hút được khoảng 100 cán bộ khuyến
nông, bảo vệ thực vật và 50 nhà kinh doanh và người sản xuất rau. Các đại biểu của
hội nghị đến từ 65 tỉnh thành của miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Một trong
những kết quả nổi bật của hội thảo là diễn đàn thảo luận và điều đó được đề nghị mở
rộng trong chương trình hội thảo trong thời gian tới.
2. Tham quan các mô hình trình diễn, các Trung tâm nhà lưới và các trang trại ở Hà
Nội, Hải Phòng và Lâm Đồng.
3. Phát triển mối quan hệ với Trung tâm công nghệ cao ở Hà Nội, Hải Phòng và thành
viên trong chuỗi cung ứng như Metro.
Chuyến công tác lần thứ hai của TS. Nguyễn vào tháng 5 năm 2006 nhằm tập trung
đánh giá kết quả của các mô hình thí nghiệm và chuẩn bị thời gian đào tạo tập huấn cho
các cán bộ Việt Nam trong dự án. Chuyến công tác này cũng đã đưa ra những cơ hội
kiểm tra đánh giá dự án và phát triển phương hướng trong tương lai.
Các bản báo cáo về chuyến công tác đã được hoàn thành sau mỗi chuyến công tác và
sẵn sàng theo yêu cầu từ đoàn chuyên gia tham gia dự án của Úc.
Các mô hình nghiên cứu của phía Việt Nam
Các mô hình nghiên cứu so sánh hiệu quả của các loại giá thể khác nhau trong sản xuất
dưa chuột và cà chua đã được hoàn thành tại Hà Nội và Lâm Đồng.
Tại Hà Nội
Mô hình thí nghiệm này được tiến hành tại Viện Nghiên cứu Rau quả (RIFAV). Thí
nghiệm đã so sánh sự phù hợp của 4 loại giá thể để sản xuất cà chua (giống VL2500) và
dưa chuột (giống Status). Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 5 lần
nhắc lại. Bốn loại giá thể đó là:
• Giá thể 1: Bã mía + Vỏ lạc + Đậu tương nghiền
• Giá thể 2: Bã mía + Vỏ lạc + Than bùn
• Giá thể 3: Bã mía + than bùn + Xỉ núi lửa
• Giá thể 4: Xơ dừa
5

