ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐÀO TIẾN QUÂN BẢO HỘ SÁNG CHẾ CHO DƢỢC PHẨM THEO

QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐÀO TIẾN QUÂN BẢO HỘ SÁNG CHẾ CHO DƢỢC PHẨM THEO

QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS

Chuyên ngành : Luật Quốc tế

Mã số

: 60 380108

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN NĂNG

Hà nội - 2014

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Khoa Luật, Đại

học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Sau đại học và Khoa Luật

Quốc tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu chương

trình Thạc sĩ khoá XV tại trường.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Phó Giáo sư -

Tiến sĩ Đoàn Năng, Bộ Khoa học và Công nghệ - Giảng viên Khoa Luật, Đại học

Quốc Gia Hà Nội người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành

Luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, cổ

vũ, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả Đào Tiến Quân

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,

có tham khảo các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác

và có dẫn nguồn cụ thể, các số liệu trích dẫn trong Luận văn hoàn toàn chính xác,

trung thực và có chỉ rõ nguồn.

Luận văn là công trình do tôi tự mình nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp và hoàn

thiện, không sao chép. Kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa từng được công bố

trong bất cứ công trình khoa học nào khác.

Người cam đoan Đào Tiến Quân

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU

1

9 Chƣơng 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SÁNG CHẾ DƢỢC

PHẨM VÀ BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM

1.1. Khái niệm về sáng chế dược phẩm, bảo hộ sáng chế dược phẩm 9

1.2. Đặc điểm của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm 10

1.3. Các dạng yêu cầu bảo hộ điển hình đối với sáng chế trong lĩnh vực 12

dược

1.4. Tính chất hai mặt của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm 27

1.4.1. Lợi ích của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm 27

1.4.2. Tác động tiêu cực của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm 29

1.5. Ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế cho dược phẩm 31

1.6. Cơ sở pháp lý quốc tế bảo hộ sáng chế dược phẩm 33

36 Chƣơng 2

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS LIÊN QUAN

ĐẾN BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM

2.1. Khái quát về Hiệp định TRIPS 36

2.2. Các quy định của Hiệp định TRIPS về bảo hộ sáng chế dược phẩm 39

2.2.1. Đối tượng của bảo hộ sáng chế dược phẩm 41

2.2.2. Tiêu chuẩn cấp bằng sáng chế dược phẩm 44

2.2.3. Nghĩa vụ công bố thông tin 47

2.2.4. Ngoại lệ cấp bằng độc quyền sáng chế dược phẩm 49

2.2.5. Nhập khẩu song song 59

2.2.6. Thời hạn bảo hộ sáng chế dược phẩm 64

2.2.7. Quy định về bảo vệ quyền đối với sáng chế dược phẩm 65

2.2.8. Quy định về việc thực thi sáng chế dược phẩm 65

2.2.9. Thời gian chuyển tiếp 69

2.3. Tuyên bố Doha năm 2001 về Hiệp định TRIPS và Y tế công cộng 70

74 Chƣơng 3

THỰC TRẠNG BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM TRÊN THẾ

GIỚI, Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.1. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm trên thế giới 74

3.1.1. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Hoa Kỳ 74

3.1.2. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Thái Lan 75

3.1.3. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Ấn Độ 78

3.1.4. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Trung Quốc 80

3.2. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Việt Nam 81

3.2.1. Tổng quan về ngành dược của Việt Nam 81

3.2.2. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam 84

3.3. Nguyên tắc và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo 90

hộ sáng chế dược phẩm

3.3.1. Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hội sáng chế 90

dược phẩm

3.3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng 94

chế dược phẩm

3.3.2.1. Sửa đổi Điều 136 và Điều 142 Luật SHTT 97

3.3.2.2. Kiến nghị cần có quy định thống nhất trong Luật SHTT năm 97

2005 (sửa đổi năm 2009), Luật khám chữa bệnh năm 2009 và Luật

dược năm 2005.

3.3.2.3 Kiến nghị về việc Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp 99

định TRIPS

3.3.2.4. Các giải pháp khác hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ 105

sáng chế dược phẩm

106

3.3.2.5 Kiến nghị về sáng chế dược phẩm và khuyến nghị đối với Việt Nam trong đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

111 KẾT LUẬN

115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Association of South – East Asian Hiệp hội các quốc gia Đông

Nation Nam Á

BBCGQSDSC Bắt buộc chuyển giao quyền

sử dụng sáng chế

“Evergreening” Là chiến lược đăng ký sáng chế bao gồm việc đăng ký sáng chế

cho những biến đổi nhỏ, thường là ít quan trọng, của sản phẩm

dược hoặc quy trình đã biết nhằm kéo dài một cách gián tiếp thời

hạn bảo hộ sáng chế cho hợp chất đã được cấp bằng độc quyền

sáng chế trước đó.

EPO: European Patent Office Cơ quan Sáng chế châu Âu

GPHI: Giải pháp hữu ích

NOIP: National Office of Intellectual Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Property (of Vietnam)

Organization for Economic Co- OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển

operation and Development Kinh tế

PCT: Patent Cooperation Treaty Hiệp ước Hợp tác sáng chế

SHTT: Sở hữu trí tuệ

SHCN: Sở hữu công nghiệp

QCN: Quyền con người

Thuốc Generic Thuốc không được bảo hộ

sáng chế

TRIPs: Agreement on Trade-Related Hiệp định về các khía cạnh

Aspects of Intellectual Property liên quan đến thương mại của

Rights quyền sở hữu trí tuệ

USPTO: United States Patent and Cơ quan Sáng chế và Nhãn

Trademark Office hiệu Hoa Kỳ

WIPO: World Intellectual Property Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

Organization

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ

1. Danh mục bảng

Bảng 3.1. Đơn sáng chế nộp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010 84

Bảng 3.2. Đơn Giải pháp hữu ích nộp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010 84

Bảng 3.3. Bằng độc quyền sáng chế cấp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010 85

Bảng 3.4. Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích cấp tại Việt Nam từ năm 2005 85

tới 2010

2. Danh mục sơ đồ, biểu đồ

Biểu đồ 83 Dự báo tiền thuốc sử dụng sau 5 năm tại Việt Nam (các năm 2003-2014) 3.1.

Biểu đồ Dự báo thị trường dược phẩm Việt Nam (các năm 2002-2013) 83 3.2.

Biểu đồ Mối quan hệ giữa tổng số đơn sáng chế và đơn sáng chế dược 86 3.3. phẩm nộp tại Việt Nam (từ 2005 tới 2010)

Biểu đồ Mối quan hệ giữa tổng số đơn sáng chế và đơn sáng chế dược 87 3.4. phẩm nộp tại Việt Nam của người Việt Nam (từ 2005 tới 2010)

Biểu đồ Số lượng đơn sáng chế dược phẩm nộp tại Việt Nam (từ 2005 tới 88 3.5. 2010)

Biểu đồ 88 Số lượng Bằng độc quyền sáng chế dược phẩm được cấp tại Việt Nam (từ 2005 tới 2010) 3.6.

Biểu đồ Số đơn nộp và số bằng cấp ra trong lĩnh vực dược phẩm tại Việt 89 3.7. Nam (Từ 2005 tới 2010)

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việc bảo hộ sáng chế tác động mạch mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh những tác động tích cực, bảo hộ sáng chế cũng có những ảnh hưởng tiêu

cực nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa

và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc bảo hộ sáng chế trở thành thách thức lớn

cho các quốc gia đang phát triển khi phải thực hiện các cam kết rất cao trong WTO

về bảo hộ quyền SHTT theo tiêu chuẩn của hiệp định TRIPS.

Với việc tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập năm 1994, một

điều ước toàn diện nhất về quyền sở hữu trí tuệ đã ra đời: Hiệp định về các khía

cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (TRIPS). Hiệp định này đầu tiên

gắn kết các vấn đề về SHTT và thương mại và cung cấp một cơ chế đa phương cho

việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. Hiệp định TRIPS yêu cầu tất cả các

thành viên WTO phải đưa vào luật của quốc gia mình những tiêu chuẩn quốc tế tối

thiểu cho hầu hết các quyền trong lĩnh vực này, như bản quyền tác giả, độc quyền

đối với sáng chế và nhãn hiệu. Hiệp định đã cơ bản hạn chế các quốc gia tự do thiết

lập và thi hành hệ thống sở hữu trí tuệ của họ. Theo Hiệp định, tất cả các nước

thành viên WTO buộc phải thực hiện thời hạn bảo hộ tối thiểu là 20 năm cho bất kỳ

sáng chế dược phẩm hay quy trình sản xuất dược phẩm nào đạt các tiêu chuẩn về

tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng. Nghĩa vụ này không được quy định

trong các điều ước quốc tế trước đó, vì không điều ước nào quy định các chuẩn mực

tối thiểu cho quyền SHTT. Trước khi đàm phán Hiệp định TRIPS, hơn 50 quốc gia

không bảo hộ các sáng chế dược, nhiều nước chỉ bảo hộ quy trình chứ không bảo hộ

sản phẩm, còn ở nhiều nước khác thì thời hạn bảo hộ sáng chế không đến 20 năm.

Phải thừa nhận rằng cơ chế hiện tại về bảo hộ sáng chế, vốn đã được “toàn

cầu hóa” theo Hiệp định TRIPS, có ảnh hưởng không nhỏ đến lĩnh vực dược.

Nhưng có thể thấy rằng các tiêu chuẩn của TRIPS không hẳn đã phù hợp với các

quốc gia đang cố gắng để đáp ứng các nhu cầu về y tế và phát triển. Do đó, Ủy ban

1

SHTT Anh (CIPR) trong báo cáo năm 2002 đã cảnh báo các quốc gia “phải đảm

bảo cơ chế bảo hộ quyền SHTT của họ không đi ngược lại các chính sách y tế cộng

đồng, và phải mang tính phù hợp và hỗ trợ cho những chính sách đó”.

Chúng ta có thể thấy thế giới chưa bao giờ có được một phương pháp điều trị

hàng loạt để chữa trị những căn bệnh mà con người đang phải chịu đựng. Trong khi

đó, nhiều người chết vì thiếu một số thuốc hoặc vacxin nào đó. Điều này không chỉ

đúng đối với các bệnh mới phát hiện như Ebola, bò điên, SARS, cúm tuýp A/H5N1,

cúm tuýp A/H1N1… mà còn đúng đối với những mối đe dọa nghiêm trọng từ sự

kháng thuốc trong các căn bệnh chết người như AISD, lao, viêm màng não, viêm

phổi.

Để phát triển những loại thuốc mới, phải có một cơ chế thúc đẩy đổi mới và

phát triển sản phẩm mới, trong khi cùng lúc phải đảm bảo rằng người bệnh có thể

nhanh chóng tiếp cận được thành quả của những nghiên cứu này.

Việc thông qua tuyên bố Bộ trưởng Doha về Hiệp định TRIPS và Sức khỏe

cộng đồng là kết quả của mối quan tâm ngày càng gia tăng về cách mà các hiệp

định thương mại quốc tế, nhất là Hiệp định TRIPS của WTO có thể hạn chế khả

năng tiếp cận thuốc. Tuyên bố đã ghi một dấu ấn quan trọng trong cuộc chiến giữa

quyền SHTT và quyền tiếp cận thuốc, bằng việc khẳng định rằng Hiệp định TRIPS

có thể được hiểu và được thực hiện theo cách hỗ trợ các quốc gia có thể áp dụng các

biện pháp để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy khả năng tiếp cận thuốc. Một

quy định linh hoạt TRIPS nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy khả năng

tiếp cận thuốc. Một quy định linh hoạt quan trọng trong lĩnh vực này là các nước

thành viên WTO có quyền xác định các tiêu chí bảo hộ như quy định trong TRIPS

sao cho phù hợp với những đặc điểm riêng của quốc gia mình. Đây có thể là một

công cụ hữu hiệu nhằm thúc đẩy những dược phẩm thực sự mới và có trịnh độ sáng

tạo.

Lĩnh vực dược là một trong số các lĩnh vực kỹ thuật chính trong hệ thống

đăng ký bảo hộ sáng chế. Trong khi chỉ có một số lượng nhỏ và ngày càng cắt giảm

- các thực thể hóa học mới được cấp đăng ký lưu hành mỗi năm, thì có đến hàng

nghìn đơn đăng ký sáng chế được nộp nhằm mục đích bảo hộ các biến thể khác

nhau của sản phẩm, quy trình sản xuất vốn đã tồn tại, hoặc nếu được cấp phép, là

2

bảo hộ cho các chỉ định thứ lần thứ hai của sản phẩm dược đã biết.

Do bằng độc quyền sáng chế mang lại độc quyền cho việc sản xuất, bán và

sử dụng đối tượng được bảo hộ, nên chúng có thể được sử dụng để hạn chế cạnh

trạnh và đưa ra giá bán cao hơn với giá trị của nó trong trường hợp có các sản phẩm

cạnh tranh. Đây là mục đích chính của hệ thống bảo hộ sáng chế, một hệ thống nhìn

chung được coi là cần thiết để khuyết khích đầu tư nhằm phát triển các sản phẩm và

quy trình mới.

Việc bảo hộ sáng chế có thể ảnh hưởng đáng kể đến cạnh tranh và theo đó là

giá thuốc, nên các tiêu chuẩn được áp dụng trong công tác thẩm định và cấp bằng

độc quyền đối với sáng chế trong lĩnh vực dược không những có liên quan đến

chính chính sách bảo hộ sáng chế và công nghiệp, mà còn liên quan mật thiết dến

chính sách y tế cộng đồng. Các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực y tế, cần

nhận thức được rằng các quyết định liên quan tới việc cấp bằng độc quyền sáng chế

(được coi là có hiệu lực cho đến khi có bằng chứng để hủy bỏ hiệu lực) có thể tác

động trực tiếp tới công tác y tế và đời sống của nhân dân ở quốc gia nơi sáng chế

được bảo hộ và thực thi.

Ở Việt Nam Công nghiệp dược vẫn phát triển ở mức trung bình - thấp, chưa

sáng chế được thuốc mới và hiện chỉ có hơn 52% doanh nghiệp dược đủ tiêu chuẩn

sản xuất thuốc. Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là thuốc đồng dạng (generic),

không có giá trị cao, mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc nội địa.

Nguyên liệu phải nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Ấn Độ, khiến cho các doanh

nghiệp dược trong nước phải đối mặt với các khó khăn về giá. Trình độ công nghệ

thấp trong khi nguồn nhân lực có trình độ còn ít, cản trở việc tiếp cận công nghệ, cải

thiện quy mô sản xuất của công nghiệp dược trong nước. Bên cạnh đó, đặc biệt

quan trọng trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế dược phẩm là cân bằng lợi ích giữa chủ

sở hữu sáng chế và lợi ích của xã hội, lợi ích quốc gia là nguyên tắc cơ bản, xuyên

suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng như thực thi pháp luật trên

thực tế. Việc tăng cường bảo hộ mạnh quyền SHTT khi Việt Nam hội nhập sâu vào

quá trình toàn cầu hóa sẽ mang đến cho Việt Nam nhiều thách thức hơn là cơ hội.

Xuất phát từ thực tế trên, là học viên cao học chuyên ngành Luật Quốc tế,

học viên đã lựa chọn đề tài: “Bảo hộ sáng chế cho dược phẩm theo quy định của

3

hiệp định TRIPS” cho luận văn tốt nghiệp.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

2.1. Trên thế giới:

Trên thế giới khái niệm “bảo hộ sáng chế” đã ra đời từ rất sớm. Nhưng đối

với “bảo hộ sáng chế dược phẩm” thì trong lịch sử, bằng sáng chế đối với sản phẩm

này đã bị loại trừ ở các nước phát triển nhất. Ở Pháp, bảo vệ bằng sáng chế dược

phẩm bị pháp luật cấm từ ngày 5/7/1844 và mãi đến ngày 2/1/1966 Pháp luật mới

phát triển và giới hạn bằng sáng chế đối với sản phẩm này. Ở Đức, bằng sáng chế

với dược phẩm đã bị loại trừ theo Luật từ ngày 25/5/1877 và chỉ được pháp luật bảo

hộ lại từ ngày 4/9/1967. Tại Thụy Sĩ, bằng sáng chế cho sản phẩm dược đã bị cấm

trong Hiến pháp trong một thời gian dài và chỉ được giới thiệu vào năm 1977. Ở Ý,

bằng sáng chế dược phẩm đã bị cấm đến năm 1978. Còn ở Tây Ban Nha, bằng sáng

chế dược phẩm đã được giới thiệu vào năm 1986 như một hệ quả cho việc gia nhập

vào cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC). Tương tự, sản phẩm dược được cấp bằng

sáng chế cũng bị loại trừ ở các nước đang phát triển. Gần 50 nước đang phát triển

không cấp bằng bảo hộ cho các loại thuốc cho đến khi vòng đám phán Urugoay đã

bắt đầu vào năm 1986 và thật sự phát triển khi Hiệp định TRIPS ra đời, và những

năm gần đây nó đã thật sự bùng nổ mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi [44, tr.4]. Hàng

loạt công trình nghiên cứu được công bố tại các hội thảo:

- Presentation: “Intellectual Property Issues Facing the Pharmaceutical

Industry,” Protecting Intellectual Property Rights in the Global Marketplace, US

State Department Program for Latin American Intellectual Property Specialists,

Washington, DC, June 16, 2005 (Trình bày: "Đối mặt với vấn đề sở hữu trí tuệ công

nghiệp dược phẩm," Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong các thị trường toàn cầu,

Chương trình của Bộ Ngoại giao Mỹ cho chuyên gia người Mỹ Latin về Sở hữu trí

tuệ, Washington, DC, 16 tháng sáu năm 2005);

- Presentation: “TRIPs, Doha, Cancun and Access to Medicines,” Meeting of

the General Counsels‟ Committee, BIO (Biotechnology Industry Association),

Boston, MA, October 20, 2003 (Trình bày: "TRIPs, Doha, Cancun và tiếp cận

thuốc," Hội nghị của Ủy ban Tư vấn, BIO (Hiệp hội Công nghiệp Công nghệ sinh

4

học), Boston, MA, ngày 20 Tháng Mười năm 2003);

- Roundtable Participant: “Intellectual Property Protection for

Pharmaceuticals: Emerging Issues in the Global Economy,” The Pfizer Journal,

Global Edition Volume 1, Number 2 (2000). (Hội nghị bàn tròn: " Bảo vệ sở hữu trí

tuệ cho dược phẩm: Những vấn đề đang nổi lên trong nền kinh tế toàn cầu," Tạp chí

Pfizer, Global Edition Volume 1, số 2 (2000);

Nhận thức được tầm quan trọng trong việc bảo hộ sáng chế cho các sản phẩm

dược, các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Canada… đã ban hành những đạo

luật riêng về vấn đề này như Luật sáng chế dược…Các quốc gia đông dân nhất thế

giới như Trung Quốc, Ấn độ, Indonexia và cả Thái Lan, cũng đã ban hành những

đạo luật riêng.

2. Tại Việt Nam:

Việc bảo hộ độc quyền đối với sáng chế được thực hiện từ năm 1981 với

việc ban hành Nghị định số 31/CP về điều lệ sáng kiến cải tiến kỹ thuật - hợp lý hóa

sản xuất và sáng chế. Đây cũng là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam đề cập

đến việc bảo hộ sáng chế. Tuy nhiên, phải đến năm 1984 đơn đăng ký sáng chế về

dược phẩm đầu tiên mới được thực hiện bởi Viện Dược liệu đăng ký cho phương

pháp điều chế diosgenin. Từ đó đến nay, các sản phẩm như hợp chất hoá học sử

dụng làm thuốc, hỗn hợp các hợp chất, dược phẩm đều được đăng ký dưới dạng

sáng chế. Ngoài ra, các quy trình như: Quy trình điều chế hợp chất, quy trình bào

chế dược phẩm, quy trình chiết hoạt chất từ dược liệu cũng được bảo hộ dưới dạng

Bằng độc quyền sáng chế. Sự gia tăng về số lượng đơn đăng ký sáng chế liên quan

đến lĩnh vực dược phẩm chỉ bắt đầu từ năm 1995, khi Việt Nam tham gia Hiệp ước

Hợp tác về sáng chế (Hiệp ước PCT) ngày 10.3.1993. Từ đó đến nay, Cục Sở hữu

trí tuệ đã nhận được 4.214 đơn đăng ký sáng chế liên quan đến lĩnh vực dược phẩm,

nhưng trong đó khoảng 90% đơn của người nước ngoài [8]. Đây là những bước đầu

tiên trên con đường hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam, các tập đoàn dược của

Việt Nam cũng đang rất chú trọng trong việc bảo hộ sáng chế cho các sản phẩm

dược do mình tạo ra. Bảo hộ sáng chế cho dược phẩm đã thu hút được sự quan tâm

nghiên cứu của nhiều cơ quan, các nhà khoa học, các chuyên gia cũng như các cơ sở

đào tạo Luật như đề tài “Tác động của các cơ chế về quyền sở hữu trí tuệ (IPR) đối

5

với giá dược phẩm ở Việt Nam - Việc áp dụng mô hình ảnh hưởng của IPR” do

nhóm nghiên cứu, bao gồm: TS Trịnh Hòa Bình, TS Trần Văn Hải, ThS Vũ Thị

Hiệp, ThS Nguyễn Thị Thúy Nga thực hiện với sự tài trợ của Tổ chức Y tế Thế giới

và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Xã hội học. Bên cạnh đó cũng có các

cuộc hội thảo: Ngày 28/10/2011, tại Hà Nội, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ

(KH&CN) đã phối hợp với Dự án USAID/STAR Việt Nam tổ chức Hội thảo thực

thi quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm; ngày 06/08/2007, tại Hà Nội,

Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp Dự án Việt Nam - Thụy

Sỹ về sở hữu trí tuệ tổ chức hội thảo "Bảo hộ sáng chế về dược phẩm và bảo vệ dữ

liệu thử nghiệm"…

3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài:

Nghiên cứu đề tài: “Bảo hộ sáng chế cho dược phẩm theo quy định của Hiệp

định TRIPS” giúp chúng ta làm rõ những vấn đề sau đây:

- Hệ thống các quy định của pháp luật quốc tế (đặc biệt là trong Hiệp định

TRIPS) liên quan đến bảo hộ sáng chế dược phẩm.

+ Các quy định trong Hiệp định TRIPS về bảo hộ sáng chế dược phẩm, các

điều ước quốc tế khác quy định về bảo hộ sáng chế dược phẩm.

+ Các quy định pháp luật quốc gia về vấn đề bảo hộ sáng chế dược phẩm,

tình hình xây dựng pháp luật về bảo hộ sáng chế dược phẩm để thấy được thực

trạng của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm. Công nghiệp dược phẩm đang được sự

quan tâm của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, việc nắm chắc các quy định

của pháp luật quốc tế và pháp luật của quốc gia khác sẽ tạo điều kiện cho việc áp

dụng và thực thi vấn đề này ở Việt Nam.

+ Các quan điểm của các chuyên gia, các nhà khoa học trên thế giới về vấn

đề bảo hộ sáng chế đối với dược phẩm.

- Căn cứ lý luận cho việc xây dựng pháp luật về vấn đề bảo hộ sáng chế dược

phẩm cho Việt Nam. Như chúng ta đã biết thì Việt Nam chưa có Luật sáng chế hay

Luật bằng sáng chế dược phẩm riêng. Với xu hướng phát triển của nền kinh tế như

hiện nay thì ban hành một đạo luật riêng cho lĩnh vực này có cần thiết đối với Việt

Nam.

- Đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật Việt Nam khi tham gia

6

vào sân chơi WTO trong đó có hiệp định TRIPS, Nghị định thư sửa đổi TRIPS,

Hiệp định TPP để thấy được những mặt tích cực và tiêu cực đối với vấn đề bảo hộ

sáng chế cho Dược phẩm.

4. Điểm mới của đề tài:

Thế kỷ XXI, với sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của công nghệ sinh

học - di truyền trong đó có công nghiệp dược phẩm. Việc bảo hộ sáng chế đối với

các sản phẩm Dược sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh hơn cho các công ty kinh

doanh trong lĩnh vực này. Hiện nay vẫn còn những tranh cãi xung quanh việc quy

định thời hạn bảo hộ sáng chế dược phẩm. Hội đồng TRIPS đã và đang thảo

luận/tham vấn/đàm phán trong vấn đề bảo hộ sáng chế dược phẩm theo hiệp định

TRIPs. Chính vì vậy vòng đàm phán Doha ra đời để bước đầu giải quyết những

khúc mắc cho các nước chậm phát triển (Tuyên bố Doha về hiệp định TRIPs và sức

khỏe cộng đồng ngày 14.11.2001). Hiện nay trên thế giới nhiều có cuộc hội thảo

quốc tế để giải quyết những vấn đề được đề cập trên, nhưng những tranh cãi vẫn

chưa đi đến hồi kết. Tại Việt Nam đang bắt đầu những bước đi, hơn 90% đơn nộp

bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược là của người nước ngoài, đây cũng là một thực

trạng đáng báo động cho ngành công nghiệp dược phẩm ở Việt Nam. Tại Việt Nam

vẫn chưa có các công trình nghiên cứu chuyên về lĩnh vực trên. Trong khi đó trên

thế giới và các quốc gia lân cận bên cạnh chúng ta như Trung Quốc, Indonexia, Ấn

độ đã ban hành những đạo luật riêng để điều chỉnh trực tiếp. Chính vì thế Việt Nam

rất cần một khung pháp lý trực tiếp để điều chỉnh lĩnh vực này.

Vì vậy, ngoài việc hệ thống và cập nhập kiến thức, tác giả còn đặt mục tiêu

đưa ra một số kiến nghị cho việc bảo hộ sáng chế dược phẩm theo quy định của

pháp luật Việt Nam. Tác giả sẽ đánh giá lại những mặt tích cực và tiêu cực của việc

bảo hộ sáng chế dược phẩm, thực trạng ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên,

điểm mới của nghiên cứu mà tác giả mong muốn đó là chính là việc cung cấp một

cái nhìn tổng quát nhất về vấn đề bảo hộ sáng chế dược phẩm theo quy định của

Hiệp định TRIPS, thực trạng trên thế giới và Việt Nam để từ đó tác giả có những

kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ sáng chế cho

dược phẩm. Hiện nay ở nước ta chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về

vấn đề này.

7

5. Mục đích, đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn:

5.1. Mục đích nghiên cứu:

- Mục đích nghiên cứu của luận văn là xác định hay đưa ra cái nhìn tổng quát

nhất về những quy định của Hiệp định TRIPs với việc bảo hộ sáng chế dược phẩm

và tác động của hiệp định TRIPs trong việc bảo hộ sáng chế dược phẩm đối với các

quốc gia trên thế giới cũng như Thực trạng của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm.

- Đồng thời, bằng những lập luận, phân tích khoa học, tác giả sẽ đề xuất

những quan điểm, phương hướng và kiến nghị cụ thể cho việc xây dựng pháp luật

về vấn đề bảo hộ sáng chế cho dược phẩm.

5.2. Đối tượng nghiên cứu:

Hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế về bảo hộ sáng chế dược phẩm gồm:

Hiệp định TRIPs, các điều ước quốc tế khác, các văn bản pháp luật quốc gia điều

chỉnh về vấn đề này.

Các quan điểm của các chuyên gia về vấn đề Bảo hộ sáng chế dược phẩm

theo quy định của Hiệp định TRIPs.

5.3. Phương pháp nghiên cứu:

5.3.1. Phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài luận này dựa trên phương

pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.

5.3.2 Phương pháp cụ thể: Phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh đối

chiếu, phương pháp phân tích.

6. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được

kết cấu thành ba Chương với những nội dung cơ bản sau:

Chương I. Một số vấn đề lý luận chung về sáng chế dược phẩm và bảo hộ

sáng chế dược phẩm

Chương II. Nội dung các quy định của hiệp định TRIPS liên quan đến sáng

chế dược phẩm và bảo hộ sáng chế dược phẩm

Chương III. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm trên thế giới, ở Việt

8

Nam và một số kiến nghị

Chƣơng I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM VÀ BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM

1.1. Khái niệm về sáng chế dƣợc phẩm, bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:

Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization -

WIPO) đưa ra khái niệm:

- “Sáng chế” nghĩa là một giải pháp cho một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực công nghệ. Sáng chế có thể liên quan tới một sản phẩm hay một quy trình.Việc bảo

hộ bằng độc quyền sáng chế bị giới hạn về mặt thời gian (thường là 20 năm)”.

- Bằng độc quyền sáng chế (patent) là một văn bằng do quốc gia cấp dựa trên

cơ sở đơn yêu cầu bảo hộ, trong đó mô tả một sáng chế và thiết lập một điều kiện

pháp lý mà theo đó sáng chế đã được cấp bằng độc quyền chỉ có thể được khai thác

một cách bình thường (sản xuất, sử dụng, bán, nhập khẩu) với sự cho phép của chủ

sở hữu bằng độc quyền sáng chế [7].

Theo Wikipedia, dược phẩm hay thuốc là những chất dưới dạng đơn chất

hoặc hỗn hợp có nguồn gốc rõ ràng, được dùng cho người hoặc sinh vật để chẩn

đoán phòng và chữa bệnh, hạn chế hoặc thay đổi điều kiện bệnh lý hay sinh lý.

Khoản 2 Điều 2 Luật dược Quy định: “Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất

dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều

chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc,

vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng” [23].

Từ định nghĩa sáng chế và dược phẩm ta có thể đưa ra định nghĩa sáng chế

dược phẩm như sau: Sáng chế dược phẩm là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sáng chế

hoặc quy trình nhằm phục vụ phục vụ trong lĩnh vực y tế về bằng việc ứng dụng các

quy luật tự nhiên.

Sáng chế là một trong các đối tượng truyền thống của quyền SHCN. Công

ước Paris quy định rõ đối tượng của quyền SHCN bao gồm: “sáng chế, mẫu hữu

ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại,

9

chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh không lành mạnh” [60], sau này bổ sung thêm “bố trí mạch tích hợp bán dẫn”.

Bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế (hay nói một cách ngắn gọn là bảo hộ

sáng chế) được hiểu một cách khái quát là việc nhà nước thông các quy định của

pháp luật xác lập, duy trì quyền cho các tổ chức và cá nhân đối với sáng chế và bảo

vệ quyền đó chống lại sự xâm phạm từ các chủ thể khác.

Từ đó ta có thể định nghĩa bảo hộ sáng chế dược phẩm như sau: Bảo hộ sáng

chế dược phẩm là việc nhà nước thông qua hệ thống pháp luật nhằm xác lập quyền

của chủ thể đối với sáng chế dược phẩm của họ thông qua hình thức cấp bằng độc

quyền sáng chế và bảo vệ quyền đó, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ

ba.

1.2. Đặc điểm của việc bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:

Thứ nhất, để được pháp luật bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế dược phẩm,

giải pháp kỹ thuật phải được cấp văn bằng bảo hộ. Nói cách khác, thủ tục đăng ký

sáng chế dược phẩm là một thủ tục bắt buộc nhằm xác lập quyền đối với sáng chế

dược phẩm. Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ các sáng chế dược phẩm đã được cấp văn

bằng bảo hộ. Để được cấp văn bằng bảo hộ, giải pháp kỹ thuật phải đáp ứng ít nhất

hai điều kiện: (i) điều kiện về tiêu chuẩn bảo hộ (tiêu chuẩn sáng chế); (ii) không

thuộc các trường hợp không được pháp luật bảo hộ. Tiêu chuẩn sáng chế được thừa

nhận rộng rãi trong các hệ thống pháp luật trên thế giới là tính mới, tính sáng tạo

(tính không hiển nhiên), khả năng áp dụng công nghiệp (tính hữu ích). Bên cạnh đó,

pháp luật các nước trong đó có Việt Nam quy định các đối tượng không được pháp

luật bảo hộ sáng chế. Đây cũng là vấn đề được thừa nhận từ pháp luật quốc tế. Điều

27 khoản 2 Hiệp định TRIPS khẳng định: “Các thành viên có thể loại trừ không cấp

bằng độc quyền sáng chế cho những sáng chế dược phẩm cần phải bị cấm khai thác

nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng

hoặc đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người và động

vật hoặc thực vật hoặt để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, với điều

kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì lý do duy nhất là việc khai thác

các sáng chế tương ứng bị pháp luật của nước đó ngăn cấm”. Ngoài ra, Khoản 3

Điều 27 Hiệp định liệt kê một số đối tượng mà các quốc gia thành viên có quyền

không cấp bằng độc quyền sáng chế. Tại Việt Nam, Điều 8 Luật SHTT Việt Nam

10

đã khẳng định chính sách của nhà nước Việt Nam là “không bảo hộ các đối tượng

SHTT trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”.

Bên cạnh quy định chung, Điều 59 Luật SHTT đã loại trừ một số đối tượng không

được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế. Nếu một giải pháp kỹ thuật đáp ứng các

điều kiện bảo hộ mà pháp luật quy định thì trên cơ sở đơn yêu cầu của người có

quyền, văn bằng bảo hộ sẽ được cấp.

Có hai hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế được pháp luật ghi nhận. Thứ

nhất, bảo hộ độc quyền sáng chế dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế. Bằng

độc quyền sáng chế là một văn bằng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên

cơ sở một đơn yêu cầu bảo hộ trong đó mô tả sáng chế và thiết lập điều kiện pháp lý

mà theo đó sáng chế được bảo hộ chỉ có thể được khai thác bình thường với sự cho

phép của chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế [7]. Hình thức thứ hai là cấp giấy

chứng nhận quyền tác giả sáng chế. Theo đó, quyền tác giả đối với sáng chế thuộc

về người được cấp văn bằng còn quyền sở hữu sáng chế thuộc về nhà nước, do đó,

tác giả sáng chế không có độc quyền đối với sáng chế. Hình thức bảo hộ sáng chế

này được ghi nhận trong pháp luật một số nước xã hội chủ nghĩa như CHLB Xô

Viết, Tiệp Khắc, Cu Ba, Mông Cổ và một số nước đang phát triển khác, Việt Nam

trước năm 1989. Tuy nhiên, hiện nay, Hiệp định TRIPS đã yêu cầu tất cả các nước

thành viên của WTO phải bảo hộ sáng chế dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng

chế.

Thứ hai của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm là chủ sở hữu sáng chế chỉ

được thực hiện các quyền của mình trong phạm vi (phạm vi lãnh thổ, phạm vi

quyền được thực hiện trong yêu cầu bảo hộ) được xác định trong văn bằng bảo hộ.

Ngoài phạm vi đó, bất cứ ai trong xã hội cũng có quyền khai thác sáng chế mà

không cần sự cho phép của chủ sỡ hữu sáng chế.

Thứ ba, việc bảo hộ sáng chế dược phẩm chỉ được giới hạn trong một thời

gian nhất định theo quy định của pháp luật và được xác định cụ thể trong bằng độc

quyền quyền sáng chế. Hiện nay, theo yêu cầu của Hiệp định TRIPS, thời gian này

tối thiểu là 20 năm kể từ ngày nộp đơn. Khi hết thời hạn bảo hộ, bất cứ chủ thể nào

trong xã hội đều có quyền tự do khai thác sáng chế.

Thứ tư, trong những trường hợp được pháp luật quy định, nhà nước có quyền

11

cấm hoặc hạn chế người nắm quyền độc quyền sáng chế dược phẩm thực hiện

quyền của mình hoặc bắt buộc người nắm độc quyền sáng chế chuyển giao quyền

sử dụng sáng chế dược phẩm cho chủ thể khác. Vấn đề này được quy định trong

Hiệp định TRIPS và trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

1.3. Các dạng yêu cầu bảo hộ điển hình đối với sáng chế trong lĩnh vực

dƣợc:

1.3.1 Chế phẩm và hợp phần:

Cùng một hoạt chất có thể được bào chế thành các dược phẩm dạng liều khác

nhau như viên nén, viên nang, thuốc mỡ hoặc dung dịch nước để dùng ngoài đường

tiêu hóa, và các dược phẩm dạng liều này có thể bào chế bằng cách sử dụng các tá

dược dược dụng khác nhau.

Có rất nhiều sáng chế yêu cầu bảo hộ chế phẩm chứa được chất mới hoặc

dược chất đã tồn tại, trong đó thường bao gồm các dấu hiệu về liều lượng và nồng

độ, dưới dạng điểm độc lập hoặc điểm phụ thuộc ngoài các điểm yêu cầu bảo hộ

cho hoạt chất hay việc sử dụng hoạt chất. “Yêu cầu bảo hộ dưới dạng hợp phần”

bao gồm dấu hiệu về hoạt chất và chất mang hoặc tá dược dược dụng, như chất độn,

chất kết dính, chất gây rã và chất gây trơn chảy.

Các bằng độc quyền sáng chế được cấp trên cơ sở yêu cầu bảo hộ dạng chế

phẩm hoặc hợp phần không bảo hộ cho bản thân hoạt chất, và các chế phẩm hợp

phần khác nhau chứa cùng hoạt chất - nếu đã hết thời hạn bảo hộ - có thể được

thương mại hóa bởi các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, các bằng độc quyền sáng chế

loại này lại có thể được dùng để ngăn cản cạnh tranh thông qua quá trình tranh tụng

mang tính „chiến lược‟, theo đó, bằng việc tuyên bố các hành vi xâm lược và yêu

cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để phong tỏa hoạt động thương mại

cho tới khi phán quyết cuối cùng được đưa ra.

Yêu cầu bảo hộ dạng chế phẩm hoặc hợp phần được chấp nhận bởi một số cơ

quan sáng chế với những điều kiện nhất định, trong số đó, Cơ quan sáng chế Anh là

một ví dụ (xem trích dẫn 1).

Trong một số trường hợp, một chế phẩm được yêu cầu bảo hộ cụ thể liên

quan đến một số hiệu quả nhất định, như giải phóng có kiểm soát được chất vào

máu chẳng hạn. Việc đạt được hiệu quả như vậy thường nằm trong phạm vi kỹ năng

12

thông thường của người có kiến thức về bào chế thuốc, trừ những trường hợp ngoại

lệ, như việc sử dụng một tá dược hiệu quả thực sự bất ngờ, ví dụ làm giảm đáng kể

tác dụng phụ hoặc có sự cải thiện đặc biệt trong việc giải phóng dược chất, như thiết

bị đặt được dưới da giúp giải phóng insulin trong khoảng thời gian dài chẳng hạn.

“Trích dẫn 1. Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế liên quan đến y học

ở cơ quan Sáng chế Anh (tháng 3/2004), yêu cầu bảo hộ cho dược phẩm, hợp phần

được làm thích ứng cho một ứng dụng cụ thể, đoạn 11431.

Bản thân các chất đã biết được bảo hộ bởi yêu cầu bảo hộ dạng sản phẩm

cho dược phẩm chứa chúng, nếu dược phẩm này ở dạng có tính mới và sáng tạo so

với các sản phẩm bất kỳ đã biết. Cụ thể, có thể yêu cầu bảo hộ thuốc có dạng dùng

mới và khác biệt so với ứng dụng trước đó. Ví dụ, thuốc mỡ chống eczema chứa

chất X có thể được coi là khac biệt rõ rệt so với một viên nén chứa chất X để kiểm

soát huyết áp. Thuốc mỡ này là mới do chất X chưa bao giờ được bào chế ở dạng

này trước đó, và nó sẽ có trình đọ sáng tạo nếu các ứng dụng trước đó của chất X

không gợi ý việc sử dụng nó dưới dạng dùng ngoài”.

“ Trích dẫn 2. Dự thảo quy chế về thực hành và thủ tục sáng chế. Cơ quan

sáng chế, Ấn Độ - 2005. Phụ lục - 1.6.0 Dược phẩm:

6.1 Các dược phẩm không phải là sự phối hợp đơn thuần để thu được tập

hợp đặc tính của các thành phần, mà có tác dụng hiệp đồng thường có khả năng

được bảo hộ.

6.2. Các dược phẩm đã biết ở liều lượng mới khác và dạng khác nhau như

viêm nang, viêm nén, xirô, hỗn hợp...không được bảo hộ theo quy trình các khoản 2

(1)(j), 3(d) và 3(e) của Đạo luật sáng chế.

6.3 Ứng dụng mới của chất đã biết hoặc ứng dụng mới của nó trong dược

phẩm thường không được bảo hộ.

6.4 Phương pháp bất kỳ sử dụng dược phẩm đều không được bảo hộ”.

Khuyến nghị: Các chế phẩm và hợp phần mới, cũng như quy trình bào chế

chúng, nói chung được coi là hiển nhiên trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật đã biết,

đặc biệt là khi một hoặt chất duy nhất được yêu cầu bảo hộ cùng với các chất mang

hoặc tá dược đã biết hoặc không xác định. Cá biệt, yêu cầu bảo hộ thuộc dạng này

có khả năng bảo hộ tồn tại hiệu quả bất ngờ, ví dụ, khi một vấn đề thực sự khó khăn

13

hoặc nhu cầu tồn tại từ lâu, như làm giảm đáng kể tác dụng phụ, được giải quyết

theo cách không hiển nhiên, hoặc khi giảm đáng kể tác dụng phụ, được giải quyết

theo cách không hiển nhiên, hoặc khi giải pháp được đề xuất tạo ra lợi ích đáng kể

so với giải pháp kỹ thuật đã biết [27, tr.6].

1.3.2 Tổ hợp:

Đôi khi, yêu cầu bảo hộ đề cập đến tổ hợp gồm các hoạt chất đã biết trước

đó. Trong một số trường hợp, các hợp chất cụ thể và lượng của chúng được chỉ rõ,

trong khi các trường hợp khác, chúng thường được đề cập đến một nhóm các hợp

chất có tác dụng điều trị, như chất kháng axit chẳng hạn. Nếu yêu cầu bảo hộ cho tổ

hợp được chấp nhận sau khi cấp bằng độc quyền sáng chế cho các hoạt chất có liên

quan, thì chủ bằng độc quyền sáng chế có thể gián tiếp kéo dài thời hạn bảo hộ

được cấp cho sáng chế cơ bản.

Ở một số nước, yêu cầu bảo hộ cho tổ hợp bị từ chối, trừ khi tổ hợp này tạo

ra tác dụng hiệp đồng hoặc khác biệt mới và không hiển nhiên. Nếu căn cứ vào tác

dụng hiệp đồng để đánh giá khả năng bảo hộ, thì tác dụng hiệp đồng này phải được

tạo ra bởi tất cả các phương án trong phạm vi yêu cầu bảo hộ, phải được mô tả và

chứng minh một cách thích hợp trong bản mô tả sáng chế (ví dụ, trên cơ sở các thử

nghiếm sinh học) và đó có thể là biểu hiện về trình độ sáng tạo. Không nên coi bản

thân một tác dụng hiệp đồng mới là có trình độ sáng tạo, vì nó có thể là hiển nhiên

đối với người có kỹ năng trong lĩnh vực này. Ngoài ra, tác dụng hiệp đồng giữa hai

hay nhiều thuốc có thể được coi là một “phát hiện” thay vì là một “sáng chế”, do tác

dụng hiệp đồng này diễn ra trong cơ thể và được phát hiện thông qua cac thử

nghiệm lâm sàng.

Cũng cần lưu ý rằng trong một số trường hợp, yêu cầu bảo hộ cho tổ hợp

thực ra là tương đương với yêu cầu bảo hộ cho liệu pháp y học (đối tượng bị loại trừ

khỏi phạm vi bảo hộ ở hầu hết các nước) ở chỗ, chúng chỉ đưa ra phương pháp sử

dụng một tổ hợp gồm các thuốc đã biết. Thêm vào đó, việc phối hợp các dược chất

để tránh hiện trượng kháng thuốc là công việc thông thường trong việc phát triển

dược phẩm và nói chung nên được coi là hiển nhiên đối với người có kỹ năng trung

bình trong lĩnh vực này.

Khuyến nghị: Tổ hợp gồm các hoạt chất đã biết nên được coi là không có

14

trình độ sáng tạo. Tuy nhiên, tác dụng hiệp đồng mới và không hiển nhiên được coi

là cơ sở cho khả năng bảo hộ, tác dụng hiệp đồng này cần được chứng minh một

cách đúng đắn bằng các thử nghiệm sinh học và phải bộc lộ một cách thích hợp

trong bản mô tả sáng chế [27, tr.8].

1.4.3 Liều dùng/liều lƣợng:

Một số đơn đang ký sáng chế yêu cầu bảo hộ các sáng chế đề xuất liều lượng

dùng cho bệnh nhân của một sản phẩm đã biết, kể cả liều lượng cho trẻ em. Mặc dù

được soạn thảo dưới dạng yêu cầu bảo hộ dạng sản phẩm song các yêu cầu bảo hộ

thuộc dạng này liệu có tác dụng giống như yêu cầu bảo hộ cho liệu pháp y học, do

đối tượng này không phải là sản phẩm hay quy trình, mà thực chất là cách thức để

sử dụng sản phẩm trong điều trị bệnh.

Một số nước cho phêp bảo hộ sáng chế về liều lượng trong một số trường

hợp nhất định. Ví dụ, quy chế thẩm định sáng chế Anh cho phép bảo hộ sáng chế về

liều lượng này khác biệt đáng kể so với liều lượng dùng cho các ứng dụng đã biết

(xem trích dẫn 3). Tuy nhiên, phương thức của Anh chỉ có giá trị nếu sáng chế về

chỉ định lần thứ hai cũng được bảo hộ. Trong trường hợp sáng chế của người nộp

đơn chỉ đơn thuần là liều lượng mới cho cùng một ứng dụng của thuốc thì đối tượng

như vậy sẽ không được bảo hộ. Điều tương tự được áp dụng nếu liều lượng liên

quan đến một ứng dụng mới, với điều kiện ứng dụng mới này cũng không được bảo

hộ.

Thêm vào đó, các thay đổi về liều lượng cũng ít khi có trình độ sáng tạo và

có thể coi là không đáp ứng điều kiện và khả năng áp dụng công nghiệp, do sáng

chế chỉ có tác dụng trên cơ thể và không có hiệu quả kỹ thuật.

Khuyến nghị: liều dùng mới của sản phẩm đã biết cho chỉ định giống hoặc

khác nhau không tạo nên sáng chế, đặc biệt (nhưng không chỉ) là ở các nước không

bảo hộ chính phương pháp điều trị y học.

Trích dẫn 3. Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế liên quan đến y học

mới khác biệt đáng kể với liều lượng dùng cho ứng dụng đã biết, thì có thể cho phép

yêu cầu bảo hộ được thể hiện dưới dạng dược phẩm dạng liều chứa hoạt chất đã

biết với lượng sao cho dược phẩm dạng liều này là mới và không hiển nhiên so với

liều lượng dùng cho các ứng dụng đã biết. Theo đó, nếu ứng dụng y học mới cần

15

đến liều dùng gấp mười lần (hoặc bằng 1/10) liều dùng cho các ứng dụng đã biết,

thì yêu cầu bảo hộ cho dược phẩm dạng liều đơn vị có thể được coi là mới, sáng

tạo, và có thể được chấp nhận. Khi đánh giá trình độ sáng tạo của yêu cầu bảo hộ

dạng này, cần nhớ rằng liều lượng cần thiết thường liên quan đến thể trọng, do đó

liều dùng cho trẻ em sẽ nhỏ hơn liều dùng cho người lớn [27, tr.8].

1.3.4 Muối, ete và este:

Thông thường, bằng độc quyền vầ dược phẩm bảo hộ các muối mới của hoạt

chất đã biết. Muối thông thường được tạo ra nhằm làm tăng tính ổn định hoặc độ

hòa tan của dược chất. Điều thông thường thuộc phạm vi kiến thức chung trong lĩnh

vực dược là, các muối có độ hòa tan khac nhau, và do đó có độ sinh khả dụng khác

nhau. Nếu một hoạt chất là axit hoặc bazơ, thì bất kỳ sinh viên hóa nào cũng biết

cách tạo ta muối và có thể dự đoán về các tính chất hóa lý có thể có của nó. Sáng

chế về các muối là một trong số những cách thức chính để kéo dài mãi mãi

(evergreening) thời hạn bảo hộ cho dược phẩm.

Có thể có một số trường hợp ngoại lệ trong đó có các muối mới có những lợi

ích bất ngờ về đặc tính so với các sản phẩm đã biết trong tình trạng kỹ thuật. Những

lợi ích này cần phải được chứng minh bằng các thông tin về kết quả của các thử

nghiệm thích hợp được thể hiện trong bản mô tả.

Quy trình điều chế các muối cũng thường được coi là hiển nhiên đối với

người được đào tạo trong lĩnh vực này. Chỉ có các trường hợp thực sự ngoại lệ

trong đó việc tạo muối (ví dụ, với các đặc tính tinh thể tối ưu) chưa các phân tử

phức tạp cần đến những kỹ năng đặc biệt và do đó có khả năng được bảo hộ dưới

dạng quy trình. Tuy nhiên, tính phức tạp cảu quy trình là chưa đủ căn cứ để đưa ra

kết luận về trình độ sáng tạo.

Tương tụ, ete cũng như este của các rượu đã biết, mặc dù có sự khác biệt cơ

bản so với muối, cũng thường bị phản đối về tính hiển nhiên.

Cơ quan Sáng chế Ấn Độ đã ban hành dự thảo quy chế trong đó đưa ra các

tiêu chuẩn cụ thể để thẩm định đơn liên quan đến hydrat, muối và các dẫn xuất khác

(xem trích dẫn 4). Ngoài ra, các nội dung sửa đổi được đưa vào đạo luật sáng chế

Ấn Độ 2005 cũng đưa ra một quy định cụ thể đối với các yêu cầu bảo hộ liên quan

16

đến muối, este và các “dạng” khác của các sản phẩm đã biết.

Trích dẫn 4. Dự thảo Quy chế về thực hành và thủ tục đăng ký sáng chế, Cơ

quan sáng chế, Ấn độ - 2005, Phụ lục - 1

5.6 Hydrat và các chất khác:

Hydrat, muối cộng axit và dẫn xuất khác thường được điều chế về cơ quản

không đáp ứng điều kiện về trình độ sáng tạo. Tuy nhiên, nếu như tồn tại một vấn

đề nào đó, như vấn đề về độ ổn định, độ hấp thu…và tồn tại một vấn đề đã có từ lâu

trong việc điều chế dẫn xuất này, thì khả năng bảo hộ của quy trình đó có thể được

xem xét.

Mục đích rõ ràng của việc sửa đổi Đạo luật sáng chế Ấn Độ là nhằm hạn chế

sự gia tăng các bằng độc quyền sáng chế xung quanh các sản phẩm dược đã biết.

Khoản 3 (d) chỉ rõ ràng các đối tượng dưới đây không được công nhận là sáng chế

theo quy định của Đạo luật:

Sự phát hiện đơn thuần một dạng mới của chất đã biết mà không kèm theo sự

gia tăng về hiệu lực đã biết của chất đó hoặc sự phát hiện đơn thuần một đặc tính

mới hoặc ứng dụng mới bất kỳ của một chất đã biết hoặc sự phát hiện đơn thuần

một ứng dụng mới của quy trình, máy móc hoặc thiết bị đã biết, trừ khi quy trình đã

biết này tạo ra một sản phẩm mới hoặc sử dụng ít nhất một chất phản ứng mới.

Giải thich: Theo quy định này, muối, este, ete, chất đa hình, chất chuyển hóa,

dạng tinh khiết, cỡ hạt, chất đồng phân, hỗn hợp cảu các chất đông phân, phức chất,

tổ hợp và các dẫn xuất khác của chất đã biết phải được coi là chính chất đó, trừ khi

chúng có đặc tính và hiệu lực khác biệt đáng kể.

Bất kỳ dạng yêu cầu bảo hộ đặc biệt nào của người nộp đơn, ví dụ, yêu cầu

bảo hộ liên quan đến đáp ứng điều trị nhanh hơn của một muối mới, cũng cần được

chứng minh bằng dữ liệu lâm sàng thể hiện hiệu quả này. Yêu cầu bảo hộ càng đặc

biệt, thì lượng dữ liệu cần thiết để thẩm định đơn càng nhiều. Điều quan trọng là các

dữ liệu mới cần được đánh giá một cách đúng đắn. Các cơ quan quản lý y tế có đủ

kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực này; do đó sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ

quan này và cơ quan sáng chế trong quá trình thẩm định đơn có thể tạo điều kiện

thuận lợi cho công việc của cơ quan sáng chế và cải thiện chất lượng thẩm định

17

đơn.

Khuyến nghị: Nói chung, các muối, ete, este mới và các dạng khác của sản

phẩm được đã biết thường có thể được tạo ra bằng kỹ năng thông thường và không

có trình độ sáng tạo. Điều này có thể được loại trừ trong trường hợp có các thử

nghiệm được tiến hành một cách thích hợp và được mô tả trong các bản mô tả sáng

chế, chứng minh các lợi ích bất ngờ về đặc tính so với các giải pháp kỹ thuật đã biết

[27, tr.9].

1.3.5 Chất đa hình:

Một số hoạt chất dùng trong điều trị có dạng đa hình, cụ thể là chúng có thể

tồn tại dưới các dạng vật lý khác nhau (dưới dạng chất rắn vô định hình và /hoặc các

dạng tinh thể khác nhau), các dạng vật lý như vậy ít nhiều có các đặc tính khác nhau

khi dùng làm thuốc (như độ hòa tan, theo đó là độ sinh khả năng dụng). Hiện tượng

đa hình là một đặc tính tự nhiên: Các chất đa hình là một đặc tính tự nhiên: các chất

đa hình không được “sáng tạo” hay “sáng chế” ra; chúng thường được phát hiện

nằng các thực nghiệm thông thường đối với dược phẩm. Chúng được điều chế trong

những điều kiện mà hợp chất được điều chế. Hợp chất bất kỳ có tính đa hình đều có

xu hướng tự nhiên là chuyển thành dạng ổn định hơn của nố, ngay cả khi không cần

có sự can thiệp của con người.

Tầm quan trọng của các chất đa hình khác nhau hầu như nằm ở tốc độ hòa

tan tương đối của chúng (về lý thuyết mức độ hòa tan cũng có thể được tác động

đến song điều này không có ý nghĩa thực tiễn). Đôi khi tính ổn định lâu dài sẽ bị

ảnh nếu chất hình ổn định nhất không được lựa chọn để phát triển ngay từ đầu. Do

đó, việc thay đổi chất đa hình có ảnh hưởng thực sự đến tốc độ hòa tan của thành

phẩm và có thể ảnh hưởng đến đọ sinh khả dụng, hoặc làm thay đổi độ ổn định lâu

dài của thành phẩm. Trong một số trường hợp, việc lựa chọn một chất đa hình cụ

thể cũng có thể mang lại các lợi ích cho quy trình sản xuất. Tuy nhiên, điều đó

không hề có ảnh hưởng đến độ an toàn hay hiệu lực do hoạt chất là giống nhau.

Các đơn đăng ký sáng chế độc lập cho các chất đa hình đang trở nên phổ

biến hơn và gây tranh cãi nhiều hơn do các độc quyền sáng chế loại này có thể được

dùng để hạn chế hoặc làm chậm sự xuất hiện của thuốc đồng dạng cạnh tranh. Các

chất đa hình có thể được coi là đã biết trong tình trạng kỹ thuật - do đó không có

18

khả năng bảo hộ - nếu chắc chắn điều chế được chúng bằng quy trình nêu trong

sáng chế cơ bản đối với hoạt chất. Thêm vào đó, khả năng phát hiện ra các tinh thể

khác nhau là hiển nhiên khi phát hiện được hiện tượng đa hình.

Một ví dụ điển hình về trường hợp gây tranh cãi đối với sáng chế về chất đa

hình liên quan đến ximentidin. Chủ sở hữu sáng chế nộp đơn đăng ký sáng chế và

chất đa hình của ximetidin khoảng năm năm sau khi bằng độc quyền sáng chế được

cấp cho hoạt chất này. Tuy nhiên, bằng độc quyền sáng chế cấp cho chất đa hình

này bị hủy bỏ hiệu lực ở Anh và các nước khác vì lý do này: Chắc chắn điều chế

được chất đa hình này khi áp dụng quy trình đã được yêu cầu bảo hộ trong sáng chế

nộp ban đầu. Một ví dụ khác là trường hợp ranitidin [27]. Người nộp đơn cấp bằng

độc quyền sáng chế ở Mỹ cho chất đa hình, bằng độc quyền sáng chế hết hạn hiệu

lực năm 2002 trong khi bằng độc quyền cho sáng chế cơ bản hết hạn hiệu lực vào

năm 1995.

Yêu cầu bảo hộ cho chất đa hình được phép chấp thuận ở nhiều nước trên thế

giới. Ví dụ, Cơ quan sáng chế Châu Âu (EPO) thường cấp bằng độc quyền sáng chế

cho các dạng đa hình mới được xác định, phù hợp với thực tế áp dụng của cơ quan

sáng chế hoặc tòa án liên bang về sáng chế của Đức. Trong trường hợp

“Kristallformen”, các sản phẩm có cùng công thức hóa học là không giống nhau nếu

chúng khác nhau về một số thông số đáng tin cậy nào đó. Tuy nhiên, sáng chế về

các chất đa hình bị từ chối ở nhiều nước khác [27].

Khuyến nghị: Hiện tượng đa hình là một đặc tính nội tại của vật chất ở trạng

thái rắn. Các chất đa hình không được sáng chế tạo ra, mà được phát hiện. Các cơ

quan sáng chế cần hết sức lưu ý đên khả năng kéo dài thời hạn bảo hộ một cách

không thỏa đáng đối với hoạt chất và các dạng đa hình của nó, kể cả hydrat/solvat.

Quy trình điều chế chất đa hình có thể được bảo hộ trong một số trường hợp nếu

quy trình này đáp ứng điều kiện về tính mới và trình độ sáng tạo.

1.3.6 Yêu cầu bảo hộ dạng Markush:

Thông thường, yêu cầu bảo hộ sáng chế rộng (“tổng quát”) được soạn thảo

nhằm bao hàm một họ hoặc một số lượng lớn (đôi khi lên đến hàng nghìn hoặc hàng

triệu) hợp chất có thể có. Yêu cầu bảo hộ được gọi là “yêu cầu bảo hộ dạng

Markush” được dùng để thể hiện một cấu trúc hóa học với nhiều thực thể hóa học

19

có chức năng tương đương được phép có mặt trong nhiều hoặc nhiều phần của hợp

chất. Yêu cầu bảo hộ dạng markush có thể bao gồm một số lượng lượng lớn (đôi khi

tới hàng triệu) hợp chất có thể có. Chúng có thể được dùng để tạo ra phạm vi bảo hộ

rộng của sáng chế, trong đó bao gồm một số lượng lớn các hợp chất mà đặc tính của

chúng chưa được thử nghiệm, mà chỉ được suy ra một cách lý thuyết trên cơ sở tính

tương tự với các hợp chất khác trong yêu cầu bảo hộ. Do đó, việc chấp nhận bảo hộ

cho yêu cầu bảo hộ dạng markus sẽ xác lập quyền cho một nhóm hợp chất cực kỳ

lớn mà chúng không hề được thử nghiệm hay thực nghiệm trước đó.

Ngoài các vấn đề thông thông thường liên quan đến điều kiện bảo hộ, việc

xem xét yêu cầu bảo hộ dạng Markush làm nảy sinh vấn đề về mức độ bộc lộ và khả

năng thực hiện sáng chế, do người nộp đơn chỉ điều chế được một cách hữu hiệu

một lượng nhỏ hợp chất theo các phương án có thể nhóm. Do việc tra cứu tình trạng

kỹ thuật cho hàng triệu hợp chất gần như không thể, nên việc tra cứu của cơ quan

sáng chế và bằng độc quyền sáng chế tương ứng được cấp ra chỉ nên giới hạn ở các

phương án đã được đánh giá một cách thực thụ và được chứng minh bằng các ví dụ

được đưa ra trong bản mô tả.

Khuyến nghị: Không nên chấp nhận yêu cầu bảo hộ bao hàm một phạm vi

rộng các hợp chất. Các cơ quan sáng chế cần yêu cầu người nộp đơn cung cấp đủ

thông tin, như điểm nóng cháy, phổ hấp thụ hồng ngoại (IR), hoặc công hưởng từ

hạt nhân (NMR) thu được trong thử nghiệm và thực nghiệm cho phép lặp lại

phương pháp được bộc lộ theo mỗi phương án của sáng chế yêu cầu bảo hộ. Yêu

cầu bảo hộ có phạm vi giới hạn có thể được chấp nhận nếu cung cấp bằng chứng ít

nhất cho thấy rằng, khi thay thế bằng một phương án bất kỳ trong cùng nhóm, thì

vẫn đạt kết quả giống như kết quả đã được bộc lộ. Phạm vi của sáng chế cần được

giới hạn ở những phương án có thể thực hiện được một cách thực thụ căc cứ vào

các nội dung được bộc lộ trong bản mô tả [27, tr.14].

1.7.7 Sáng chế lựa chọn:

“Sáng chế lựa chọn” là sáng chế trong đó một thành phần duy nhất hoặc một

nhóm nhỏ trong một nhóm lớn đã biết được “lựa chọn” và yêu cầu bảo hộ độc lập

trên cơ sở một đặc tính cụ thể chưa được đề cập trong nhóm lớn. ví dụ, “Sáng chế

20

lựa chọn” có thể được áp dụng khi một nhóm sản phẩm đặc trưng bởi n nguyên tử

cacbon đã được bảo hộ, sau đó sáng chế cho một nhóm cụ thể trong đó (ví dụ, có từ

1 đến 4 nguyên tử carbon) cũng được yêu cầu bảo hộ.

Nếu nhóm lớn đã được bảo hộ, thì chủ sở hữu sáng chế có thể sử dụng sáng

chế lựa chọn để kéo dài thời hạn bảo hộ cho nhóm nhỏ được lựa chọn sau khi hết

thời hạn hiệu lực của sáng chế ban đầu. Mặc dù được chấp nhận bảo hộ ở nhiều

nước một khi các thành phần được lựa chọn mang lại lợi ích bất ngờ, song sáng chế

lựa chọn sẽ bị từ chối nếu lợi ích được đề xuất là đặc tính chinh của tất cả hoặc hầu

như tất cả thành phần trong nhóm lớn.

Mặc dù còn tồn tại những khác biệt giữa các cơ quan sáng chế, trong đó bao

gồm những khác biệt giữa EPO và một số cơ quan sáng chế quốc gia ở châu Âu,

trong việc xử lý các yêu cầu bảo hộ dạng này, song vẫn có các giới hạn đối với việc

bảo hộ sáng chế lựa chọn ở hầu hết các nước [27].

Khuyến nghị: Theo nguyên tắc chung, sáng chế lựa chọn không được bảo hộ

nếu các thành phần được lực chọn đã được bộc lộ hoặc yêu cầu bảo hộ, do đó sáng

chế không đáp ứng điều kiện về tính mới. Nếu coi lợi ích bất ngờ của các sản phẩm

đã mang lại khả năng bảo hộ theo quy định pháp luật của một số nước, thì khả năng

bảo hộ của sáng chế chọn lọc có thể được xem xét nếu sáng chế đáp ứng điều kiện

về trình độ sáng tạo.

1.3.8 Các quy trình tƣơng tự

Sản phẩm và quy trình là hai dạng khác nhau của đối tượng có khả năng bảo

hộ sáng chế. Khả năng bảo hộ của mỗi dạng trong số chúng phải được đánh giá theo

các đặc tính và đặc điểm của bản thân chúng. Tuy nhên, các quy trình sản xuất

(thường được gọi là quy trình tương tự) mà bản thân chúng là không mới hoặc sáng

tạo song lại được dùng để điều chế các hợp phần chưa được bảo hộ có tính mới và

trình độ sáng tạo được coi là có khả năng bảo hộ theo quy định của một số hệ thống

pháp luật (xem trích dẫn về quy chế thẩm định ở EPO).

Ở Mỹ, cơ quan sáng chế coi yêu cầu bảo hộ “quy trình tương tự” là không có

khả năng bảo hộ, trừ khi bản thân chúng là sáng tạo, nhưng luật sáng chế Mỹ cũng

đưa ra một ngoại lệ cho công nghệ sinh học. Một sửa đổi trong luật của Mỹ năm

1993 quy đinh rằng yêu cầu bảo hộ cho quy trình công nghệ sinh học được coi là

21

không hiển nhiên nếu nó bao hàm việc sử dụng các nguyên liệu ban đầu mới và

không hiển nhiên hoặc tạo ra kết quả mới và không hiển nhiên. Mặc dù giải pháp

này chỉ nhằm đến công nghệ sinh học, song nó cũng được mở rộng bởi luật án lệ

sang các lĩnh vực công nghệ khác.

Một ví dụ về bằng độc quyền sáng chế có thể được cấp trên cơ sở một cách

áp dụng ẩn của khái niệm về quy trình tương tự là bằng độc quyền sáng chế

Achentina số 242.562 cấp cho quy trình thu amlpodipin besylat. Quy trình được mô

tả và yêu cầu bảo hộ là một phản ứng hóa học đơn giản: tạo muối từ axit và bazơ.

Phản ứng này có thể thấy trong các sách giáo khoa cơ sở về hóa học [27].

Việc áp dụng học thuyết về quy trình tương tự có thể dẫn đến khả năng bảo

hộ các dược chất không có khả năng bảo hộ, do hiệp định TRIPS (điều 28.1 (b))

quy định việc mở rộng phạm vi bảo hộ sáng chế tới sản phẩm thu được một cách

trực tiếp bằng quy trình được bảo hộ.

Khuyến nghị: không nên bảo hộ các quy trình dược dụng không mới hoặc

hiển nhiên, bất kể nguyên liệu ban đầu, hợp chất trung gian hay sản phẩm cuối của

quy trình này là mới hay sáng tạo.

1.3.9 Chất đồng phân đối ảnh:

Các chất đồng phân đối ảnh (hay chất đồng phân quang học) có liên hệ với

nhau dưới dạng ảnh gương của nhau. Trong hóa học hữu cơ, các chất dồng phân đối

ảnh tồn tại một cách tự nhiên trong các hợp chất chứa một nguyên tử cacbon có 4

nhóm thể khác nhau chẳng hạn. Đặc tính này đượ khai thác trong lĩnh vực bảo hộ

sáng chế bằng cách trước tiên yêu cầu bảo hộ cho hỗn hợp “raxemic” của hai chất

đồng phân đối ảnh, rồi sau đó yêu cầu bảo hộ cho chất đồng phân đối ảnh có hoạt

tính cao hơn, nhờ đó kéo dài thời hạn bảo hộ thu được ban đầu.

Việc thử nghiệm xem một trong số hai chất đồng phân đối ảnh chất nào khi

được tách ra có hoạt tính cao hơn so vơi hỗn hợp raxemic cảu cả hai chất đều hết

sức thông thường do đã biết rằng, một chất đồng phân quang học thường có hoạt

tính cao hơn nhiều so với chất đồng phân còn lại, do đó hoạt tính cao hơn của ít

nhất một trong số các chất đồng phân so với hỗn hợp raxemic là điều đã được dự

liệu. khi công thức hóa ọc của một hợp chất có các chất đồng phân đối ảnh được

bộc lộ, thì tính mới của các chất đồng phân đối ảnh cũng bị mất đi do công thức này

22

hẳn đã cho thấy sự tồn tại của các chất động phân đối ảnh.

Một số cơ quan sáng chế, như EPO chẳng hạn, cho rằng chất đồng phân đối

ảnh của các hỗn hợp raxemic đã biết có thể được coi là mới, tuy nhiên khả năng bảo

hộ của chúng sẽ được đánh giá khi xem xét trình độ sáng tạo. Một chất đồng phân

đơn (của hoạt chất đã được đăng ký trước đó với cơ quan quản lý y tế dưới dạng

hỗn hợp raxemic) có thể được cấp sổ đăng ký thuốc cho chính nó nếu có chất lượng,

độ an toàn và hiệu lực thích hợp. Tuy nhiên, điều này không giống với với sáng chế

có khả năng bảo hộ, do chất đông phân đối ảnh đã có mặt trong hỗn hợp raxemic và

hoạt tính dược lý/điều trị của hỗn hợp raxemic bắt nguồn hầu như hoàn toàn (nếu

không muốn nói là hoàn toàn) từ chất đồng phân đối ảnh có hoạt tính. Dự thảo Quy

chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế của Ấn Độ đã đưa ra một số liệu chuẩn để

đánh giá yêu cầu bảo hộ thuộc dạng này [27].

Khuyến nghị: Không nên coi các chất đồng phân đối ảnh đơn là có khả năng

bảo hộ nếu hỗn hợp raxemic của nó là đã biết. Tuy nhiên, quy trình thu chất đồng

phân đối ảnh có thể có khả năng bảo hộ nếu quy trình này đáp ứng điều kiện về tính

mới và trình độ sáng tạo.

1.3.10 Chất chuyển hóa có hoạt tính và tiền dƣợc chất:

Trong một số trường hợp, dược chất sẽ tạo ra chất chuyển hóa có hoạt tính là

sản phẩm của quá trình chuyển hóa dược chất trong cơ thể. Chất chuyển hóa là dẫn

xuất của hoạt chất được tạo ra trong cơ thể, và không thể coi là được “sáng tạo” hay

“sáng chế” ra. Tuy nhiên, chất chuyển hóa có hoạt tính có thể có profin an toàn và

hiệu lực khác với phân tử gốc.

Mặt khác, khi được chuyển hóa trong cơ thể, hợp chất không có hoạt tính

(còn được gọi là tiền dược chất) có thể tạo ra hoạt chất có tác dụng điều trị. Trong

một số trường hợp, yêu cầu bảo hộ sáng chế bao hàm cả dược chất và (các) tiền

dược chất của nó. Trong trường hợp hoạt chất không được bảo hộ, thì việc bảo hộ

cho tiền dược chất như vậy có thể kéo dài quá trình kiểm soát thị trường hoạt chất

được chuyển hóa của các chủ sở hữu sáng chế. Tiền dược chất có thể được coi là

dược chất ban đầu ở dạng “trá hình”.

Trong trường hợp terfenadin, dược chất đã bán trong thời gian nhiều năm ở

Anh làm thuốc kháng histamin, chủ sở hữu sáng chế đã có được sự bảo hộ bổ sung

23

đối với chất chuyển hóa có hoạt tính fexofenadin và thực hiện hành vi phong tỏa

cạnh tranh trên thị trường đối với terfennadin sau khi hết thời hạn bảo hộ đối với

hoạt chất này. Đây là hành vi nhằm kéo dài thời hạn bảo hộ sáng chế và không được

coi là không thể chấp nhận được.

Các hướng dẫn chi tiết cho việc thẩm định khả năng bảo hộ của chất chuyển

hóa và tiền dược chất đã được một số cơ quan sáng chế xây dựng.

Một giải pháp khả thi để xử lý các sáng chế về tiền dược chất - có thể được

coi là mới và sáng tạo trong một số trường hợp nhất định - là chấp nhận bảo hộ nếu

chúng đáp ứng các điều kiện bảo hộ, với điều kiện hoạt chất phải được loại trừ theo

cách thích hợp, tức là loại trừ khỏi yêu cầu bảo hộ sáng chế.

Khuyến nghị:

a) Nói chung, không nên coi chất chuyển hóa có hoạt tính của dược chất là

có khả năng bảo hộ riêng biệt với hoạt chất mà từ đó nó được tạo ra.

b) Các sáng chế về tiền dược chất, nếu được bảo hộ, phải lại trừ bản thân hợp

chất ra khởi phạm vi bảo hộ, nếu hoạt chất này đã được bộc lộ hay được coi là

không có khả năng bộc lộ trước đó. Giống như đối tượng khác được yêu cầu bảo hộ

trong sáng chế, đặc tính của tiền dược chất phải được chứng minh một cách đầy đủ

bằng các thông tin được cấp trong bản mô tả. Ngoài ra, có thể phải cung cấp bằng

chứng cho thấy rằng tiền dược chất không có hoạt tính hoặc có hoạt tính thấp hơn

so với hợp chất cần được giải phóng, việc tạo ra hợp chất có hoạt tính đảm bảo tạo

ra mức hữu hiệu của dược chất, và mức chuyển hóa trực tiếp của tiền dược chất

cũng như sự mất dần hoạt tính của dược chất.

1.3.11 Phƣơng pháp điều trị:

Một số sáng chế yêu cầu bảo hộ phương pháp điều trị, các phương pháp

phòng bệnh, chữa bệnh, giảm đau, chẩn đoán hay phẫu thuật. Bản thân yêu cầu bảo

hộ dạng này không bao hàm sản phẩm, mà là cách thức mà nó được sử dụng để tạo

ra một hiệu quả nào đó. Có sự khác biệt đáng kể trong chính sách bảo hộ sáng chế

của các quốc gia về vấn đề này, và trong một số trường hợp đã thể hiện một cách

tiếp cận rất rộng [27].

Trong nhiều trường hợp, yêu cầu bảo hộ về phương pháp điều trị không được

thể hiện một cách rõ ràng ngay từ đầu do đề cập đến các thành phần không đặc

24

trưng bởi cấu trúc hóa học hoặc đặc tính nội tại của chúng, mà đặc trưng bởi liều

lượng hoặc dạng dùng của chúng chẳng hạn. Do đó, điều quan trọng là phải thểm

định một cách cẩn trọng yêu cầu bảo hộ nhằm nhận dạng và xử lý một cách đúng

đắn với các trường hợp ẩn chứa trong yêu cầu bảo hộ dạng sản phẩm thực chất là

phương pháp điều trị.

Hiệp định TRIPS (điều 27.2) rõ ràng cho phép các quốc gia thành viên được

loại trừ các phương pháp điều trị, chẩn đoán và phẫu thuật ra khỏi phạm vi bảo hộ

sáng chế, và nhiều nước đã đi theo cách tiếp cận này. Nếu việc loại trừ này được

quy định, thì yêu cầu bảo hộ mô tả các phương pháp như vậy, hay yêu cầu bảo hộ

tương tự với chúng sẽ bị từ chối.

Ngay cả khi không bị loại trừ khỏi phạm vi bảo hộ sáng chế, thì các phương

pháp này cũng bị coi là không có khả năng bảo hộ ở các nước mà điều kiện về khả

năng áp dụng công nghiệp được áp dụng, bởi lẽ các phương pháp này chỉ ra hiệu

quả trên cơ thể và không áp dụng được trong công nghiệp. Lý do tương tự cũng

được áp dụng cho trường hợp các phương pháp thẩm mỹ.

Trong trường hợp không thể phân biệt các khía cạnh của phương pháp điều

trị từ một phương pháp không mang tính điều trị bệnh (ví dụ, như phương pháp làm

sạch răng), EPO có xu hướng coi phương pháp như vậy là mang bản chất của

phương pháp điều trị, do đó không có khả năng bảo hộ.

Khuyến nghị: Cần coi phương pháp điều trị, kể cả phương pháp ngăn ngừa,

chẩn đoán hoặc phòng bệnh là không có khả năng áp dụng công nghiệp được quy

định là điều kiện bảo hộ (kể cả trường hợp trong đó khả năng bảo hộ của các

phương pháp này không bị loại trừ một cách rõ ràng).

1.3.12 Yêu cầu bảo hộ dạng sử dụng, kể cả chỉ định lần thứ hai:

Việc bảo hộ cho ứng dụng của một sản phẩm trong y học, kể cả chỉ định lần

đầu tiên và thứ hai của một sản phẩm dược đã biết đã trở nên phổ biến trong lĩnh

vực dược. Trân cơ sở diễn giải của Hiệp định TRIPS theo nghĩa đen, thì hiệp định

này chỉ yêu cầu các quốc gia thành viên phải dành sự bảo hộ độc quyền sáng chế

cho sản phẩm và quy trình, trong khi không có rằng buộc nào đối với việc bảo hộ

25

sáng chế dạng sử dụng, kể cả các chỉ định lần thứ hai.

Theo quy định của EPO, cần phân biệt giữa yêu cầu bảo hộ cho chế phẩm

được làm thích ứng cho một ứng dụng nhất định, với yêu cầu bảo hộ cho chế phẩm

thích hợp cho ứng dụng này [24].

Ngoài ra, quy chế thẩm định của EPO cũng đề cập đến trường hợp yêu cầu

bảo hộ dạng “gói” hay “thành phần dược gồm các phần” (kit of part), thường được

sử dụng khi sáng chế bao gồm việc sử dụng khi sáng chế bao gồm việc sử dụng khi

sáng chế bao gồm việc sử dụng hai hoặc nhiều thành phần dược chất khác nhau tại

các thời điểm cụ thể, hay sử dụng đồng thời hoặc kế tiếp nhau. Yêu cầu bảo hộ dạng

này được Ban khiếu nại của EPO xem xét trong quyết định T 09/81 (6). Trong

trường hợp này, Ban khiếu nại của EPO kết luận rằng sự kết hợp này là mới và sáng

tạo nhưng cần được “giới hạn theo mục đích” – tức là ở dạng như đối với ứng dụng

lần đầu tiên trong y học – để phân biệt nó với các thành phẩm, tập hợp hay dạng

đóng gói dùng trong y học chứa 2 chất để dùng cho các ứng dụng độc lập đã biết

của chúng.

Như được minh họa trong trích dẫn dưới đây, Công ước Sáng chế châu Âu

và luật pháp của một số nước cho phép bảo hộ chỉ định lần đầu tiên trong y học của

một sản phẩm đã biết. Theo quy định pháp luật của châu Âu và các nước khác, chỉ

định lần thứ hai được chấp nhận nếu nó được thể hiện dưới dạng “yêu cầu bảo hộ

kiểu Thụy Sĩ”. Tuy nhiên, việc bảo hộ ứng dụng mới của một sản phẩm đã biết, cụ

thể là các chỉ định lần thứ hai, sẽ mở rộng phạm vi bảo hộ theo cách không phù hợp

với quy định về tính mới.

Ngoài lý do không đáp ứng điều kiện về tính mới, có thể có các lý do khác

để từ chối khả năng bảo hộ cho các ứng dụng lần thứ hai:

- Không có khả năng áp dụng công nghiệp, do dấu hiệu ở đây là tác dụng

phát hiện được trên cơ thể mà khôn phải là chính sản phẩm hoặc phương pháp sản

xuất nó;

- Việc bảo hộ chỉ định lần thứ 2 trong y học của một sản phẩm đã biết về cơ

bản là tương đương với việc bảo hộ cho phương pháp điều trị.

- Việc chấp nhận bảo hộ cho các chỉ định lần thứu hai sẽ kéo dài thời hạn bảo

hộ cho dược chất, do đó dẫn đến tình trạng không phát triển được các sản phẩm

26

mới. Nhiều nước đã từ chối việc bảo hộ sáng chế cho các chỉ định như vậy [24].

Khuyến nghị: Ngoài các lý do khác, lý do để từ chối yêu cầu bảo hộ liên

quan đến ứng dụng của một sản phẩm dược đã biết, kể cả chỉ định lần thứ hai của

sản phẩm này, có thể là lý do không đáp ứng điều kiện về tính mới và khả năng áp

dụng công nghiệp.

1.4. Tính chất hai mặt của việc bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:

1.4.1. Lợi ích của việc bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:

Việc bảo hộ sáng chế dược phẩm mang lại các lợi ích to lớn cho các nhà

sáng tạo và cho sự phát triển của xã hội, thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, bảo hộ sáng chế dược phẩm khuyến khích hoạt động nghiên cứu

và phát triển (R&D) các sản phẩm và quy trình mới, từ đó thúc đẩy sự sáng tạo. Một

trong những đặc điểm của tài sản trí tuệ là thời gian nghiên cứu lâu, chi phí lớn, rủi

ro kinh tế cao vì khả năng bị sao chép và sử dụng bởi bên thứ ba là rất lớn. Bằng

việc bảo hộ sáng chế dược phẩm, chủ sở hữu sáng chế dược phẩm được pháp luật

trao cho và bảo vệ các quyền đối với sáng chế dược phẩm, bao gồm quyền sử dụng,

cho phép người khác sử dụng sáng chế; quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng

chế và quyền định đoạt sáng chế trong một thời hạn nhất định (thường là 20 năm).

Các quyền của chủ sở hữu sáng chế không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc

gia mà còn quy định trong các điều ước quốc tế (điều 28 Hiệp định TRIPS). Các

quyền này được thừa nhận về mặt pháp lý là các quyền độc quyền và tạo cho chủ sở

hữu sáng chế dược phẩmcơ hội để thu được các lợi ích kinh tế bằng việc khai thác

thương mại sáng chế và khai thác những lợi thế thị trường có được từ bằng độc

quyền sáng chế dượcphaamr. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá bán sản phẩm

độc quyền sẽ cao hơn rất nhiều so với giá bán sản phẩm cạnh tranh. Bên cạnh đó,

tùy thuộc vào năng lực và ý chí của sở hữu sáng chế, vào giá trị của sáng chế mà

việc khai thác thương mại sáng chế có thể được tiến hành bới chính chủ sỡ hữu sáng

chế hoặc bởi chủ thể khác được chủ sở hữu sáng chế chuyển nhượng quyền sở hữu

hay chyển giao quyển sử dụng sáng chế. Lợi nhuận thu được từ việc khai thác sáng

chế dược phẩm không chỉ là động lực khuyến khích nhà sáng tạo và nhà đầu tư

trong việc nghiên cứu mà một phần lợi nhuận đó sẽ được đầu tư trở lại vào việc

nghiên cứu để tìm ra các sáng chế mới, thúc đẩy chu trình sáng tạo, động lực thúc

27

đẩy sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy, Bảo hộ sáng chế thực sự là động lực cho

sự sáng tạo như Abraham Lincoln đã từng phát biểu: “Hệ thống bằng độc quyền

sáng chế đổ thêm dầu lợi ích vào ngọn lửa thiên tài”.

Thứ hai, bảo hộ sáng chế dược phẩm khuyến khích việc bộc lộ công nghệ

mới và chuyển giao, phổ biến công nghệ. Các hệ thống pháp luật đều quy định để

được cấp văn bằng độc quyền sáng chế, chủ sở hữu sáng chế phải nộp đơn đăng ký

sáng chế tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Một trong những yêu cầu bắt buộc

đối với đơn đăng ký sáng chế là phải bộc lộ đầy đủ và rõ ràng bản chất của sáng chế

đến mức căn cứ vào đó, bất kỳ người nào có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ

thuật tương ứng đều có thể thực hiện được giải pháp đó, đồng thời phải làm rõ tính

mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp của giải pháp kỹ thuật. Đơn

đăng ký sáng chế trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật của pháp

luật mỗi quốc gia sẽ được cơ quan sáng chế của quốc gia công bố công khai trong

các ẩn phẩm của mình. Nếu đơn được nộp theo Hiệp ước Hợp tác sáng chế (Hiệp

ước PCT) thì đơn sáng chế sẽ được công bố trên ấn phẩm của WIPO. Điều này đã

phản ánh một trong những mục đích hết sức đặc thù của hệ thống sáng chế: công

khai công nghệ. Đây thật sự là nguyên tắc đánh đổi trong bảo hộ sáng chế. Để được

cấp các quyền đối với sáng chế và nhà nước bảo vệ các quyền đó, chủ sở hữu sáng

chế phải công khai sáng chế của mình cho xã hội. Việc công khai bản chất kỹ thuật

và các thông tin sáng chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì các lý do sau: (i) góp

phần làm giàu kho tàng tri thức của nhân loại; (ii) tạo cơ hội khai thác sáng chế

miễn phí cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu trong xã hội sau khi kết thúc thời hạn bảo

hộ sáng chế; (iii) tránh lãng phí trong nghiên cứu để tạo ra các sáng chế mới vì khi

nghiên cứu các nhà nghiên cứu đã biết được trình độ kỹ thuật hiện tại của lĩnh vực

nghiên cứu, tránh lại lặp lại việc nghiên cứu những giải pháp kỹ thuật đã biết; (iv)

tạo điều kiện cho việc tạo ra các sáng chế mới trên cơ sở sáng chế đã có; (v) giúp

phát triển các sản phẩm hoặc tạo ra quy trình đã được bảo hộ; (vi) thúc đẩy hoạt

động chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ cho bên nhận

chuyển giao. Hiện nay có khoảng trên 45 triệu sáng chế được công bố và con số này

tiếp tục tăng với tốc độ hơn một sáng chế mới được công bố mỗi phút. Chỉ riêng

trong năm 2006, số lượng đơn xin cấp bằng cấp bằng sáng chế là 1.76 triệu đơn và

28

có 727,000 bằng độc quyền sáng chế được công bố, các thông tin sáng chế được coi

là nguồn thông tin kỹ thuật và kinh doanh lớn trên thế giới với giá trị vô cùng to lớn

[70].

Thứ ba, bảo hộ sáng chế dược phẩm khuyến khích sự đầu tư vào các ngành

công nghiệp, đặc biệt các ngành công nghiệp mà sản phẩm có hàm lượng chất xám

cao như công nghiệp dược phẩm…có nhiều yếu tố tác động đến quyết định đầu tư

nhưng với các ngành công nghiệp mà rủi ro sao chép cao thì các nhà đầu tư sẽ mạnh

dạn đầu tư nếu việc khai thác các độc quyền sáng chế nhằm thu lợi nhuận tối đa

được đảm bảo. Và điều này cũng tác động đến quyết định đầu tư trực tiếp từ nước

ngoài vào thị trường của một nước.

1.4.2. Các tác động tiêu cực của việc bảo hộ sáng chế:

Bên cạnh các tác động tích cực, việc bảo hộ sáng chế dược phẩm cũng có

những tác động tiêu cực nhất định đến sự phát triển của xã hội, đặc biết đối với các

nước đang phát triển vì:

Thứ nhất, việc trao chủ sở hữu các độc quyền đối với sáng chế dược phẩm,

dù là tạm thời đã hàm chứa khả năng làm tăng vị thế độc quyền của chủ sở hữu sáng

chế dược phẩm, từ đó làm tăng giá thành sản phẩm được sản xuất theo sáng chế

hoặc quy trình được bảo hộ. Trong suốt thời hạn được bảo hộ sáng chế, việc không

có sản phẩm cạnh tranh sẽ tạo vị thế độc quyền cho người nắm độc quyền sáng chế

để khai thác tối đa các quyền của mình. Điều đó có nghĩa là các độc quyền về mặt

pháp lý của chủ sở hữu sáng chế có thể trở thành các độc quyền kinh tế. Có rất

nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá của sản phẩm trong đó cạnh tranh là một yếu tố

quan trọng. Nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích sự tác động của việc bảo hộ

sáng chế đối với giá sản phẩm và chỉ ra sự độc quyền, không có cạnh tranh là

nguyên nhân chính dẫn đến giá sản phẩm cao. Bên cạnh đó, các chi phí không nhỏ

cho việc bảo hộ sáng chế (chi phí cho việc xác lập quyền đối với sáng chế, cho việc

duy trì bằng độc quyền sáng chế, cho việc thực thi quyền trên thực tế…) chắc chắn

sẽ được cộng vào giá sản phẩm, góp phần làm tăng giá sản phẩm. Trong lĩnh vực

dược phẩm, một nghiên cứu về tình huống của Ấn Độ trong việc bảo hộ sáng chế

dược phẩm theo quy định của Hiệp định TRIPS, tập trung vào 20 loại thuốc cho

thấy ước tính giá của các sản phẩm này tại Ấn Độ có thể tăng từ 0 đến 64% với chi

29

phí khoảng 33 triệu USD, tương đương với 3% doanh số bán thuốc tại Ấn Độ [32,

tr.206]. Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng

nhấn mạnh: “Các nghiên cứu hiện hành ước tính việc bảo hộ sáng chế dược phẩm

tại các quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình hoặc thấp sẽ làm tăng giá

thuốc từ 12% đến 200%, từ đó sẽ ảnh hưởng đến sự tiếp cận y tế ở những quốc gia

này” [54]. Ngay tại các quốc gia phát triển, ví dụ như Hoa Kỳ, báo cáo của WTO

cũng chỉ ra rằng: “Khi bằng độc quyền sáng chế hết hiệu lực, giá thuốc bán sỉ tại

Hoa Kỳ sẽ giảm xuống còn khoảng 60% khi chỉ có một nhà cạnh tranh sản xuất

thuốc đồng dạng, giảm xuống còn 29% khi có mười nhà cạnh tranh” [35].

Bên cạnh đó, nếu không có sự kiểm soát đúng mức, chủ sở hữu sáng chế có

thể lạm dụng độc quyền sáng chế của mình để hạn chế số lượng sản phẩm đưa ra thị

trường hoặc giá bán sản phẩm. Ngoài ra, người nắm độc quyền sáng chế cũng có thể

lạm dụng các quyền độc quyền sáng chế để ngăn cản bên thứ ba tạo ta sáng chế mới

hoặc sử dụng sáng chế đó. Điều này gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội.

Thứ hai, chi phí cho việc xây dựng và vận hành hệ thống sáng chế dược

phẩm, bao gồm từ việc xây dựng và đổi mới pháp luật sáng chế thiết lập và vận

hành các cơ quan đang ký sáng chế, cơ quan bảo vệ quyền đối với sáng chế, xây

dựng nguồn nhân lực trong lĩnh vực này…khá lớn. Trong khoảng thời gian từ

những năm 1850 - 1873, hệ thống sáng chế đã bị chỉ trích tốn kém về chi phí và

không hiệu quả và đây là một trong những lý do dẫn đến sự phản đối bảo hộ sáng

chế trong thời gian này. Hiện nay, chi phí cho hệ thống sáng chế dược phẩm vẫn

được coi là khá lớn. Điều này có thể tạo gánh nặng về tài chính cho các quốc gia có

thu nhập trung bình hoặc thu nhập thấp.

Thực tiễn áp dụng bảo hộ sáng chế cho dược phẩm tại các quốc gia cho thấy,

việc bảo hộ sáng chế dược phẩm sẽ làm tăng giá sản phẩm, giảm số lượng sản phẩm

góp phần làm giảm khả năng tiếp cận đối với các sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu

của người dân, gây khó khăn cho chính phủ giải quyết nhu cầu của xã hội, đặc biệt

tại các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Sẽ gây nên hành vi lạm dụng độc

quyền của người nắm độc quyền sáng chế gây khó khăn trong việc giải quyết các

vấn đề cấp thiếp của xã hội và vấn đề an ninh quốc gia.

Dưới góc độ của ngành công nghiệp dược phẩm, việc ấn định và thay đổi giá

30

dược phẩm được xem là thuộc quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh

quy luật cung cầu của thị trường. Đối với các dược phẩm mới phát minh còn trong

thời hạn được bảo hộ theo pháp luật sáng chế, các công ty dược với tư cách là chủ

sở hữu sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế; có thể sản xuất

ra dược phẩm theo sáng chế và bán với giá cao nhằm thu hồi chi phí đầu tư nghiên

cứu, phát triển và thương mại hóa thành quả của sáng tạo đó. Tuy nhiên, dưới góc

độ của người bệnh, nhất là những người bị các bệnh hiểm nghèo, phải điều trị trong

thời gian dài, giá thuốc cao cản trở quá trình chữa bệnh của họ, khiến tính mạng của

họ có thể bị đe dọa. Ngoài ra, nếu phải chi trả một số tiền lớn cho thuốc chữa bệnh

trong thời gian dài có thể đẩy bệnh nhân và gia đình của họ vào tình trạng đói nghèo.

Thứ ba, bảo hộ sáng chế cho dược phẩm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu

thiết yếu của con người, xã hội và mục tiêu an ninh quốc gia.

Các phân tích trên cho thấy bảo hộ sáng chế dược phẩm mang lại rất nhiều

lợi ích cho việc phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, trong ngắn hạn việc bảo hộ

sáng chế ở mức độ cao có thể có những tiêu cực nhất định tới các quốc gia đang

phát triển, đặc biệt các vấn đề an sinh xã hội như y tế, môi trường, an ninh lương

thực. Điều này đòi hỏi có một hành lang pháp lý thích hợp nhằm khai thác tối đa

các lợi ích mà hệ thống sáng chế mang lại, đồng thời giảm bớt các tác động tiêu cực

của hệ thống này.

1.5. Ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế cho dƣợc phẩm:

Chi phí cho dược phẩm chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí bảo vệ

và chăm sóc sức khỏe. Nếu người bệnh không được sử dụng dược phẩm đúng, đầy

đủ và hợp lý, việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của họ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm

trọng. Vì vậy, quyền tiếp cận dược phẩm là bộ phận cấu thành cơ bản, không thể

thiếu của quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nói chung. Trong khi đó, quyền

về sức khỏe nói chung được thừa nhận rộng rãi là một trong những quyền cơ bản

của con người . Tuyên ngôn về quyền con người (QCN) năm 1948 (khoản 1 Điều

đảm bảo sứ c

25) xác nhận mo ̣i ngườ i đều có quyền đươ ̣c hưở ng mứ c sống đủ để khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình , trong đó có ăn , mặc, ở, chăm sóc y tế ;

quyền được bảo đảm trong trường hợp ốm đau, tàn tật, già yếu. Quyền về sức khỏe

31

này được khẳng định lại trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn

hóa năm 1966 (Điều 12), theo đó, con người có quyền được hưởng điều kiện tốt

nhất có thể về sức khỏe thể chất và tinh thần.

Ủy ban các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của LHQ đã nhấn mạnh rằng,

quyền về sức khỏe là một QCN cơ bản, không thể thiếu trong việc thực thi các

QCN. Ủy ban này đã giải thích rằng quyền về sức khỏe không chỉ giới hạn ở quyền

về chăm sóc y tế; nó bao hàm hàng loạt các yếu tố kinh tế - xã hội thúc đẩy các điều

kiện đảm bảo cho con người có một cuộc sống khỏe mạnh, trong đó, yếu tố tiếp cận

dược phẩm đảm bảo chất lượng, số lượng và giá cả hợp lý được đề cao.

Như vậy, quyền tiếp cận dược phẩm nói riêng hay quyền về sức khỏe nói

chung là một bộ phận không thể thiếu của QCN. Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng

đến việc tiếp cận dược phẩm như giá dược phẩm, khả năng của ngành công nghiệp

dược, nguồn nhân lực liên quan, khoảng cách địa lý, việc mua sắm (đấu thầu) dược

phẩm, hệ thống bảo hiểm y tế…; trong đó, giá dược phẩm là cản trở lớn nhất đối

với quyền tiếp cận dược phẩm, đặc biệt đối với người nghèo. Hiện nay, khoảng

90% dân số ở các nước đang phát triển phải trả tiền mua dược phẩm từ tiền túi của

họ, chi phí cho dược phẩm chỉ đứng sau chi phí cho thực phẩm. Kofi Annan - khi

còn là Tổng thư ký LHQ - đã phát biểu, nhân loại không thể chấp nhận việc người

bệnh không thể tiếp cận được dược phẩm để bảo đảm sức khỏe của mình chỉ vì lý

do họ nghèo [54].

Các tranh luận ở cả bình diện quốc gia lẫn quốc tế hiện nay về quyền tiếp cận

dược phẩm thường xoay quanh các nghi ngờ như: (i) các quy định về thương mại

liên quan đến dược phẩm hiện nay chủ yếu phục vụ cho người giàu cũng như nước

giàu; (ii) các lợi ích kinh tế đang thống trị các mối quan tâm về y tế; (ii) dược phẩm

đang được coi và được đối xử như các hàng hóa thông thường mặc dù nó có vai trò

đặc biệt trong phòng và chữa bệnh; (iv) các khía cạnh xã hội đang bị bỏ quên khi

quyền SHTT (quyền sáng chế) đối với dược phẩm đang được coi trọng hơn quyền

về sức khỏe.

Hiện nay, hầu hết các sáng chế mới trong lĩnh vực dược phẩm do các công ty

dược đa quốc gia có trụ sở chính ở các nước phát triển nắm giữ. Các công ty này

thường lập luận rằng, họ phải định giá dược phẩm mới ở mức cao nhằm thu hồi chi

32

phí đầu tư cho nghiên cứu và triển khai. Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếp

cận các dược phẩm mới này của người bệnh ở các nước đang và kém phát triển.

Những người ủng hộ việc tiếp cận dược phẩm ở các nước nghèo thường lập luận

rằng, việc định giá độc quyền như vậy vi phạm QCN trong việc tiếp cận dược

phẩm, nhất là khi Hiệp định TRIPS (có hiệu lực từ ngày 1/1/1995) bắt buộc các

nước đang phát triển phải bảo hộ quyền sáng chế đối với dược phẩm từ 1/1/2005, và

các nước kém phát triển (sau khi được gia hạn) phải bảo hộ từ 1/1/2016. Vì vậy,

pháp luật và các điều ước liên quan đến quyền SHTT cần phải phản ánh sự “chia sẻ

và nhận thức đúng đắn” của các chủ thể liên quan, nhất là từ các nước phát triển;

cần phải bảo đảm rằng các nước nghèo có thể tiếp cận dược phẩm để bảo vệ cuộc

sống người bệnh nhằm bảo vệ một trong những quyền cơ bản của QCN.

Dưới góc độ của ngành công nghiệp dược phẩm, việc ấn định và thay đổi giá

dược phẩm được xem là thuộc quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh

quy luật cung cầu của thị trường. Đối với các dược phẩm mới phát minh còn trong

thời hạn được bảo hộ theo pháp luật sáng chế, các công ty dược với tư cách là chủ

sở hữu sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế; có thể sản xuất

ra dược phẩm theo sáng chế và bán với giá cao nhằm thu hồi chi phí đầu tư nghiên

cứu, phát triển và thương mại hóa thành quả của sáng tạo đó. Tuy nhiên, dưới góc

độ của người bệnh, nhất là những người bị các bệnh hiểm nghèo, phải điều trị trong

thời gian dài như HIV/AIDS, ung thư, viêm gan, tim mạch, thận mãn tính…, giá

thuốc cao cản trở quá trình chữa bệnh của họ, khiến tính mạng của họ có thể bị đe

dọa. Ngoài ra, nếu phải chi trả một số tiền lớn cho thuốc chữa bệnh trong thời gian

dài có thể đẩy bệnh nhân và gia đình của họ vào tình trạng đói nghèo. Tất cả các

điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ của

Liên hiệp quốc, nhất là các mục tiêu về xóa đói - giảm nghèo, bảo vệ sức khỏe bà

mẹ và trẻ em, phòng chống HIV/AIDS và nhiều bệnh tật khác.

1.6. Cơ sở pháp lý quốc tế bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:

Bảo hộ quốc tế về SHTT nói chung và bảo hộ sáng chế dược phẩm nói riêng

đã có một lịch sử phát triển lâu đời. ĐUQT đa phương đầu tiên về SHCN được ký

kết từ năm 1883, về quyền tác giả được ký kết từ năm 1886. Các ĐƯQT song

33

phương đa được ký kết từ trước đó. Cho đến nay đã có khoảng ba mươi ĐƯQT đa

phương quan trọng trong lĩnh vự SHTT đã được ký kết tạo nên một khung pháp lý

quốc tế đầy đủ và hiệu quả cho việc bảo hộ quyền SHTT.

Các ĐƯQT đa phương về SHTT có thể chia thành bốn nhóm chính. Nhóm

thứ nhất, các ĐƯQT về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả. Các

ĐƯQT quan trọng trong lĩnh vực này bao gồm: Công ước Berne về bảo hộ các tác

phẩm văn học, nghệ thuật; Công ước toàn cầu vè bản quyền; Công ước Rome về

bảo hộ ngưởi biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng; Công ước về

bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm về tổ chức phát sóng; Công ước về bảo hộ nhà sản

xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bản ghi âm của họ; Công ước về phổ biến

các chương trình mang tín hiệu truyền qua vệ tinh; Công ước WIPO về quyền tác

giả (WCT); Công ước của WIPO về người biểu diễn và người ghi âm (WPPT)…

Nhóm thứ 2, các ĐƯQT về SHCN trong đó bao gồm các ĐƯQT quy định về

bảo hộ quyền SHCN chung như công ước Paris về SHCN và các ĐƯQT quy định

về bảo hộ từng đối tượng của quyền SHCN như Hiệp định Madrid về ngăn chặn

những chỉ dẫn giả, hoặc làm nhầm lẫn xuất sứ hàng hóa; Hiệp định Nairobi về bảo

vệ ký hiệu Olympic; Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa (1994), Hiệp ước Luật nhãn

hiệu hàng hóa (2006); Hiệp ước Budapest về sự công nhận quốc tế đối với việc nộp

lưu chủng vi sinh nhằm tiến hành các thủ tục về patent; Hiệp ước Washington về sở

hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp; Hiệp ước Luật sáng chế (PLT)…

Nhóm thứ ba, các ĐƯQT quy định về xác lập hoặc liên quan đến xác lập

quyền SHCN như Hiệp ước hợp tác sáng chế (Hiệp ước PCT), Hiệp định Marid về

đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Nghị định thư liên qua đến hiệp định Madrid

về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Công ước Lahay về đăng ký quốc tế kiểu

dáng công nghiệp, Thỏa ước Nice về phân loại quốc tế nhãn hiệu, Thỏa ước

Strabourg về phân loại quốc tế sáng chế…

Nhóm thứ tư, ĐƯQT quy đinh chung về các đối tượng SHTT như Hiệp định

TRIPS.

Bên cạnh các ĐƯQT đa phương, các ĐƯQT song phương và ĐƯQT mang

tính khu vực về SHTT cũng được ký kết.

Trong số các ĐƯQT đa phương kể trên, bảo hộ sáng chế được quy định

34

trong Công ước Paris và Hiệp định TRIPS. Đối với Bảo hộ sáng chế dược phẩm còn

được điều chỉnh trong tuyên bố DOHA và trong nghị thư sửa đổi Hiệp định TRIPS.

Bên cạnh đó, Bảo hộ sáng chế cho còn được quy định trong các hiệp thương mại

song phương, ví dụ Hiệp định thương mại giữa Hoa Kỳ - Việt Nam (năm 2000);

Hoa Kỳ - Jornon (năm 2001); Hoa Kỳ-Singapore (năm 2004), Hoa kỳ - Úc (năm

2005) và trong một số Hiệp định khu vực. Tuy nhiên với phạm vi nghiên cứu của

Luận văn, tác giả chỉ giới hạn phân tích các quy định của các ĐƯQT đa phương và

đặc biệt trong Hiệp định TRIPS, trong tuyên bố DOHA và trong nghị thư sửa đổi

35

Hiệp định TRIPS về vấn đề bảo hộ sáng chế dược phẩm.

Chƣơng II

CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS LIÊN QUAN

BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM

2.1. Khái quát về Hiệp định TRIPS:

Vào năm 1995, Hiệp định liên quan đến các khía cạnh thương mại của quyền

sở hữu trí tuệ (TRIPS) có hiệu lực như một phần của Vòng đàm phán Uruguay về

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), là một thỏa thuận đa phương

rất quan trọng được quản lý bởi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm tăng

cường và thống nhất một số khía cạnh của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại cấp

độ toàn cầu. Những bất cập của việc bảo hộ và các quy định liên quan đến thực thi

quyền sở hữu trí tuệ, cùng với sự thiếu vắng một cơ chế giải quyết tranh chấp quốc

tế được cho là đã được cải thiện trong Hiệp định TRIPS.

Lời mở đầu, cùng với các quy định tại các điều 7-8, quy định các đối tượng

áp dụng và các mục tiêu của Hiệp định TRIPS: để "giảm bớt sự bóp méo và cản trở

đối với thương mại quốc tế", và để các thành viên phải tính đến cả nhu cầu bảo hộ

sở hữu trí tuệ và sự cần thiết phải ngăn chặn bảo hộ trở thành rào cản đối với

thương mại hợp pháp. Lời mở đầu công nhận "các mục tiêu chính sách xã hội cơ

bản của hệ thống quốc gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ, trong đó có mục tiêu phát triển

và công nghệ".

Hiệp định có ba đặc điểm cơ bản sau. Thứ nhất, nó kết hợp các quy định của

Công ước Paris và phát triển trên cơ sở các quy định này. Nó đòi hỏi các nước thành

viên phải đảm bảo các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu đối với các quyền sở hữu trí tuệ

khác nhau, và trao quyền quyết định cách thức thực hiện mục tiêu này. Các yếu tố

chính của việc bảo hộ được quy định rõ bao gồm đối tượng bảo hộ, các quyền được

hưởng và các ngoại lệ đối với các quyền đó. Bằng cách đó, Hiệp định nhằm tạo ra

sự cân bằng giữa các lợi ích lâu dài trong việc thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới, phúc

lợi kinh tế và xã hội với chi phí ngắn hạn cho xã hội thông qua các ngoại lệ khác

nhau, ví dụ để giải quyết vấn đề y tế công cộng, như được quy định tại Điều 8 của

36

Hiệp định TRIPS.

"Thành viên có thể, xây dựng hoặc sửa đổi luật và các quy định của họ,

thông qua các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và dinh dưỡng, và

để thúc đẩy lợi ích công cộng trong các lĩnh vực quan trọng đối với phát triển kinh

tế-xã hội và công nghệ của mình, với điều kiện các biện pháp đó phù hợp với các

quy định của Hiệp định này. "

Thứ hai, Hiệp định TRIPS cung cấp các quy tắc cho việc thực thi quyền sở

hữu trí tuệ ở các nước thành viên. Liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, mỗi quốc gia

thành viên có nghĩa vụ phải quy định các thủ tục trong nước và biện pháp khắc phục

mang tính "khách quan và công bằng", và "không phức tạp hoặc tốn kém quá mức

cần thiết, hoặc đòi hỏi giới hạn thời gian bất hợp lý hoặc chậm trễ một cách tùy

tiện". Hiệp định đặt ra những nguyên tắc chung nhất định áp dụng đối với tất cả các

thủ tục thực thi sở hữu trí tuệ, cũng như một số quy định khác về tố tụng dân sự,

hành chính và biện pháp khắc phục. Nghĩa vụ chung của các quốc gia là cung cấp

cơ chế thực thi theo đó các thủ tục thực thi phải được quy định trong luật quốc gia,

cho phép chủ thể có quyền có thể bảo vệ lợi ích của họ có hiệu quả. Ngoài ra, Hiệp

định cho phép các nước thành viên có thể ra lệnh cấm trong các trường hợp liên

quan đến giấy phép bắt buộc và các quyền sử dụng khác.

Thứ ba, Hiệp định quy định việc giải quyết tranh chấp liên quan đến Hiệp

định TRIPS theo thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO. Hiệp định TRIPS đặt ra

các yêu cầu minh bạch trong đó buộc các nước thành viên đăng tải, công bố văn bản

pháp luật như luật và quyết định tư pháp, và thông báo các luật và quy định cho

Hội đồng TRIPS hoặc WIPO.

Ngoài ra, Hiệp định TRIPS cũng quy định một số nguyên tắc cơ bản, chẳng

hạn như "đối xử quốc gia" (Điều 3) - Đối xử công bằng cho người nước ngoài, cá

nhân và các công ty trong nước, và "tối huệ quốc" (Điều 4) - Đối xử công bằng cho

công dân của tất cả các đối tác thương mại trong WTO. Các nghĩa vụ theo hiệp định

sẽ được áp dụng như nhau đối với tất cả các nước thành viên, nhưng các nước đang

phát triển sẽ có một thời gian dài hơn theo các quy định chuyển tiếp đặc biệt được

áp dụng trong các tình huống như một nước đang phát triển hiện không bảo hộ bằng

37

sáng chế sản phẩm trong lĩnh vực dược phẩm.

Hiệp định TRIPS không phải là một đạo luật thống nhất, thay vào đó là một

thỏa thuận tiêu chuẩn tối thiểu cho phép thành viên cung cấp bảo hộ sở hữu trí tuệ ở

mức độ cao hơn và cũng để các thành viên tự do xác định phương pháp thích hợp

trong việc thực hiện các quy định của Hiệp định này trong phạm vi hệ thống pháp

luật và thực thi của mình .

Ý nghĩa quan trọng của Hiệp định TRIPS trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ

nói chung và bảo hộ sáng chế dược phẩm nói riêng được thể hiện ở các khía cạnh

như sau.

Một mặt, TRIPS mở rộng phạm vi các đối tượng bảo hộ sáng chế bao gồm

dược phẩm. Các tiêu chuẩn tối thiểu được đề cập trong Hiệp định TRIPS đảm bảo

sự bảo hộ sáng chế được cấp cho bất kỳ sáng chế nào, dù là sản phẩm hoặc quy

trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ theo các điều kiện là có tính mới, trình độ

sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp mà không phân biệt nơi sáng chế,

hoặc là sản phẩm được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu.

Mặt khác, Hiệp định TRIPS đã thiết lập các quy định chi tiết về việc thực thi

nhằm chống lại một cách hiệu quả bất kỳ hành vi xâm phạm nào, cũng như quy

trình giải quyết tranh chấp bắt buộc nhằm đáp ứng mục tiêu hài hòa hóa pháp luật

về sở hữu trí tuệ của các nước. Trong Phần III của Hiệp định, các quy định của

khoản 1 (Điều 41), đưa ra nghĩa vụ chung và nguyên tắc cơ bản mà tất cả các thủ

tục thực thi phải đáp ứng. Các phần sau, trong đó quy định về tố tụng dân sự và

hành chính và biện pháp khắc phục (Điều 42 đến Điều 49), tố tụng hình sự (Điều

61), các biện pháp bảo vệ để tránh các tác động tiêu cực của việc lạm dụng bảo hộ

sáng chế hoặc bằng sáng chế, nhưng trong thực tế vẫn chưa rõ liệu các nước có thể

và làm thế nào để sử dụng những biện pháp bảo hộ này khi bằng sáng chế ngày

càng cản trở khả năng tiếp cận y học.

Bên cạnh đó, Hiệp định TRIPS đã góp phần vào việc thúc đẩy đổi mới,

chuyển giao và phổ biến công nghệ một cách có lợi cho kinh tế xã hội và lợi ích

cộng đồng (Điều 7) và cho phép các thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết để

bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy lợi ích công cộng trong các lĩnh vực quan

trọng đối với phát triển kinh tế và công nghệ của họ (Điều 8). Hiệp định TRIPS cho

38

phép các nước thành viên quy định trong pháp luật của mình một số linh hoạt và

biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các linh hoạt cơ bản được xây dựng trong

Hiệp định TRIPS bao gồm li xăng bắt buộc (Điều 31), nhập khẩu song song (Điều

6), sử dụng thử nghiệm (Điều 30), trường hợp ngoại lệ Bolar (Điều 30) và áp dụng

các biện pháp cần thiết để đảm bảo vấn đề y tế công cộng (Điều 8).

Hiệp định TRIPS quy định nghĩa vụ cho tất cả các nước thành viên của WTO

thay đổi pháp luật trong nước và thừa nhận tiêu chuẩn tối thiểu về bảo hộ sở hữu trí

tuệ trong tất cả các lĩnh vực công nghệ, bao gồm cả lĩnh vực dược phẩm. Vì lẽ đó,

nhiều quốc gia đã thay đổi đáng kể các luật sở hữu trí tuệ của mình trong đó có

những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp dược phẩm. Có thể nói

rằng Hiệp định TRIPS đã tạo ra những thay đổi và tác động căn bản đối với vấn đề

bảo hộ sáng chế dược phẩm. Trước khi ban hành Hiệp định TRIPs, bảo hộ sáng chế

cho các dược phẩm hầu như không tồn tại ở nhiều nước nghèo và đang phát triển,

nhưng hiện nay các thành viên WTO đều phải áp dụng pháp luật sáng chế để bảo hộ

dược phẩm.

2.2 Các quy định của Hiệp định TRIPS về bảo hội sáng chế đối với dƣợc

phẩm

Hiệp định điều chỉnh các vấn đề khác nhau về sáng chế bao gồm sáng chế

đối với dược phẩm, như đối tượng của sáng chế và yêu cầu để được cấp bằng sáng

chế; các quyền mà người được cấp bằng sáng chế được hưởng; thời hạn bảo hộ tối

thiểu; không phân biệt đối xử; trật tự công cộng và đạo đức; các trường hợp ngoại

lệ; công bố thông tin; sử dụng bắt buộc; quy trình cấp bằng sáng chế… Hiệp định có

các tiêu chuẩn áp dụng chung cho bằng sáng chế bao gồm cả tiêu chuẩn nội dung

cũng như các vấn đề cụ thể của việc thực thi.

Đối với việc cấp bằng sáng chế dược phẩm, Hiệp định TRIPS áp đặt một

nghĩa vụ đối với các nước thành viên xem xét kỹ lưỡng hai bước: (1) tiến bộ kỹ

thuật nêu trong đơn xin cấp bằng sáng chế phải là một "sáng chế" (2) phải có "tính

mới" , "tính sáng tạo" và "khả năng công nghiệp áp dụng". Theo Hiệp định TRIPS,

các thành viên WTO phải cung cấp thời hạn bảo hộ tối thiểu là 20 năm kể từ ngày

nộp hồ sơ xin cấp bằng sáng chế cho bất kỳ một sản phẩm hoặc quy trình dược nào.

Quyền tối thiểu đối với sáng chế phải được trao bằng cách ngăn chặn những người

39

không được phép sử dụng quy trình được bảo hộ và sản xuất, sử dụng, chào bán,

hoặc nhập khẩu các sản phẩm được cấp bằng sáng chế, nhưng các quốc gia phải

thực hiện việc cấp bằng sáng chế dựa trên việc công bố đầy đủ về sáng chế và họ có

thể yêu cầu thông tin theo phương thức phù hợp nhất để thực hiện quy định này.

Mặt khác, quyền sáng chế dược phẩm không phải là tuyệt đối mà có thể bị

hạn chế hoặc có các ngoại lệ sau:

● Điều 30 của Hiệp định TRIPS xác định các trường hợp ngoại lệ theo nghĩa

rộng, cho phép các nước thực hiện một số ngoại lệ miễn là ngoại lệ đó không xung

đột một cách phi lý với việc khai thác bình thường sáng chế và không gây phương

hại đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bằng sáng chế, có tính đến lợi ích hợp pháp

của các bên thứ ba. Theo quy định này các quốc gia có quyền tự do đáng kể để quy

định trong pháp luật nước mình các loại và mức độ của ngoại lệ. Ví dụ, ngoại lệ về

nghiên cứu và thử nghiệm cho phép sử dụng sáng chế dược phẩm mà không phải

bồi thường cho chủ sở hữu cho mục đích giảng dạy hoặc cho các mục đích hợp

pháp khác. Tuy nhiên, nếu những sáng chế dược không góp phần nâng cao phúc lợi

công cộng vốn là mục tiêu cuối cùng của hệ thống bằng sáng chế, chúng có thể

không được bảo hộ thậm chí khi chúng đại diện cho một tiến bộ khoa học và công

nghệ quan trọng và đóng góp cho sự phát triển kỹ thuật .

● Các nước có thể cho phép bên thứ 3 sử dụng sáng chế dược phẩm (li xăng

bắt buộc) hoặc cho các mục đích phi thương mại công cộng (sử dụng của chính

phủ) mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu sáng chế theo một số điều kiện

nhằm đảm bảo cân bằng giữa lợi ích công cộng và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu

bằng sáng chế, (Điều 31). Một chủ sở hữu sáng chế dược không thể ngăn chặn các

bên thứ ba sử dụng sáng chế của mình, nhưng người này có quyền được hưởng thù

lao đối với việc sử dụng đó.

● Các quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp phù hợp với quy định của

TRIPS nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của chủ sở hữu

sáng chế dược phẩm. Khi một hành vi đã được xác định là phi cạnh tranh sau khi đã

hết thời hạn bảo hộ của pháp luật thì các điều kiện để cấp li xăng bắt buộc sẽ linh

hoạt hơn. Thành viên có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn chặn việc lạm

40

dụng quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu quyền hoặc để ngăn chặn việc dùng đến

các biện pháp hạn chế thương mại một cách bất hợp lý hoặc ảnh hưởng xấu đến

chuyển giao công nghệ quốc tế.

2.2.1 Đối tƣợng bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm

Một trong những quy định quan trọng của Hiệp định TRIPS về sáng chế

được nêu tại Điều 27, trong đó yêu cầu bảo hộ sáng chế được cấp cho bất kỳ sáng

chế nào thỏa mãn các điều kiện theo Hiệp định TRIPS bao gồm các sản phẩm và

quy trình dược.

“1. Theo các quy định tại các khoản 2 và 3, các bằng sáng chế sẽ được áp

dụng cho bất kỳ sản phẩm hoặc quy trình nào, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ,

với điều kiện là tính mới, trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.

Phù hợp với khoản 4 Điều 65, khoản 8 Điều 70 và khoản 3 Điều này, sáng chế sẽ

được cấp mà không phân biệt đối xử về địa điểm của sáng chế, lĩnh vực công nghệ

và các sản phẩm được nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước.

2. Các Thành viên có thể loại trừ không cấp bằng sáng chế cho những sáng

chế cần phải bị cấm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình

để bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức

khoẻ của con người và động vật hoặc thực vật hoặc để tránh gây nguy hại nghiêm

trọng cho môi trường, với điều kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì

lý do duy nhất là việc khai thác các sáng chế tương ứng bị pháp luật của nước đó

ngăn cấm.

3. Các Thành viên cũng có thể loại trừ không cấp bằng sáng chế cho:

a) các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa để

chữa bệnh cho người và động vật;

b) thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh, và các quy trình sản

xuất thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các

quy trình phi sinh học hoặc vi sinh. Tuy nhiên, các Thành viên phải bảo hộ giống

cây bằng hệ thống bằng sáng chế hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc

bằng sự kết hợp giữa hai hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào. Các quy định của

điểm này phải được xem xét lại sau 4 năm kể từ khi Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu

41

lực”[31].

Điều 27.1 của Hiệp định TRIPS quy định bảo hộ sáng chế được dành cho bất

kỳ phát minh nào dù là sản phẩm hoặc quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công

nghệ, với điều kiện là chúng có tính mới, trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng

công nghiệp. Theo phạm vi rộng quy định tại Điều 27.1, dược phẩm nhất định

không thể bị loại trừ khỏi phạm vi đối tượng được bảo hộ sáng chế. Mặc dù Hiệp

định TRIPS không định nghĩa thuật ngữ "công nghệ" thì lĩnh vực dược phẩm thuộc

phạm vi điều chỉnh của điều này và các sáng chế phải được cấp trong lĩnh vực này

là không có gì bàn cãi. Mặt khác, Điều 27.1 cũng thiết lập nguyên tắc không phân

biệt đối xử trong lĩnh vực công nghệ ,"sáng chế sẽ được cấp và quyền sáng chế sẽ

được hưởng mà không phân biệt đối xử về địa điểm của sáng chế, lĩnh vực công

nghệ...", có nghĩa là thành viên không thể từ chối cấp bằng sáng chế trong các lĩnh

vực công nghệ đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc gia về tính mới, trình độ

sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghiệp.

Tuy nhiên, Hiệp định TRIPS không định nghĩa "phát minh", cũng không có

sự phân chia giữa "phát minh" và "khám phá" - vốn không được coi là sáng chế

theo pháp luật truyền thống, chẳng hạn như ý tưởng trừu tượng, các quy luật tự

nhiên, và các chất y tế được tìm thấy trong thiên nhiên. Trên thực tế, các quốc gia

thiết lập các tiêu chuẩn riêng của họ cho các nội dung này.

Điều 27.1 cũng yêu cầu các thành viên cấp các sáng chế cho cả các sản phẩm

và quy trình dược. Nếu một bằng sáng chế được cấp cho một quá trình sản xuất

dược phẩm thì các quyền phải mở rộng cho các dược phẩm thu được trực tiếp từ

quá trình này. Sự khác biệt giữa một bằng sáng chế quy trình và bằng sáng chế sản

phẩm là sáng chế cho quy trình mang lại cho chủ sở hữu độc quyền trong quá trình

sản xuất còn sáng chế sản phẩm mang lại độc quyền trên các sản phẩm đó ngay cả

khi chúng được sản xuất thông qua các quy trình khác nhau. Nói cách khác đối với

bằng sáng chế cho quy trình, thuốc hoặc dược phẩm được sáng chế có thể được sản

xuất bởi những người khác sử dụng một quy trình khác với quy trình được cấp bằng

sáng chế, nhưng đối với sáng chế cho dược phẩm thì việc sản xuất, bán, phân phối

và nhập khẩu những thuốc và dược phẩm nếu không được phép của chủ sở hữu

bằng sáng chế sẽ bị cấm. Vì vậy sáng chế cho sản phẩm dược theo quy định của

42

Hiệp định TRIPS là nghiêm ngặt hơn vì nó trao cho người được cấp bằng được

phép độc quyền sản xuất thuốc. Điều 27.1 của Hiệp định TRIPS giải quyết một

trong những thiếu sót chính của Công ước Paris, cụ thể là định nghĩa sáng chế nào

có đủ điều kiện cấp bằng sáng chế và lần đầu tiên quy định cái gọi là "nguyên tắc

chung về điều kiện để được cấp bằng sáng chế " cho cả sản phẩm và quy trình trong

tất cả các lĩnh vực công nghệ bao gồm lĩnh vực dược. Theo Công ước Paris, các

quốc gia được tự do để loại trừ các lĩnh vực không được cấp bằng sáng chế và quy

định những quy tắc đặc biệt cho một số loại sáng chế, cũng như xác định các yêu

cầu về cấp sáng chế. 49 quốc gia tham gia Công ước Paris đã loại trừ sản phẩm

dược ra khỏi phạm vi cấp bằng sáng chế và mười quốc gia của công ước Paris loại

trừ quy trình sản xuất dược phẩm. Hiệp định TRIPS đã thay đổi tình trạng này bằng

cách áp đặt các nghĩa vụ về điều kiện cấp bằng sáng chế, cấm phân biệt đối xử giữa

các ngành và nơi sản xuất ra sáng chế, và hạn chế quyền của quốc gia để phân biệt

đối xử dành cho các sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu. Do đó, sáng chế

đối với dược phẩm và quy định dược được điều chỉnh như bởi các Hiệp định TRIPS

giống như sáng chế trong các lĩnh vực khác.

Điều 27.1 Hiệp định TRIPS không cho phép loại trừ việc cấp bằng sáng chế

cho thuốc nói chung, nhưng Điều 27.2 và Điều 27.3 quy định quyền tự quyết của

các thành viên để loại trừ một số loại đối tượng khỏi phạm vi cấp bằng sáng chế.

Sản phẩm Dược không được đưa vào danh sách loại trừ này.

Điều 27.2 chỉ rõ rằng việc không cấp sáng chế vì lý do "trật tự công cộng" là

được phép nếu cần thiết để ngăn chặn khai thác thương mại. Nó cho phép loại trừ

cấp bằng sáng chế trong một số tường hợp, tùy thuộc vào đạo đức công cộng, đặc

biệt là trong các lĩnh vực sáng chế mà việc khai thác thương mại nó bị ngăn chặn để

bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức, sức khỏe con người, động vật , thực vật hoặc

sức khỏe hoặc để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường .

Điều 27.3 quy định rằng các thành viên có thể loại trừ một số phương pháp,

phát minh về động thực vật mà không phải là vi sinh vật khỏi phạm vi cấp bằng

sáng chế vì nó gây tranh cãi nghiêm trọng về đạo đức, tôn giáo và văn hóa.

Điều 27.3 ( a) loại trừ các phát minh liên quan đến chẩn đoán, phương pháp

điều trị ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật khỏi phạm vi cấp bằng sáng

43

chế dựa trên các vấn đề sức khỏe cộng đồng và nhân đạo, nhưng ở một số quốc gia

khác những phát minh không được cấp bằng sáng chế bởi chúng thiếu tính áp dụng

công nghiệp. Mặt khác, một số luật quy định rõ ngoại lệ này không áp dụng đối với

bất kỳ thiết bị hoặc sản phẩm nào, chẳng hạn như thiết bị y tế, sản phẩm y tế và

dược chất, có thể được sử dụng cho mục đích chẩn đoán, phẫu thuật hoặc điều trị.

Điều 27.3 (b) quy định các trường hợp không được cấp sáng chế liên quan

đến cây trồng và động vật nhưng không phải bản thân cây trồng và động vật. Vì

Hiệp định TRIPS quy định linh hoạt nhất định, các ngoại lệ trong các hệ thống luật

khác nhau có sự khác biệt đáng kể. Ở một số nước không có điều khoản quy định để

loại trừ những loại phát minh này khỏi phạm vi cấp bằng sáng chế độc quyền.

2.2.2 Tiêu chuẩn cấp bằng sáng chế dƣợc phẩm

Hệ thống bằng sáng chế áp đặt một số điều kiện đối với những người xin cấp

bằng sáng chế để chứng minh cho việc cấp bằng sáng chế bởi chính phủ và đảm bảo

nhà sáng chế được hưởng các quyền tương ứng sự đóng góp của họ. Giống như hầu

hết các hệ thống pháp luật về sáng chế, Hiệp định TRIPS sử dụng ba tiêu chuẩn để

xem xét cấp bảo hộ sáng chế dược phẩm, cụ thể là: tính mới, tính sáng tạo, và khả

năng ứng dụng công nghiệp của dược phẩm hoặc quy trình dược.

Điều 27.1 của TRIPS cho phép thành viên WTO quyền yêu cầu chứng minh

tính mới như một điều kiện để cấp bằng sáng chế dược. Tuy nhiên Hiệp định không

định nghĩa thế nào là một sáng chế có tính mới. Các nước Thành viên được tự do

thiết lập các tiêu chuẩn để xác định tính mới của sáng chế ở mức độ rộng hay hẹp,

tức là tính mới trên phạm vi quốc gia hay phạm vi toàn cầu. Ví dụ, Công ty dược

phẩm A được cấp bằng sáng chế cho thuốc chữa HIV ở các nước OECD nhưng lại

không xin cấp bằng sáng chế ở Senegal. Thuốc được cấp bằng không được bán ở thị

trường Senegal. 5 năm sau, công ty A thay đổi chiến lược của mình và áp dụng bảo

hộ sáng chế ở Senegal. Trong trường hợp này, thuốc sẽ được coi là có tính mới theo

tiêu chuẩn tính mới ở phạm vi quốc gia vì nó chưa từng xuất hiện trước công chúng

Senegal trước đó. Tuy nhiên, nếu theo tiêu chuẩn tính mới toàn cầu thì thuốc này sẽ

không được coi là có tính mới vì đã được biết đến tại các quốc gia khác trong 5 năm

qua, do đó nó có thể bị từ chối cấp bằng sáng chế. Theo tiêu chuẩn chung về tính

mới trong pháp luật về sáng chế hiện nay ở các nước, sáng chế trong lĩnh vực dược

44

phẩm phải không được tiết lộ cụ thể trước đó dưới mọi hình thức tính đến ngày nộp

đơn xin cấp bằng. Yêu cầu đối với tính mới thường được dựa trên việc đánh giá và

so sánh với những sáng chế trước đó ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Nhìn chung, một

sáng chế sẽ không được coi là có tính mới nếu trước đó nó đã được công bố bằng

văn bản, đã được sử dụng hoặc được tiết lộ bằng bất kỳ hình thức trao đổi thông tin

công cộng nào khác. Về tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế này cũng có những quy định

khác nhau trong pháp luật các nước. Ví dụ, cho đến năm 2008, Luật Sáng chế của

Trung Quốc vẫn quy định giải pháp hữu ích sẽ đáp ứng tính mới và được cấp bằng

nếu chưa được sử dụng dưới dạng khai thác ở thị trường Trung Quốc mặc dù đã

được bộc lộ ở nơi khác trên thế giới. Trong khi đó, hầu hết luật của các nước đều

quy định sáng chế phải có tính mới so với trình độ kĩ thuật trên thế giới (nghĩa là

sáng chế đã được công bố hoặc đã được sử dụng ở bất kì nơi nào trên thế giới sẽ bị

coi là không có tính mới). Việc quy định phạm vi của tính mới (thế giới hay trong

nước) đối với sáng chế được bảo hộ có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực dựa

trên những quan điểm khác nhau. Trong mối quan hệ quốc tế, có thể giải thích rằng

việc hạ thấp tiêu chuẩn bảo hộ về tính mới (đã có ở nước ngoài nhưng chưa có thấy

ở trong nước) có thể có lợi cho người dân trong nước nếu họ lấy những thứ của

người nước ngoài đăng ký thành của mình nếu người nước ngoài chưa đăng ký ở

nước mình mặc dù đã đăng ký ở nước ngoài. Tuy vậy, nếu xét theo nghĩa rộng thì

có nguy cơ xảy ra là nhiều sáng chế đáng ra không nên được đăng ký vì đã được

công bố từ trước ở nước ngoài nhưng lại có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế

trong nước. Trong trường hợp này, lợi ích của công chúng nói chung lại bị ảnh

hưởng vì đáng ra sáng chế đó đã thuộc về công chúng.

Hiệp định TRIPS cũng không có định nghĩa về tính sáng tạo của sáng chế và

trao quyền cho các nước Thành viên tự do xác lập tiêu chuẩn về vấn đề này. Nói

chung, tính sáng tạo được giải thích bằng thuật ngữ “không rõ ràng” hoặc “không

hiển nhiên”, có nghĩa là một sáng chế là tiến bộ kỹ thuật đặt trong mối tương quan

so sánh với kiến thức hiện có phải là không hiển nhiên đối với người có kỹ năng

trung bình trong lĩnh vực liên quan. Độc quyền sáng chế chỉ được và chỉ nên cấp

cho những thành quả sáng tạo thực sự, tức là những gì hiển nhiên đối với mọi người

thì không thể thuộc độc quyền của bất kỳ ai. Trong lĩnh vực hóa học và dược phẩm,

45

đối với các trường hợp có mối quan hệ mật thiết về cấu trúc giữa một hợp chất mới

và những chất đã biết, chẳng hạn như muối của axit, bazơ, đồng phân và đồng đẳng

thì có thể dẫn đến việc chất mới không được cấp bằng sáng chế. Ví dụ, Cơ quan

Sáng chế châu Âu (EPO) coi một tiến bộ kỹ thuật nhất định mà có thể dự đoán

trước thì sẽ trở thành hiển nhiên, rõ ràng. Ngược lại, tại Hoa Kỳ, sự hiện diện của

một tiến bộ có thể dự đoán trước không đủ để làm cho nó bị loại trừ khỏi phạm vi

cấp bằng sáng chế. Quy định về kiểm tra tính sáng tạo là công cụ để các nước xác

định giới hạn về chính sách giữa cạnh tranh tự do với khuyến khích sự đổi mới và

tiến bộ công nghệ. Về nguyên tắc, các nước có trình độ công nghệ phát triển sẽ

được lợi hơn khi thiết lập các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về tính sáng tạo nhằm tăng

cường bảo hộ cho giới kỹ sư và tăng tính cạnh tranh.

Yêu cầu thứ ba theo Hiệp định TRIPS là sáng chế phải có khả năng áp dụng

công nghiệp. Điều kiện này yêu cầu một sáng chế dược phải mang lại lợi ích cho

cộng đồng. Quy định này nhằm khuyến khích phát triển công nghệ và các giải pháp

mang tính thực tiễn. Hiệp định TRIPS yêu cầu chứng minh tính áp dụng công

nghiệp hoặc tính hữu dụng như một điều kiện để cấp bằng sáng chế nhưng không có

định nghĩa cụ thể về điều kiện này. Khái niệm về ứng dụng công nghiệp rất khác

nhau tại các quốc gia, đặc biệt là các sáng chế về công nghệ sinh học. Nhìn chung,

bất kỳ phát minh nào có thể đưa vào sản xuất hoặc sử dụng trong hoạt động thương

mại, tạo ra sản phẩm công nghiệp đều được coi là đáp ứng tiêu chuẩn này. Một vấn

đề nữa là, nghĩa vụ chứng minh được yêu cầu đến mức độ nào để chứng minh sáng

chế có đầy đủ tính "ứng dụng công nghiệp". Mặc dù có sự khác biệt về hệ thống

luật, nhưng nhiều quốc gia yêu cầu nhà sáng chế tuyên bố việc sử dụng cụ thể. Việc

sử dụng mang giả thuyết thường không đáp ứng các yêu cầu này. Đối với một số

sáng chế chẳng hạn như sản phẩm gen có một số tính năng rất rộng và không được

biết, thì yêu cầu về tính sử dụng cụ thể có thể hạn chế khả năng được cấp bằng của

người nộp đơn. Mặt khác, theo cơ quan sáng chế châu Âu (EPO), các phát minh

mang tính thử nghiệm thuần túy và các công cụ nghiên cứu về công nghệ sinh học

được coi là không có tính ứng dụng công nghiệp còn Văn phòng Thương hiệu và

Sáng chế Hoa Kỳ (USPTO) coi các phát minh loại này không có tính thiết thực

46

đáng kể. Đối với các dụng cụ nghiên cứu nói trên, EPO yêu cầu sự cần thiết phải chỉ

rõ một phương thức mang tính thực tế để sử dụng các dụng cụ này trong ít nhất một

lĩnh vực công nghiệp thì mới được coi là có tính ứng dụng công nghiệp.

Ví dụ sau đây sẽ minh họa cho việc xem xét tiêu chuẩn thứ ba của Hiệp định

để cấp bằng sáng chế. Nhà nghiên cứu A xin cấp bằng sáng chế cho EST là một

phần nhỏ của trình tự DNA, có thể sử dụng để xác định những gen chưa biết và lập

bản đồ của chúng trong một bộ gen. Sáng chế được mô tả là việc tách riêng các gen

mang thông tin di truyền protein để thực hiện các nghiên cứu khác. Cơ quan sáng

chế cho rằng EST có tính mới và không hiển nhiên vì nó được tách riêng ra từ môi

trường tự nhiên, nhưng nó cần phải thể hiện được một chức năng cụ thể. Việc dẫn

chiếu chung chung đến tính năng sử dụng EST cho các nghiên cứu khác là chưa đủ

để chứng minh tính ứng dụng công nghiệp của sáng chế này (US Federal Circuit, In

re Fisher, 2005). Việc cấp bằng sáng chế cho EST có thể ngăn cản các nhà nghiên

cứu khác được sử dụng công cụ quan trọng này, đe dọa gây ảnh hưởng đến nghiên

cứu và tiến bộ y sinh.

2.2.3. Nghĩa vụ công bố thông tin:

Điều 29.1 của Hiệp định TRIPS đặt ra yêu cầu đối với các Thành viên rằng,

người nộp đơn phải cung cấp thông tin kỹ thuật về sáng chế để những người khác

có thể ứng dụng những gì mà người nộp đơn tuyên bố trong đơn xin cấp bằng sáng

chế của mình.

“1. Thành viên có trách nhiệm yêu cầu người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế

trình bày sáng chế một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức căn cứ vào đó một chuyên

gia trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện sáng chế và có thể yêu cầu

người nộp đơn chỉ ra cách thức tối ưu trong số cách thức thực hiện sáng chế mà tác

giả sáng chế biết tính đến ngày nộp đơn hoặc cho đến ngày ưu tiên của đơn nếu có

yêu cầu hưởng quyền ưu tiên ...”[31].

Mặc dù việc cấp quyền độc quyền sáng chế, trong đó có sáng chế dược

phẩm, được coi là sự khuyến khích đầu tư vào các hoạt động sáng tạo, yêu cầu công

bố thông tin là cần thiết để cân bằng lợi ích của các bên và giảm thiểu sự thiếu hiệu

quả của sức mạnh thị trường do việc lạm dụng độc quyền. Yêu cầu về tính công

47

khai có thể đáp ứng được mục tiêu xã hội về chia sẻ lợi ích vì nó cho phép công bố

những kỹ thuật hữu ích và quan trọng ngay trong thời hạn bảo hộ, và đảm bảo rằng

sáng chế thực sự phục vụ cho cộng đồng sau khi hết thời hạn bằng sáng chế.

Công bố thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật sáng

chế. Quy định nói trên của Hiệp định TRIPS bao hàm nghĩa vụ về cung cấp thông

tin sáng chế, nhưng trao quyền cho các nước Thành viên tự do xác định việc áp

dụng các nghĩa vụ này. Điều 29.1 của Hiệp định đặt ra hai yêu cầu bắt buộc. Thứ

nhất, điều khoản này yêu cầu nước Thành viên công bố thông tin về sáng chế một

cách đầy đủ và rõ ràng để sáng chế có thể được thực hiện bởi người có kỹ năng

trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Yêu cầu này nhằm đảm bảo các sáng chế thực

hiện được chức năng thông tin của mình thông qua việc đòi hỏi bản ghi chi tiết kỹ

thuật của sáng chế có thể cho phép những chuyên gia có kỹ năng trong lĩnh vực kỹ

thuật tương ứng có thể sản xuất và sử dụng đầy đủ sáng chế mà không cần phải thử

nghiệm. Thứ hai, Điều 29.1 đòi hỏi về “cách thức tối ưu” tương tự như quy định của

pháp luật Hoa Kỳ về sáng chế. Yêu cầu này nhằm ngăn chặn việc nhà sáng chế

nhận được bảo hộ trong khi che giấu công chúng thông tin cụ thể về sáng chế của

mình. Không giống như yêu cầu thứ nhất vốn đòi hỏi một sự xem xét khách quan,

yêu cầu về “cách thức tối ưu” mang tính chủ quan do việc đánh giá thế nào được coi

là cách thức tối ưu để thực hiện sáng chế phụ thuộc vào những gì mà nhà sáng chế

biết và cho là cách tốt nhất để thực hiện sáng chế của mình tại thời điểm nộp đơn

xin cấp bằng bảo hộ hoặc vào ngày ưu tiên. Trên thực tế, thông tin nói trên hiếm khi

bao gồm bí quyết cụ thể (know-how) để thực hiện sáng chế vì tại thời điểm nộp

đơn, kinh nghiệm sản xuất là chưa có.

Ngoài ra, Điều 29.2 cho phép các nước Thành viên yêu cầu thông tin liên

quan đến đơn và bằng bảo hộ tương ứng của người nộp đơn ở nước ngoài. Những

thông tin này có thể rất quan trọng đặc biệt với các văn phòng sáng chế ở các nước

đang phát triển nhằm cải thiện và đẩy nhanh quy trình kiểm tra. Tuy nhiên yêu cầu

này không ảnh hưởng đến nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của đơn xin cấp bằng

sáng chế, Hiệp định không đề cập đến hệ quả của việc không thực hiện yêu cầu này.

Song, vì yêu cầu này có thể được áp dụng như một điều kiện cấp bằng, nên một đơn

xin cấp bằng có thể bị từ chối nếu người nộp đơn không cung cấp những thông tin

48

được yêu cầu nói trên.

Hiệp định dành không gian đáng kể cho các nước Thành viên áp dụng các

tiêu chuẩn của Điều 29, theo đó các nước có thể áp dụng theo hướng thắt chặt các

tiêu chuẩn này để thúc đẩy sự sáng tạo và cạnh tranh. Ngoài ra, các nước Thành

viên được quyết định mức độ nghĩa vụ cung cấp thông tin của người nộp đơn đến

đâu, nếu sáng chế bao gồm nhiều phần được xin cấp bằng. Hơn nữa, nước Thành

viên cũng có thể yêu cầu bản mô tả sáng chế dưới dạng văn bản, và xác định cách

thức đánh giá mối tương quan giữa bản mô tả với yêu cầu cấp bằng cũng như

phương pháp để xem xét nội dung yêu cầu cấp bằng.

2.2.4 Ngoại lệ của cấp bằng độc quyền sáng chế dƣợc phẩm

Điều 5A của Công ước Paris, như là một phần của Hiệp định TRIPS, quy

định rằng mỗi thành viên WTO có quyền áp dụng các biện pháp pháp lý quy định

về cấp giấy phép bắt buộc để ngăn chặn việc lạm dụng có thể dẫn đến hình thành

việc thực hiện độc quyền. Điều này được lặp lại tại Điều 30, 31 của Hiệp định

TRIPS quy định cụ thể một số trường hợp theo đó một quốc gia có quyền cấp giấy

phép bắt buộc vì lợi ích công cộng. Cụ thể là, Điều 30 của Hiệp định TRIPS cho

phép sử dụng mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế trong các trường

hợp có điều kiện:

"Các thành viên có thể cung cấp một số ngoại lệ đối với độc quyền theo bằng

sáng chế, với điều kiện ngoại lệ đó không xung đột bất hợp lý với việc khai thác

bình thường sáng chế và không gây phương hại bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của

chủ sở hữu bằng sáng chế, có tính đến lợi ích hợp pháp của bên thứ ba" [31].

Điều 31 của Hiệp định TRIPS quy định chi tiết một danh sách các yêu cầu về

thủ tục cho sự hạn chế độc quyền, cung cấp cơ sở cho nước thành viên cấp giấy

phép bắt buộc nếu tất cả các yêu cầu về thủ tục này được đáp ứng, chẳng hạn như

việc sử dụng không được phép phải được xem xét trong từng trường hợp cụ thể, bị

giới hạn về "phạm vi và thời gian" và được rà soát, đồng thời người sử dụng trái

phép phải có những nỗ lực trước đó để được chuyển nhượng công nghệ sáng chế

trước khi được phép sử dụng mà không không cần sự đồng ý của chủ sở hữu.

Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế là một sự chuyển nhượng của chính

phủ cho phép chính mình hoặc một bên thứ ba để thực hiện các sáng chế mà không

49

có sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế. Nó là một công cụ cần thiết và quan trọng

của chính phủ để can thiệp vào thị trường và giới hạn quyền sáng chế nếu chủ sở

hữu lạm dụng quyền này bằng cách từ chối đưa sáng chế ra thị trường hoặc chào

bán nó với giá cao bất thường mà khách hàng tiềm năng không thể mua được. Ví

dụ, Điều 69 của Luật Sở hữu công nghiệp năm 1996 của Brazil cho phép chính phủ

cấp giấy phép bắt buộc nếu chủ sở hữu sáng chế không sản xuất các công nghệ

được cấp bằng tại địa phương trong vòng ba năm kể từ ngày cấp.

Mỗi quốc gia sẽ có những ưu tiên riêng của mình để áp dụng chuyển giao bắt

buộc. Tại Hoa Kỳ và Châu Âu, có nhiều lợi ích trong việc cấp phép bắt buộc đối với

các bằng sáng chế công nghệ sinh học chung, các công cụ nghiên cứu, sáng chế phụ

thuộc, và cấp phép bắt buộc cũng là một biện pháp khắc phục cho giá cả bất hợp lý.

Ví dụ, tại Hoa Kỳ, Viện Y tế quốc gia cấp giấy phép bắt buộc để tạo điều kiện phổ

biến rộng hơn về "công cụ nghiên cứu" trong công nghệ sinh học. Ở các nước phát

triển chuyển giao bắt buộc được sử dụng để có được mức giá thấp hơn đối với thuốc

phòng chống AIDS, các bệnh nhiệt đới, các loại vắc-xin khác nhau và thuốc thiết

yếu khác. Ví dụ, chính phủ Thái Lan công bố vào năm 2006 rằng nước này dự kiến

cấp chuyển giao bắt buộc đối với một bằng sáng chế bao gồm thuốc điều trị AIDS.

Chính phủ Brazil đã sử dụng thành công trong việc cảnh báo chuyển giao bắt buộc

để thuyết phục các công ty dược đàm phán giảm giá các loại thuốc HIV mới.

Mặt khác, Điều 31 Hiệp định TRIPS cũng quy định việc sử dụng các chuyển

giao bắt buộc khi có những lý do quan trọng nhất định cho phép việc sử dụng không

cần sự đồng ý của chủ sở hữu. Căn cứ để cấp chuyển giao bắt buộc mà không cần

nỗ lực trước đó để được chuyển nhượng trong hai trường hợp sau: khi có một lợi ích

công cộng quan trọng với mức độ "tình trạng khẩn cấp quốc gia hoặc hoàn cảnh

khác cực kỳ khẩn cấp", hoặc khi chuyển giao bắt buộc được sử dụng để khắc phục

các hành vi phi cạnh tranh như giá quá cao do sự thống trị thị trường và thất bại

trong việc cung cấp sản phẩm cần thiết bao gồm thuốc ở giá cả phải chăng.

Thông thường, trong trường hợp có hành vi phi cạnh tranh, việc đàm phán

trước là không cần thiết, nhưng việc sản xuất ban đầu sẽ nhận được chi phí bồi

thường cho lợi ích bị mất. Tuy nhiên, thỏa thuận Doha năm 2001 quy định rằng một

50

quốc gia có thể cấp chuyển giao bắt buộc đối với một loại thuốc mà không cần bồi

thường trong trường hợp có một căn bệnh đe dọa gây ra tình trạng nguy hại khẩn

cấp cho sức khỏe tại nước đó.

Cấp giấy phép bắt buộc theo Hiệp định TRIPS là một vấn đề phức tạp do sự

không chắc chắn và rủi ro pháp lý :

- Thứ nhất, Điều 31 không nêu rõ "bên thứ ba" được chính phủ cho phép

phải là nhà sản xuất địa phương hoặc nước ngoài, hay một thành viên WTO có

nghĩa vụ phải công nhận hiệu lực của chuyển giao bắt buộc nước ngoài. Quyền cấp

chuyển giao bắt buộc sẽ là vô nghĩa, đặc biệt là cho các nước đang phát triển, nếu

nó không được cấp cho nhà sản xuất nước ngoài.

- Thứ hai, theo Điều 5B của Công ước Paris, thiếu lao động địa phương hoặc

thiếu sản xuất công nghiệp địa phương, và sử dụng thương mại (bán và nhập khẩu

sản phẩm sáng chế) được quy định rõ ràng như một căn cứ để cấp chuyển giao bắt

buộc. Tuy nhiên, Điều 31 của Hiệp định TRIPS không đề cập đến cũng không loại

trừ trường hợp nói trên. Trong trường hợp này, người ta có thể lập luận rằng TRIPS

cho phép chuyển giao bắt buộc do thiếu lao động địa phương.

- Điều 31(f) quy định rằng chuyển giao bắt buộc được ban hành "chủ yếu để

cung cấp cho thị trường trong nước", nhưng nó không ngăn việc xuất khẩu những

sản phẩm được sản xuất theo giấy phép bắt buộc. Do đó, có khả năng những sản

phẩm sản xuất trong nước theo chuyển giao bắt buộc sẽ dồn đến thị trường các nước

thứ ba, nơi chúng có thể cạnh tranh với các sản phẩm tương tự được bảo hộ tại thị

trường nước thứ ba.

- Đối với những nước đang phát triển mà các nhà sản xuất địa phương không

có khả năng sản xuất thuốc đủ số lượng và chất lượng theo chuyển giao bắt buộc,

quyền trao cho nước này theo Điều 31 sẽ không có hiệu lực trong thực tế, trừ khi nó

đã có thể ủy thác việc sản xuất cho một nhà sản xuất nước ngoài.

Mặc dù Hiệp định TRIPS cho phép và luật pháp của các nước đang phát triển

đều có quy định về việc cấp li-xăng bắt buộc đối với sáng chế nhưng việc áp dụng

quy định này vào thực tế không dễ dàng, điển hình là trong lĩnh vực sáng chế dược

phẩm. Trên thực tế, li-xăng cưỡng bức thường được cấp để sử dụng sáng chế dược

phẩm thuộc sở hữu của các công ty dược phẩm đa quốc gia. Tuy nhiên, năng lực

51

công nghệ hạn chế của các doanh nghiệp dược phẩm ở các nước đang phát triển trở

thành rào cản cho việc áp dụng quy định về li-xăng bắt buộc. Chính phủ của các

nước đang phát triển có thể cho phép các công ty dược phẩm trong nước sử dụng

sáng chế dược phẩm của các công ty nước ngoài nhưng các công ty này không đủ

trình độ công nghệ để tiến hành sản xuất. Thực tế này đã dẫn đến việc ra đời của

Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS, trong đó cho phép xuất khẩu sản phẩm

được sản xuất theo li-xăng bắt buộc sang các nước khác cũng có nhu cầu cấp li-

xăng bắt buộc nhưng không có khả năng công nghệ để sản xuất sản phẩm theo li-

xăng đó (với những điều kiện bổ sung nhất định được quy định cụ thể trong Nghị

định thư này).

Ví dụ dưới đây cho thấy thực tế không đơn giản của việc cấp giấy phép

chuyển giao bắt buộc sáng chế dược phẩm tại các quốc gia hiện nay. Vào tháng Ba

năm 2012, một quyết định của Cục Sáng chế Ấn Độ đã thu hút sự chú ý của các chủ

. Lần đầu tiên tại Ấn sở hữu bằng đô ̣c quyền sáng chế dược phẩm trên toàn thế giới

Độ, một nhà sản xuất thuốc generic đã được cấp một li xăng bắt buộc để sản xuất và

c quyền sáng bán một phiên bản generic của một dược phẩm đã được cấp bằng đô ̣

chế. Mặc dù Công ty Bayer, nhà sản xuất thuốc danh tiếng đang nộp đơn khiếu nại

nhưng quyết định này có thể tạo ra một tiền lệ cho việc cấp li xăng cưỡng bức tại

Ấn Độ. Nội dung cụ thể của vụ việc như sau.

 Thuốc được cấp Bằng đô ̣c quyền sáng chế tại Ấn Độ của Bayer

Bayer nắm giữ Bằng đô ̣c quyền sáng chế đối với hợp chất Sorafenib

Tosylate. Dưới nhãn hiệu Nexavar , thuốc Sorafenib được sử dụng để điều trị bệnh

ung thư gan và thận. Thuốc không phải để chữa khỏi bệnh mà nhằm kéo dài thêm

sự sống của bệnh nhân ung thư gan , thận giai đoạn cuối . Bayer được cấp Bằng đô ̣c

quyền sáng chế cho thuốc Nexavar tại Ấn Độ năm 2008. Giá liều dùng một tháng

cho bệnh nhân Ấn Độ khoảng 5.600 USD tương đương 3,5 năm lương của một viên

chức Ấn Độ ở bậc thấp nhất. Lượng bán Nexavar tại Ấn Độ khoảng 200 liều/một

tháng cho mỗi năm, thống kê cho thấy may lắm số lượng trên chỉ đáp ứng khoảng

2% số bệnh nhân ung thư cần dùng. Cipla là nhà sản xuất thuốc generic của Ấn Độ

đã sản xuất và bán Sorafenib tại Ấn Độ từ giữa năm 2010. Giá bán một liều /một

tháng của Cipla chỉ 550 USD. Bayer đã nộp đơn khởi kiện Cipla xâm phạm đô ̣c

52

quyền của mình và vụ kiê ̣n đang trong quá trình giải quyết .

Ấn Độ không cấp Bằng đô ̣c quyền sáng chế cho thuốc chữa bệnh cho đến

năm 2005 và chỉ bắt đầu mở rộng việc bảo hộ sáng chế cho thuốc vào năm 2005

trong nỗ lực nhằm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) bao gồm việc

thừa nhận Hiệp định TRIPs. TRIPs đòi hỏi các thành viên WTO phải tạo điều kiện

bảo hộ cho “bất kỳ sáng chế nào, dù là một sản phẩm hay một quy trình trong mọi

lĩnh vực của sáng chế” . TRIPs cũng cho phép các thành viên ban hành luật pháp

nhằm chống lại sự lạm dụng đô ̣c quyền đối với sáng chế mà có thể là áp dụng hình

thức Li xăng cưỡng bức như một phương tiện để tránh việc lạm dụng nêu trên. Luật

Sáng chế của Ấn Độ đã cho phép cấp Li xăng cưỡng bức từ năm 1970.

 Diễn biến việc Công ty sản xuất thuốc generic yêu cầu cấp Li xăng

cưỡng bức.

Natco Pharma Ltd. là công ty sản xuất thuốc generic nổi tiếng của Ấn Độ.

Natco đã phát triển được quy trình sản xuất thuốc generic Sorafenib và được Chính

phủ cho phép sản xuất với số lượng lớn. Natco đã tiếp xúc với Bayer để đề nghị cấp

một li xăng tự nguyện. Tuy nhiên, Bayer đã từ chối. Natco sau đó đã nộp đơn yêu

cầu được cấp Li xăng cưỡng bức dựa theo Điều 84 của Luật Sáng chế của Ấn Độ

đang có hiệu lực. Việc cấp một Li xăng cưỡng bức theo Điều 84 cho một dược

phẩm đang được bảo hộ là sự kiện gây ấn tượng hàng đầu tại Ấn Độ.

Điều 84 nêu ra những điều kiện để có thể được cấp một Li xăng cưỡng bức.

Theo Điều này thì cơ sở để cấp một Li xăng cưỡng bức là việc chủ sở hữu Bằng đô ̣c

quyền sáng chế không thực hiện được các điều sau :

- Đáp ứng “đòi hỏi hợp lý” của công chúng đối với sản phẩm được cấp Bằng

đô ̣c quyền sáng chế.

- Làm cho sản phẩm tiếp cận được do giá phải chăng một cách hợp lý.

(Work the patented item) trên - Thực hiê ̣n sản phẩm được bảo hô ̣ sáng chế

lãnh thổ Ấn Độ.

Natco đã thuyết phục được cơ quan chức năng là mình đủ điều kiện để nhận

một Li xăng cưỡng bức dựa trên từng cơ sở nêu trên, cụ thể như sau.

Đáp ứng nhu cầu công chúng

Natco đưa ra lý lẽ qua các con số về việc sử dụng thuốc Nexavar và nhu cầu

53

thực tế để chứng minh rằng Bayer đã không đáp ứng được đòi hỏi hợp lý của dân

chúng Ấn Độ cho loại thuốc này, đặc biệt là do giá quá cao. Cơ quan chức năng đã

đồng ý với lý do này. Lưu ý bằng chứng về việc thuốc được bán rất mạnh ngoài

lãnh thổ Ấn Độ và lực lượng bán hàng được Bayer thiết lập rất tốt tại Ấn Độ, cơ

quan thẩm quyền nhận thấy Bayer không thể biện hộ cho việc thuốc Nexavar không

dễ dàng tiếp cận cho công chúng Ấn Độ.

Cơ quan chức năng cũng phản bác lý lẽ của Bayer là việc cung cấp thuốc

generic do Cipla sản xuất phải được xem xét tới trong việc xác định việc Bayer có

đáp ứng nhu cầu công chúng hay không. Cơ quan chức năng đã nhấn mạnh tính “hai

mặt” của Bayer, một mặt thì kiện Cipla xâm phạm quyền còn mặt khác thì sử dụng

việc sản xuất thuốc của Cipla để nhằm tránh Li xăng cưỡng bức.

Giá phải chăng

Natco và Bayer bất đồng sâu sắc về vấn đề giá bán hợp lý. Natco cho rằng

thuật ngữ “giá hợp lý” được áp dụng trước tiên cho công chúng người tiêu dùng.

Bayer lại cho rằng khái niệm trên phải áp dụng hợp lý cho nhà sản xuất, giá đó phải

trang trải cho các nỗ lực nghiên cứu và phát triển thành công lẫn thất bại cho đến

khi các loại thuốc đó thực tế được bán trên thị trường.

Bayer cũng khiếu nại là Li xăng cưỡng bức sẽ làm tổn thất cho mình vì như

vậy những người giàu Ấn Độ sẽ được mua thuốc với giá rẻ chỉ ưu tiên dành cho

người nghèo. Tuy vậy, Bayer lại không thể giải thích được việc tại sao không áp

dụng sơ đồ giá bậc thang của riêng mình.

Cuối cùng Cơ quan chức năng nhận thấy “giá hợp lý” phải được hiểu cùng

với sự tham khảo đối với công chúng sử dụng. Bayer đã không phủ nhận được bằng

chứng là giá của Nexavar đã làm cho thuốc vượt khỏi khả năng tiếp cận của đa số

đông đảo bệnh nhân ung thư Ấn Độ.

Được thực hiện tại Ấn Độ

Điều 84 không định nghĩa thuật ngữ “được thực hiện tại Ấn Độ” là như thế

nào. Natco tuyên bố rằng “được thực hiện” nghĩa là “được sản xuất”. Bayer chống

lại và cho rằng sự loại bỏ thuật ngữ “sản xuất” từ một Điều khác của Luật Sáng chế

có nghĩa là thuật ngữ trên không thể được giải thích là thuốc phải được sản xuất tại

54

Ấn Độ.

Khi diễn giải ngôn ngữ của Điều 84, cơ quan có thẩm quyền đã dựa vào

nhiều điều ước qu ốc tế trước khi kết luận rằng thuật ngữ “được thực hiện” chính là

sản xuất. Cơ quan có thẩm quyền đã khước từ lập luận của Bayer là thuật ngữ

“được thực hiện” có thể bao gồm cả việc sử dụng sản phẩm được nhập khẩu để bán

trong kinh doanh thương mại tại Ấn Độ. Kết quả là Cơ quan chức năng vẫn giữ ý

kiến là để tránh Li xăng cưỡng bức chủ sở hữu Bằng đô ̣c quyền sáng chế phải sản

xuất sản phẩm tại Ấn Độ hoặc cấp li xăng cho người khác sản xuất.

 Các điều khoản của Li xăng cưỡng bức

Kết luận là Natco đã chứng minh được những yêu cầu cần thiết nêu tại Điều

84 Cơ quan chức năng đã cấp cho Công ty này một Li xăng cưỡng bức. Theo các

điều khoản của li xăng thì Natco phải bán thuốc với giá 160 USD 1 liều/một tháng,

cũng như phải cung cấp miễn phí cho 600 bệnh nhân mỗi năm. Natco phải trả phí li

xăng là 6% cho Bayer và không được bán thuốc ra ngoài phạm vi Ấn Độ, cũng như

không được cấp bất kỳ li xăng thứ cấp nào.

Đã có những ý kiến khác nhau về tác động dài hạn của Li xăng cưỡng bức

cấp cho Natco - đặc biệt vì vụ việc có thể bị thay đổi do còn bị khiếu kiện. Tổ chức

Y tế thế giới (WHO) đã hoan nghênh cách tiếp cận rộng hơn đối với thuốc chữa

bệnh mà quyết định của cơ quan chức năng Ấn Độ sẽ mang lại. Còn các tập đoàn

dược phẩm và công nghệ sinh học thì lo lắng về các hiệu ứng phụ mà các Li xăng

cưỡng bức có thể gây ra cho việc nghiên cứu và phát triển, họ cho rằng Li xăng

cưỡng bức đối với dược phẩm phải được giới hạn cụ thể chỉ cho các tình huống như

khủng hoảng sức khỏe quốc gia hoặc giá thuốc thực tế không thể tiếp cận được. Rốt

cuộc, chỉ có thời gian sẽ trả lời liệu vụ Natco chống Bayer sẽ kết thúc chỉ như một

vụ việc đơn lẻ và giới hạn trong những tình huống cụ thể của một thị trường dược

phẩm duy nhất – hay đây chỉ là trường hợp đầu tiên trong chuỗi các vụ việc thúc

đẩy các nước đang phát triển sử dụng Li xăng cưỡng bức nhằm làm cho một loại

thuốc quá đắt trở nên có thể tiếp cận được tới dân chúng của họ [74].

Ví dụ thứ 2, áp dụng tại Việt Nam cho thấy việc cấp giấy phép chuyển giao

bắt buộc sáng chế dược phẩm trên thực tế là không đơn giản: Tamiflu (Oseltarmivir

Phosphate) là một dược phẩm đã được cấp bằng độc quyền sáng chế tại một số quốc

55

gia và được sử dụng cho việc điều trị và phòng ngừa một số loại cúm tại nhiều nước

trong đó có Việt Nam. Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế là công ty Gilead

Sciences nhưng F.Hoffman - La Roche (công ty dược phẩm của Thụy Sỹ) được độc

quyền sản xuất và bán sản phẩm Tamiflu trên toàn thế giới theo hợp đồng ký kết với

chủ sở hữu sáng chế.

Ngày 26 tháng 12 năm 2003, trường hợp mắc cúm A (Avian influenza) đầu

tiên được phát hiện tại Việt Nam và sau đó bệnh dịch này phát triển nhanh chóng và

lây lan không chỉ tại Việt Nam mà còn tại nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, đặc

biệt ở các nước Đông và Đông Nam Á. Riêng tại Việt Nam, tính từ thời điểm phát

hiện ra trường hợp mắc cúm A đầu tiên đến ngày 30 tháng 11/2005, cơ quan chức

năng Việt Nam đã ghi nhận 3 đợt dịch với 91 trường hợp mắc bệnh, trong đó 42

trường hợp tử vong tại 32 tỉnh/thành phố. Theo cảnh báo của WHO, nếu dịch cúm

xảy ra, khoảng 10% dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và 1% trong số đó sẽ chết vì

căn bệnh này. Vì vậy, Việt Nam sẽ cần một số lượng lớn Tamiflu. Tuy nhiên, La

Roche đã không thể đáp ứng được nhu cầu trên.

Ngày 26/10/2005, Cục quản lý Dược Việt Nam đã trình lên Bộ trưởng Bộ Y

tế 4 đề nghị, trong đó có nội dung Cục Quản lý Dược Việt Nam thương lượng

quyền với F.Hoffmann La Roche Ltd để triển khai ngay kế hoạch sản xuất nhượng

quyền hoặc sản xuất cưỡng chế nhượng quyền Tamiflu tại Việt Nam. Ngay ngày

hôm sau, ngày 27/10/2005 các đề nghị trên đều được Bộ trưởng Bộ Y tế đồng ý về

cơ bản. Nhưng quá trình thương lượng giữa Cục quản lý Dược Việt Nam và La

Roche để La Roche chuyển giao quyền sản xuất thuốc cho Việt Nam đã không

thành công. Bộ y tế Việt Nam dự định cấp quyết định BBCGQSDSC buộc La

Roche chuyển giao qyền sử dụng sáng chế nhằm sản xuất Tamiflu. Phía Việt Nam

khẳng định, nếu Roche không cấp phép cho Việt Nan sản xuất thuốc, trong trưởng

hợp có tuyên bố về tình trạng khẩn cấp quốc gia, Việt Nam có thể sản xuất thuốc

mà không cần sự đồng ý của Roche.

Trong trường hợp này, Chính phủ Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý và cơ sở

thực tiễn để cấp quyết định BBCGQSDCS. Vì:

Thứ nhất, trên thực tế, Việt Nam có nhu cầu rất lớn về Tamiflu để đối phó

với dịch cúm gia cầm. Cục trưởng Cục quản lý dược Cao Minh Quang khẳng định

56

“Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu nghêm trọng thuốc Tamiflu nếu đại dịch

cúm xảy ra. Trong trường hợp đó, khoảng 10% dân số mắc bệnh, trương đương với

8,2 triệu người. Mỗi bệnh nhân cần 10 viên Tamiflu thì số thuốc cần có cho điều trị

ở Việt Nam là 82 triệu viên, chưa kể thuốc dự phòng cho nhân viên y tế trực tiếp

chăm sóc bệnh nhân và cho những người dân có nguy cơ mắc bệnh. Trong khi đó,

tại Việt Nam vào thời điểm đó “chỉ có 599.000 viên Tamiflu do Đài Loan viện trợ

và con số này mới chỉ đủ cho khoảng 60.000 người bệnh. Kho dự trữ thuốc này của

WHO lúc đó cũng chỉ có 30 triệu viên. Nếu dịch bệnh xảy tại Việt Nam, chắc chắn

số thuốc này không thể được viên trợ hết cho Việt Nam. Vì thế, Việt Nam cần chủ

động tìm các nguồn cung cấp thuốc Tamiflu khác ngoài số thuốc có thể nhận được

viện trợ từ WHO.

Thứ hai, người nắm độc quyền sử dụng sáng chế (La Roche) không thể đáp

ứng nhu cầu cấp bách của Việt Nam. La Roche đã có văn bản gửi WHO khẳng định

không thể đáp ứng nổi nhu cầu thuốc trước những đơn đặc hàng khổng lồ không chỉ

của Việt Nam mà còn các quốc gia khác trên thế giới.

Thứ ba, quá trình thương lượng để hãng La Roche tự nguyện chuyển giao

quyền sử dụng sáng chế nhằm sản xuất Tamiflu tại Việt Nam đã không thành công.

Thứ tư, Pháp luật Việt Nam, có quy định về việc BBCGQSDSC trong trường

hợp: “việc sử dụng đối tượng SHCN nhằm đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh

quốc gia, phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân và các nhu cầu cần thiết khác của xã

hội” và “Người có nhu cầu sử dụng đã cố gắng dùng nhiều hình thức để thỏa thuận

với chủ sở hữu mặc dù đã đưa ra mức giá hợp lý, nhưng chủ sở hữu vẫn từ chối ký

kết hợp đồng chuyển giao sử dụng đối tượng SHCN”.

Dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam, căn cứ trên tình hình thực tiễn tại Việt

Nam, Chính phủ Việt Nam hoàn toàn có quyền BBCGQSDSC mà không cần

thương lượng với người nắm độc quyền sáng chế. Tuy nhiên, cơ quan chức năng

Việt Nam đã chủ động đàm phán với Luận án Roche để có thể đạt được một số thỏa

thuận hợp lý trước khi quyết định BBCGQSD. Ngày 7/11/2005, Việt Nam tiếp tục

đàm phán với La Roche. Mặc dù cả hai bên đều có thiện chí nhưng một số vấn đề

liên quan vẫn chưa được thống nhất. Tuy nhiên Laroche cũng đồng ý khi Việt Nam

công bố tình trạng khẩn cấp mức quốc gia thì Việt Nam có thể áp dụng quyền tự sản

57

xuất thuốc mà không cần sự đồng ý của Roche. Ngày 8/11/2005, La Roche chính

thức đồng ý với Bộ tế Việt Nam về nhượng quyền sản xuất thuốc Tamiflu và cam

kết chuyển giao công nghệ cần thiết để việc sản xuất thuốc này sẽ được tiến hành

sau hai tháng. Kết quả, một hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng tự nguyện đã

được ký kết. Tamiflu là trường hợp đầu tiên mà chính phủ Việt Nam vận dụng các

quy định của pháp luật về BBCGQSDSC. Mặc dù đây chưa phải là trường hợp cấp

quyết định BBCGQSDSC, nhưng thông qua việc dự định áp dụng BBCGQSDSC đã

mang lại những kết quả khả quan. Không chỉ tại Việt Nam, Chính phủ các quốc gia

đang phát triển cũng thường có một quá trình thương lượng với người nắm độc

quyền sáng chế trong những trường hợp tương tự như Việt Nam. Mặc dù Hiệp định

TRIPS cho phép các thành viên được bỏ qua gia đoạn thương lượng với người nắm

độc quyền sáng chế trong trường hợp sử dụng sáng chế vì “mục đích công cộng, phi

thương mại” và “trường hợp khẩn cấp quốc gia hoặc đặc biệt khẩn cấp” nhưng trên

thực tiễn, các quốc gia đang phát triển vì nhiều lý do khác nhau vẫn tiến hành đàm

phán với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế.

Tại Việt Nam, không có sự giải thích chính thức tại sao Việt Nam cần

thương lượng với La Roche mà không quyết định BBCGQSDSC như Đài Loan.

Trong trường hợp tương tự như Việt Nam, ngày 25/11/2005 cơ quan sáng chế Đài

Looan đã cấp quyết định BBCGQSDSC để sản xuất thuốc Tamiflu nhằm đối phó

với dịch cúm gia cầm. Theo tác giả, có thể giải thích vấn đề trên qua các lý do cơ

bản sau: Thứ nhất, vào thời điểm này Việt Nam đang tiến hành đàm phán gia nhập

WTO, Việt Nam cần sự ủng hộ của các quốc gia, đặc biệt các quốc gia đang phát

triển như Hoa Kỳ, EU, Thụy Sỹ. BBCGQSDSC là vấn đề thường có sự phản ứng

không chỉ các chủ sở hữu sáng chế mà còn chính phủ các quốc gia, nếu

BBCGQSDSC có thể bất lợi cho Việt Nam trong quá trình đàm phán này. Thứ 2,

việc sử dụng hiệu quả các quy định về BBCGQSDSC đòi hỏi phải đáp ứng một số

điều kiện như điều kiện về công nghệ, pháp luật, về nguồn nhân lực…Để có thể sử

dụng hiệu quả BBCGQSDSC trên thực tế không phải là vấn đề đơn giản. Tại thời

điểm này, ngành công nghiệp dược phẩm của Việt Nam vẫn còn non trẻ, trình độ

công nghệ chưa cao, còn phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu nhâp khẩu. Ngay cả trong

trường hợp này, để sản xuất thuốc Tamiflu, các công ty sản xuất dược phẩm của

58

Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu từ nước ngoài. Nếu thông qua

thương lượng mà có một hợp đồng chuyển giao tự ngyện thì sẽ tốt hơn việc

BBCGQSDSC, ít nhất là từ việc chuyển giao công nghệ. Thứ 3, mặc dù đã có quy

định pháp luật về BBCGQSDSC nhưng pháp luật Việt Nam vào thời điểm này vẫn

còn thiếu một số quy định để cỏ thể áp dụng trên thực tế như quy định về mức đền

bù, về cách tính mức đền bù, thủ tục BBCGQSDSC cũng chưa được quy định chặt

chẽ. Hơn nữa, BBCGQSDSC là vấn đề rất mới với Việt Nam nên việc thận trọng

của cơ quan có thẩm quyền trong việc ra quyết định BBCGQSDSC là điều dễ hiểu.

Thứ tư, trong thời gian này, dưới tác động của việc cấp quyết định BBCGQSDSC

bởi cơ quan sáng chế Đài Loan đối với Tamiflu, La Roche cũng đã tự nguyện

chuyển giao quyền sử dụng sáng chế Đài Loan cho một số nhà sản xuất tại Trung

Quốc, Ấn Độ và Nam Phi. Thực tiễn này cho tác giả cũng tác động đến tình huống

tại Việt Nam.

Một số nhận xét có thể rút ra từ vụ Tamiflu: (i) nhu cầu sử dụng

BBCGQSDSC nhằm mục đích công cộng, phi thương mại là nhu cầu thực tiễn tại

Việt Nam do đó việc quy định BBCGQSDSC trong pháp luật Việt Nam là cần thiết;

(ii) vai trò của BBCGQSDSC không chỉ thể hiện trong thực tiễn sử dụng mà còn thể

hiện như một biện pháp mang tính “ngăn ngừa”, nghĩa là việc đe dọa sử dụng

BBCGQSDSC có thể thúc đẩy việc chuyển giao tự nguyện quyền sử dụng sáng chế.

Do đó trong điều kiện của các nước đang phát triển như Việt Nam, với trình độ phát

triển công nghệ còn chưa cao, với mục đích thu hút đầu tư nước ngoài, với kinh

nghiệm sử dụng BBCGQSDSC còn hạn chế, việc thương lượng với người nắm độc

quyền sử dụng sáng chế trước khi cấp quyết định BBCGQSDSC là việc làm cần

thiết [17, tr.148-152].

2.2.5 Nhập khẩu song song:

Nhập khẩu song song (Parallel Import – PI), còn gọi là thị trường „nhập khẩu

xám‟ (gray market import), là hiện tượng những hàng hoá được sản xuất dưới sự

bảo hộ đầy đủ của các luật thương hiệu, bằng sáng chế, hoặc bản quyền, chúng

được đưa vào lưu thông trong một thị trường, và sau đó được nhập khẩu vào một thị

trường thứ hai mà không được phép của các chủ sở hữu tài sản trí tuệ trong địa bàn

đó. Các chủ sở hữu này thường là một đại lý địa phương được các nhà sản xuất cấp

59

phép phân phối cho sản phẩm của mình.

Ví dụ, nó là hợp lệ khi một công ty kinh doanh mua một lượng thuốc kê toa

ở Tây Ban Nha, sau đó nhập khẩu vào Thụy Điển hay Đức mà không có sự chấp

thuận của nhà phân phối địa phương sở hữu quyền sáng chế tại 2 nước đó. Trong

thực tế, các quy tắc của thị trường nội bộ trong Liên minh châu Âu cho phép thương

mại song song giữa những quốc gia thành viên trong hầu hết tất cả các hàng hoá.

Lưu ý rằng các hàng hóa nhập khẩu song song là hàng hóa hợp pháp tại thị

trường ban đầu, chúng không phải là hàng giả mạo, hàng lậu hay hàng hóa ăn cắp.

Như vậy, hàng hóa nhập khẩu song song hoàn toàn giống với các sản phẩm

chính thức của nước sở tại, ngoại trừ rằng chúng có thể được đóng gói khác nhau và

có thể không có bảo hành của nhà sản xuất gốc.

Nguyên nhân của nhập khẩu song song thường là các công ty, hoặc là nhà

sản xuất hoặc nhà phân phối, do nhiều nguyên nhân đã thiết lập mức giá khác nhau

cho cùng một sản phẩm của mình tại các thị trường khác nhau. Vì thế, các nhà nhập

khẩu song song thường mua sản phẩm tại một quốc gia có mức giá (P1) rẻ hơn giá

mà chúng được bán chính thức ở một nước thứ hai (P2), sau đó họ nhập khẩu các

sản phẩm này vào nước thứ hai, và bán các sản phẩm ở nước này tại một mức giá

mà thường nằm giữa P1 và P2.

Về vấn đề này, thực sự đã có nhiều tranh cãi giữa những người ủng hộ và

phản đối xung quanh tính hợp pháp của việc nhập khẩu song song, nó liên quan đến

một học thuyết gọi là “Học thuyết hết quyền – Exhaustion doctrine” hay còn gọi là

học thuyết “bán lần đầu – first sale doctrine”. Theo học thuyết đó, lợi nhuận có

60

được từ việc các công ty bán sản phẩm của mình lần đầu tiên ra thị trường là đã đủ

để đền đáp cho công ty đó trong việc nghiên cứu ra sản phẩm. Kể từ đấy họ sẽ

không còn quyền hạn gì về sở hữu trí tuệ với sản phẩm đó nữa, nói cách khác họ

không thể can thiệp vào những gì xảy đến tiếp theo đối với các sản phẩm đã bán ra

trên thị trường. Tuy nhiên, quan niệm về tính đúng đắn của học thuyết đó là khác

nhau giữa các quốc gia. Những nước phản đối sẽ ban hành các luật lệ cấm việc nhập

khẩu song song, trong khi các nước ủng hộ thì sẽ xem việc nhập khẩu như thế là

hợp pháp.

Trong thị trường dược phẩm, quy định về nhập khẩu song song đã trở thành

một vấn đề quan trọng trong hệ thống thương mại toàn cầu. Những người ủng hộ

một hệ thống quốc tế để bảo vệ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ thì mong muốn một

lệnh cấm nhập khẩu song song được ban hành trên phạm vi toàn thế giới. Họ lý luận

rằng nếu như loại hình này được cho phép rộng rãi, nó sẽ làm giảm đáng kể lợi

nhuận trong lĩnh vực nghiên cứu những dược phẩm đặc trị, và hậu quả là sẽ không

thể khuyến khích và làm suy tàn công việc R&D để sáng tạo ra những loại thuốc

tiên tiến. Hơn nữa, nhập khẩu song song sẽ làm các cơ quan y tế khó khăn hơn trong

việc kiểm soát giá thuốc và ban hành các chính sách về thuốc của mình. Thế nhưng,

cơ quan quản lý y tế ở các nước nghèo thì lại cho rằng khả năng tiếp cận được

những nguồn cung ứng rẻ là rất quan trọng, vì vậy họ ủng hộ việc nhập khẩu song

song. Cho dù không ủng hộ, họ cũng muốn dùng việc nhập khẩu song song để đe

dọa và tạo sức ép để các nhà phân phối chính phải giảm giá thành sản phẩm của

mình. Rõ ràng là những người hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển đặc

biệt xem trọng việc tiếp cận những nguồn thuốc giá rẻ cho quốc gia mình hơn là

việc ủng hộ việc đầu tư nghiên cứu R&D ở nước ngoài.

Nhập khẩu song song được cho phép trong Hiệp định TRIPS, nhưng Hiệp

định TRIPS không quy định vấn đề này một cách rõ ràng. Mặc dù Điều 28 của Hiệp

định TRIPS cấp độc quyền nhập khẩu cho chủ bằng sáng chế, Điều 6 của Hiệp định

TRIPS cho phép thành viên hạn chế quyền của chủ sở hữu sáng chế của theo

nguyên tắc của học thuyết hết quyền, và quy định rằng vấn đề hết quyền không bị

áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp; do đó cho phép các quốc gia tự do để xác

61

định chính sách riêng của họ để hợp pháp hóa nhập khẩu song song về mặt này.

Trong quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định TRIPS, các nước đã không

thể thống nhất được với nhau về vấn đề khai thác hết quyền sở hữu trí tuệ. Có quá

nhiều cách tiếp cận và quan điểm về vấn này và pháp luật của các nước cũng rất

khác nhau, quyền lợi của các nước phát triển và đang phát triển cũng khác nhau làm

cho các nước không thể đi đến thỏa thuận được với nhau. Đây là vấn đề có ý nghĩa

đặc biệt quan trọng trong mối tương quan về quan hệ lợi ích giữa các nước phát

triển và các nước đang phát triển cũng như tương quan lợi ích giữa chủ sở hữu trí

tuệ với lợi ích của xã hội. Vấn đề mấu chốt đặt ra là phạm vi quyền của chủ sở hữu

sẽ được mở rộng đến mức nào hay nói cách khác là chủ sở hữu trí tuệ được kiểm

soát sản phẩm mang đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ của mình đến giai đoạn

nào của quá trình lưu thông sản phẩm. Chính vì vậy, Điều 6 của Hiệp định đã quy

định theo hướng các thành viên có quyền tự quyết định về việc xác định quyền sở

hữu trí tuệ chấm dứt ở phạm vi quốc gia, khu vực hay quốc tế. Tuyên bố Doha về

Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng đồng một lần nữa khẳng định việc quy định

hiệu lực của các quy định trong hiệp định TRIPS liên quan tới trạng thái đã khai

thác hết quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền của mỗi thành viên. Các thành viên được

quyền đặt ra quy định của mình về trạng thái đã khai thác hết quyền sở hữu trí tuệ

mà không làm ảnh hưởng đến quy định về chế độ đối xử quốc gia và đối xử tối huệ

quốc quy định tại Điều 3 và Điều 4 của Hiệp định TRIPS. Trên thực tế, liên quan

đến quyền ngăn cấm của chủ sở hữu sáng chế, hầu hết các quốc gia hiện nay áp

dụng học thuyết chấm dứt quyền sau lần bán đầu tiên trên phạm vi quốc tế.

Vào tháng 12 năm 1997, chính phủ Nam Phi đã thông qua một điều luật cho

phép thực thi hai chính sách gây nhiều tranh cãi. Một là, việc nhập khẩu song song

cho phép những nhà nhập khẩu Nam Phi được mua các loại thuốc từ nguồn rẻ nhất

sẵn có, bất kể những người giữ bản quyền có cho phép hay không. Nam Phi đã

khẳng định quyền nhập khẩu “những phiên bản giá rẻ” của các loại thuốc có bản

quyền. Chính phủ làm điều này bởi họ không đủ khả năng để chi trả cho các loại

thuốc có bản quyền giá cao. Hai là, việc cấp phép bắt buộc, cho phép chính phủ

Nam Phi cấp phép cho các công ty nội địa sản xuất những phiên bản giá rẻ của các

loại thuốc mà các công ty nước ngoài đang giữ bản quyền, bất kể họ có đồng ý hay

62

không. Các nhà sản xuất thuốc nước ngoài nhận thấy điều luật này đã vi phạm

quyền sở hữu trí tuệ của họ, và 39 công ty nước ngoài nhanh chóng đâm đơn kiện

nhằm ngăn chặn việc thực thi điều luật này. Trong khi pháp luật quốc tế đứng về

phía các công ty dược thì họ vấp phải sự phản ứng gay gắt từ phía công chúng. Một

số nhà sản xuất thuốc trị bệnh AIDS hàng đầu, trong khi vẫn phản đối điều luật của

Nam Phi, đã bắt đầu thay đổi chính sách của họ. Vào tháng 5/2000, năm nhà sản

xuất thuốc trị bệnh AIDS lớn - Merck, Bristol-Myers Squibb, Roche, Glaxo, và

Boehringer Ingelhiem - tuyên bố rằng họ sẽ thương lượng bán thuốc trị bệnh AIDS

với giá thấp hơn tại những nước đang phát triển, đầu tiên tại vùng Saharan châu Phi.

Tuy nhiên làn sóng phản đối vẫn tiếp diễn. Vào tháng 2/2001, một công ty dược Ấn

Độ, Cipla, chào bán một hỗn hợp 3 loại thuốc trị bệnh AIDS cho các nước nghèo ở

châu Phi với mức giá 600 USD/ năm cho một bệnh nhân, và 350 USD cho Tổ chức

các Bác sĩ không Biên giới (thông thường bệnh AIDS được điều trị với một hỗn hợp

kết hợp 10 loại thuốc kháng virút khác nhau). Bản quyền của các loại thuốc này

được sở hữu bởi những công ty phương Tây, nhưng luật Ấn Độ cho phép các công

ty nội địa sản xuất những phiên bản giá rẻ của các loại thuốc có bản quyền. Tuyên

bố của Cipla dường như đã tác động mạnh đến những công ty dược phương Tây.

Vào tháng 3 năm 2001, Merck thông báo họ sẽ giảm giá hai loại thuốc trị bệnh

AIDS, Crixivan và Stocrin. Crixivan, được bán với giá 6.016 USD/năm tại Mỹ, sẽ

được bán chỉ 600 USD/năm cho các nước đang phát triển. Stocrin, được bán với già

4.730 USD/năm tại Mỹ, sẽ được bán chỉ 500 USD/năm. Vài ngày sau đó, Bristol-

Myers Squibb đưa ra giá thấp hơn, tuyên bố sẽ bán thuốc trị bệnh AIDS Zerit đến

các nước nghèo khổ tại châu Phi với giá chỉ 0,15 USD/ngày hoặc 54 USD/năm cho

một bệnh nhân, thấp hơn chi phí sản xuất Zerit. Tại Mỹ và châu Âu, Zerit đang

được bán cho bệnh nhân với giá 3.589 USD/năm. Bước đi này tiếp theo sau một

tuyên bố từ phòng thí nghiệm Abbott sẽ bán hai trong số các loại thuốc trị bệnh

AIDS với mức giá “không lợi nhuận” tại vùng Saharan châu Phi. Tuy nhiên, không

có bước đi ở trên nào đủ sức xoa dịu làn sóng chỉ trích. Vào tháng 4/2001, các công

ty dược dường như đầu hàng trong cuộc chiến với công chúng và họ đồng ý ngừng

vụ kiện chống lại chính phủ Nam Phi. Điều này mở ra hướng đi cho Nam Phi trong

việc bắt đầu nhập khẩu những phiên bản giá rẻ của các loại thuốc có bản quyền từ

63

các nhà sản xuất như Cipla của Ấn Độ. Cùng lúc đó, các công ty dược cũng có được

sự đảm bảo của Nam Phi rằng những phiên bản giá rẻ của các loại thuốc có bản

quyền sẽ chỉ được bán tại vùng Saharan châu Phi và không được xuất khẩu sang các

khu vực khác trên thế giới.

2.2.6 Thời hạn bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm

Thời hạn của bằng sáng chế là khoảng thời gian tối đa mà bằng sáng chế có

hiệu lực. Thời gian này thường được bắt đầu tính từ ngày nộp đơn xin cấp bằng

hoặc từ ngày bằng bảo hộ được cấp. Thời hạn bảo hộ sáng chế nói chung và sáng

chế dược phẩm nói riêng không được ngắn hơn 20 năm tính từ ngày nộp đơn theo

quy định tại Điều 33 Hiệp định TRIPS. Kết quả là hầu hết các hệ thống pháp luật

sáng chế hiện nay quy định thời hạn bảo hộ sáng chế là 20 năm kể từ ngày nộp đơn.

Tuy nhiên, quy định này của WTO không cấm các nước Thành viên ghi nhận trong

pháp luật nội địa quyền khác tương tự quyền sáng chế với thời hạn ngắn hơn. Một

ví dụ cho loại quyền này là quyền đối với giải pháp hữu ích (utility models) với thời

hạn bảo hộ thường là 6 hoặc 10 năm.

Trong khuôn khổ WTO đã từng có một số tranh chấp giữa các nước Thành

viên về quy định trong pháp luật quốc gia liên quan đến thời hạn bảo hộ sáng chế.

Một trong số đó là vụ kiện nổi tiếng Canada-Term of Patent Protection [64], theo

đó ngày 06/05/1999, Hoa Kỳ yêu cầu tham vấn với Canada về điều khoản bảo hộ

đối với các sáng chế được cấp trước ngày 01/10/1989. Hoa Kỳ cho rằng Hiệp định

TRIPS quy định các thành viên phải bảo hộ các sáng chế trong vòng ít nhất 20 năm

kể từ ngày cấp bằng sáng chế và yêu cầu các thành viên áp dụng điều khoản tối

thiểu này cho tất cả các sáng chế kể từ ngày thực thi hiệp định của các thành viên.

Hoa Kỳ cáo buộc, theo Bộ luật sáng chế Canada, điều khoản quy định về bảo hộ

sáng chế với các sáng chế cấp trước ngày 01/0/1989 là 17 năm kể từ ngày cấp bằng

sáng chế. Hoa Kỳ cáo buộc Canada vi phạm Điều 33,65 và 70 của Hiệp định

TRIPS. Ngày 15/07/1999, Hoa Kỳ yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm. Ngày

22/10/1999, Ban Hội thẩm chính thức được thành lập. Ngày 05/05/2000, Ban Hội

thẩm công bố báo cáo. Báo cáo nêu rõ:

- Theo Điều 70.2 của Hiệp định TRIPS, Canada cấp bằng bảo hộ sáng chế

cho các sáng chế có hiệu lực ngày 01/01/1996, ngày hiệu lực Canada thực thi Hiệp

64

định TRIPS.

- Mục 45 của Luật sáng chế Canada không nêu điều khoản bảo hộ đối với

các sáng chế kết thúc trước 20 năm kể từ ngày được cấp theo điều 33 của Hiệp định

TRIPS và do vậy bác bỏ lập luận của Canada rằng thời hạn bảo hộ 17 năm nêu

trong Luật sáng chế tương ứng với thời hạn 20 năm của Hiệp định TRIPS do tồn

đọng, trì hoãn theo luật hoặc tạm dừng không chính thức…

Ngày 19/06/2000, Canada thông báo kháng án. Ngày 18/09/2000, Cơ quan

Phúc thẩm công bố báo cáo, trong đó tán đồng tất cả các kết luận của Ban Hội thẩm.

Ngày 12/10/2000, DSB thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo của

Ban Hội thẩm được Cơ quan Phúc thẩm tán thành. Cơ quan phúc thẩm kết luận

rằng: thời hạn bảo hộ sáng chế là 17 năm (tính từ ngày cấp văn bằng bảo hộ) cho

những đơn đăng ký sáng chế được nộp trước ngày 01 tháng 10 năm 1989 và thường

kết thúc trước 20 năm tính từ ngày nộp đơn theo quy định tại Phần 45 Đạo luật

Sáng chế Canada không phù hợp với quy định tại Điều 33 Hiệp định TRIPS [67].

2.2.7 Quy định về bảo vệ quyền đối với sáng chế dƣợc phẩm

Liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ, ngoài việc quy định những biện

pháp đầy đủ và thỏa đáng mà các thành viên phải có để bảo vệ quyền đối với sáng

chế, Hiệp định TRIPS cũng có những giới hạn nhất định nhằm bảo đảm cân bằng

với lợi ích của xã hội. Cụ thể trong các thủ tục thực thi quyền, Hiệp định TRIPS thể

hiện rất rõ ràng quan điểm coi quyền đối với sáng chế, bao gồm sáng chế dược

phẩm là một quyền dân sự và có thể nói các thủ tục dân sự sẽ được áp dụng đối với

các hành vi xâm phạm quyền sáng chế. Hơn nữa, quy định về việc kiểm soát biên

giới cũng không bắt buộc phải áp dụng đối với đối tượng này. Luật pháp của hầu

hết các nước trên thế giới cũng quy định việc thực thi quyền đối với sáng chế được

áp dụng theo thủ tục dân sự. Rất ít nước có hệ thống thực thi quyền đối với sáng chế

bằng biện pháp hành chính như Trung Quốc, Việt Nam, theo đó các cơ quan hành

chính Nhà nước chủ động thực hiện các biện pháp bảo về quyền cho chủ sở hữu

sáng chế bất kể chủ sở hữu sáng chế có yêu cầu hay không.

2.2.8. Quy định về việc thực thi sáng chế dƣợc phẩm

2.2.8.1. Những quy định chung:

Hiệp định TRIPS là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên điều chỉnh cơ chế

65

pháp lý và hành chính nội bộ của các quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, theo

đó Phần III Hiệp định TRIPS yêu cầu các nước thành viên thiết lập cơ chế hành

chính và tư pháp để người nắm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và chủ sở hữu sáng

chế dược phẩm nói riêng có thể tìm kiếm sự bảo vệ lợi ích của họ một cách hiệu

quả. Nghĩa vụ chung của các thành viên là thiết lập các thủ tục thực thi được ghi

nhận trong pháp luật quốc gia để ngăn chặn và xử lý bất kỳ hành vi xâm phạm sở

hữu trí tuệ quyền nào bao gồm cả hành vi xâm phạm sở hữu sáng chế dược. Các thủ

tục này phải "công bằng và hợp lý", và "không quá phức tạp hoặc tốn kém, đòi hỏi

thời gian không hợp lý hoặc giới hạn hoặc chậm trễ không chính đáng" (Điều 41

Hiệp định TRIPS). Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 41 Hiệp định TRIPS thiết lập hai

nguyên tắc quan trọng là: các thành viên không cần phải thiết lập hệ thống tư pháp

riêng biệt cho việc thực thi nói trên, và không có "nghĩa vụ đối với việc phân phối

các nguồn lực giữa thực thi quyền sở hữu trí tuệ với thực thi pháp luật nói chung".

2.2.8.2. Các thủ tục và biện pháp dân sự và hành chính

Điều 42 đến 49 của Hiệp định TRIPS thiết lập các nguyên tắc cơ bản để tiến

hành các thủ tục tố tụng dân sự để thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền

sở hữu sáng chế dược phẩm. Các quy định này là giống nhau giữa các hệ thống

pháp lý, bao gồm các quyền lợi của bị đơn và nguyên đơn, các bên có cơ hội để đưa

ra chứng cứ, các biện pháp phòng ngừa...Có sự linh hoạt trong các quy định này ví

dụ như trong việc tính toán thiệt hại đối với hành vi vi phạm không theo cách thức

thông thường trong các lĩnh vực khác.

Một quy định đáng lưu ý là Điều 44.2 của Hiệp định TRIPS cho phép thành

viên loại trừ việc ra lệnh cấm trong những trường hợp liên quan đến giấy phép bắt

buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế dược và các trường hợp sử dụng sáng

chế dược khác của chính phủ.

2.2.8.3. Biện pháp tạm thời

Điều 50: 1 của Hiệp định TRIPS bắt buộc các Thành viên phải thiết lập các

biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn việc đưa hàng hoá xâm phạm sáng chế

dược vào các kênh thương mại và để bảo vệ chứng cứ. Điều 50.2 yêu cầu các cơ

quan tư pháp có quyền áp dụng biện pháp tạm thời đơn phương bên ngoài phiên

điều trần của bên kia nếu sự chậm trễ có thể gây ra thiệt hại không thể khắc phục

66

được. Điều này có nghĩa là chủ sở hữu sáng chế dược có quyền xin áp dụng biện

pháp này bất kể bị đơn có được thông báo trước và có cơ hội được bào chữa hay

không.

2.2.8.4. Các biện pháp kiểm soát tại biên giới

Điều 51 đến Điều 60 Hiệp định TRIPS ghi nhận các biện pháp mà một

Thành viên phải áp dụng để ngăn chặn việc đưa hàng hoá xâm phạm sáng chế dược

vào lưu thông. Theo Điều 51.1 của Hiệp định TRIPS các thủ tục này chỉ cần được

áp dụng đối với hàng hóa bị nghi ngờ "giả mạo nhãn hiệu hoặc vi phạm bản quyền",

và đặc biệt không bao gồm hàng hóa nhập khẩu song song.

Như vậy, chủ sở hữu sáng chế dược phẩm có thể nộp đơn đến các cơ quan

chức năng trình bày đầy đủ về việc hàng hóa vi phạm sáng chế cùng với các thông

tin liên quan. Nguyên đơn có thể phải thực hiện biện pháp bảo đảm bồi thời thiệt hại

có thể xảy ra cho nhà nhập khẩu trong trườn hợp không có hành vi vi phạm sáng

chế dược. Ngoài ra, Hiệp định còn bao gồm các điều khoản thông báo cho nhà nhập

khẩu về việc tạm giữ hoặc trả lại hàng hóa bị tạm giữ của các cơ quan có thẩm

quyền; chủ sở hữu sáng chế dược có quyền kiểm tra hàng hóa vi phạm mặc dù cơ

quan có thẩm quyền vẫn có thể đảm bảo bí mật thông tin; cơ quan chức năng có

quyền tiêu hủy, tịch thu hoặc cấm tái xuất hàng hóa vi phạm.

Ngoài ra, Hiệp định TRIPS còn bao gồm một phần riêng biệt liên quan đến

việc "cấp và duy trì quyền sở hữu trí tuệ và các thủ tục liên quan giữa các thành

viên". Phần này chỉ bao gồm Điều 62 quy định các Thành viên có thể áp dụng quy

trình và thủ tục hợp lý liên quan đến việc cấp hoặc duy trì quyền sở hữu trí tuệ bao

gồm quyền sở hữu sáng chế dược phẩm. Điều này cũng quy định thủ tục tố tụng

hành chính và giữa các bên liên quan đến việc cấp hoặc thu hồi quyền sẽ phụ thuộc

vào các biện pháp bảo vệ tương tự như đối với thủ tục thực thi. Cuối cùng, thủ tục

rà soát tư pháp hoặc "bán tư pháp" đối với việc cấp và thu hồi sáng chế dược phẩm

cũng được quy định.

2.2.8.5 Hệ thống giải quyết tranh chấp của Hiệp định TRIPS:

- Minh bạch hóa:

Điều 63 của Hiệp định TRIPS thiết lập các yêu cầu minh bạch hóa, trong đó

bao gồm nghĩa vụ công bố các văn bản quy phạm pháp luật như các luật và quyết

67

định tư pháp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và sáng chế dược phẩm nói

riêng. Điều này thiết lập một nghĩa vụ thông báo các luật và quy định cho Hội đồng

TRIPS hoặc WIPO. Thành viên có nghĩa vụ cung cấp tóm tắt hoặc chi tiết hóa đầy

đủ các quy định hoặc quyết định được áp dụng theo yêu cầu của các Thành viên có

lí do tin rằng các quyền của họ có thể bị ảnh hưởng. Các thông tin mật sẽ được bảo

vệ.

- Giải quyết tranh chấp:

Điều 64.1 của Hiệp định TRIPS quy định rằng các quy định của Điều XXII

và XIII của GATT 1994, được chi tiết trong Diễn giải về giải quyết tranh chấp

(DSU) sẽ được áp dụng cho việc tham vấn và giải quyết tranh chấp theo Hiệp định

TRIPS, trừ trường hợp được quy định rõ trong Hiệp định. Đáng chú ý là Điều 64.2

và 64.3 Hiệp định TRIPS ghi nhận các khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình

huống. Khiếu kiện không vi phạm là loại khiếu kiện chống lại một nước Thành viên

áp dụng biện pháp tuy không vi phạm nghĩa vụ của nước đó theo WTO nhưng lại

gây thiệt hại cho nước Thành viên khác. Khiếu nại tình huống thực tế chưa từng

được đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO cho đến nay. Điều 64.2 của Hiệp

định TRIPS quy định khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình huống không

được đưa ra trong vòng năm năm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Điều 64: 3 quy

định Hội đồng TRIPS xem xét các khiếu kiện này và đưa ra khuyến nghị cho Hội

nghị Bộ trưởng.

Về thủ tục giải quyết tranh chấp, Hiệp định TRIPS kết hợp cơ chế tham vấn

và giải quyết tranh chấp chung tại các Điều XXII và XIIII của GATT 1994 và DSU

để từ đó áp dụng các thủ tục tương tự như trong GATT và GATS. Các thủ tục này

bao gồm yêu cầu tham vấn, tham vấn, yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm, sự tham gia

của bên thứ ba, thành lập Ban Hội thẩm, xây dựng các điều khoản tham chiếu, nộp

các bản bào chữa và chứng cứ, thủ tục xét xử của Ban Hội thẩm, tư vấn của chuyên

gia .v.v.

Bên cạnh đó, cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định TRIPS có một số

khác biệt đáng kể về thủ tục so với các hiệp định khác của WTO. Chẳng hạn như

việc tham vấn các chuyên gia trong quá trình giải quyết tranh chấp, WIPO thường

được các bên trong tranh chấp hoặc ban hội thẩm xin ý kiến tư vấn về lịch sử đàm

68

phán và các nội dung của các công ước của WIPO chứa đựng trong Hiệp định

TRIPS. Ngoài ra, các hướng dẫn thực thi các công ước của WIPO và các tài liệu

liên quan cũng được ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm tham khảo trong quá trình

giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ, bao gồm tranh chấp về sáng chế dược phẩm.

Ví dụ thực tế cho thấy lịch sử đàm phán đóng vai trò quan trọng trong các quyết

định của các ban hội thẩm trong các vụ tranh chấp Canada - Bằng sáng chế dược

phẩm (do EU khởi kiện Canada, số hiệu WT/DS114), và Canada – Thời hạn bảo hộ

sáng chế (do Hoa Kỳ khởi kiện Canada, số hiệu WT/DS170).

Như vậy có thể thấy rằng so với các điều ước quốc tế khác trong lĩnh vực sở

hữu trí tuệ, tầm quan trọng của Hiệp định TRIPS được thể hiện ở chỗ đây là điều

ước quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ có những quy định cụ thể về trách nhiệm dân

sự, hình sự và bảo vệ biên giới và cũng là điều ước quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ

được áp dụng để giải quyết tranh chấp. Trên thực tế, TRIPS đặt nền tảng cho một hạ

tầng cơ sở vững chắc và hiện đại trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ nói chung và

sáng chế dược phẩm nói riêng cho cộng đồng quốc tế.

2.2.9 Thời gian chuyển tiếp:

Hiệp định TRIPS quan tâm đáng kể sự cần thiết phải tìm một sự cân bằng

giữa lợi ích của người có quyền sở hữu và người sử dụng, không chỉ được phản ánh

trong yêu cầu về công khai mà còn những giới hạn và ngoại lệ đối với quyền sáng

chế và các quy định về chuyển tiếp.

Tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế của các nước thành viên,

Hiệp định TRIPS quy định giai đoạn chuyển đổi để các nước đang phát triển và các

nước kém phát triển nhằm cho họ đủ thời gian để áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau

của TRIPS về quyền sở hữu trí tuệ ở cấp quốc gia. Theo Hiệp định TRIPS, tất cả

các nước phải cung cấp bảo hộ sáng chế sản phẩm từ ngày 01 tháng 1 năm 1995,

nhưng đối với các nước đang phát triển hiện không bảo hộ bằng sáng chế sản phẩm,

giai đoạn chuyển đổi cho phép các nước này thêm thời gian để điều chỉnh pháp luật

và thực tiễn của mình phù hợp với các điều khoản của TRIPS đến năm 2005. Giai

đoạn chuyển đổi có thể được kéo dài thêm bởi Hội đồng TRIPS trên cơ sở yêu cầu

của các nước kém phát triển đến năm 2016 đối với các sáng chế về dược phẩm và

các độc quyền về tiếp thị trong Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và Y tế công

69

cộng. Giai đoạn chuyển tiếp có nghĩa rằng dược phẩm hoặc thuốc cấp bằng sáng

chế trước khi nước đang phát triển thực hiện nghĩa vụ của TRIPS sẽ không được

bảo hộ bằng sáng chế.

2.3 Tuyên bố Doha năm 2001 về Hiệp định TRIPS và Y tế công cộng

(Tuyên bố Doha)

Năm 2001, các thành viên WTO đã thông qua một Tuyên bố Bộ trưởng đặc

biệt - "Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và Y tế công cộng", tại Hội nghị Bộ

trưởng WTO tại Doha để làm rõ sự thiếu rõ ràng giữa nhu cầu chính phủ áp dụng

các nguyên tắc của y tế công cộng và các điều khoản của Hiệp định TRIPS, với mối

quan tâm đặc biệt về các quy tắc bằng sáng chế có thể hạn chế việc tiếp cận thuốc

giá cả phải chăng cho các nước đang phát triển [59].

Đoạn 3-4 của Tuyên bố Doha ghi nhận:

"Chúng tôi thừa nhận rằng bảo vệ sở hữu trí tuệ là quan trọng đối với sự

phát triển của các loại thuốc mới. Chúng tôi cũng công nhận những lo ngại về ảnh

hưởng của nó đối với giá thuốc” [32].

"Chúng tôi đồng ý rằng Hiệp định TRIPS không và không nên ngăn chặn các

thành viên áp dụng các biện pháp để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Theo đó, trong khi

nhắc lại cam kết của chúng tôi đối với Hiệp định TRIPS, chúng tôi khẳng định rằng

Hiệp định có thể và nên được hiểu và thực hiện một cách hỗ trợ quyền thành viên

WTO để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và đặc biệt, để thúc đẩy tiếp cận thuốc cho tất

cả mọi người " [32].

Tuyên bố Doha thừa nhận rằng các loại thuốc và các quyền sở hữu trí tuệ

đóng vai trò quan trọng trong các cuộc thảo luận về các vấn đề công cộng, nhưng

bảo vệ IP cũng gây ra tác động tiêu cực, đặc biệt là về giá thuốc.

Một mặt, các thành viên nhắc lại cam kết của họ thực hiện Hiệp định TRIPS

để hỗ trợ y tế công cộng, và mặt khác, Tuyên bố Doha khẳng định quyền của các

thành viên được sử dụng các linh hoạt trong Hiệp định TRIPS để đạt được các mục

tiêu thúc đẩy tiếp cận thuốc , cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của những diễn

giải về nội dung của các vấn đề sau:

Thứ nhất, quyền của từng quốc gia cấp giấy phép bắt buộc của trường hợp

khẩn cấp được làm rõ và nhấn mạnh trong Tuyên bố Doha năm 2001 về việc Hiệp

70

định TRIPS. Tuyên bố Doha nói rằng mỗi thành viên có quyền tự do để xác định

căn cứ cấp giấy phép bắt buộc và xác định thế nào là một trường hợp khẩn cấp quốc

gia hoặc các tình huống khác cực kỳ khẩn cấp. Nó đề cập đến những vấn đề các

nước phải đối mặt khi muốn thông báo HIV/AIDS là trường hợp khẩn cấp quốc gia.

Thứ hai, Tuyên bố khẳng định rằng "các điều khoản trong Hiệp định TRIPS

có liên quan đến việc sử dụng hết quyền sở hữu trí tuệ cho phép mỗi thành viên tự

do thiết lập cơ chế riêng của mình cho vấn đề hết quyền mà không bị kiện" [29].

Thứ ba, đối với giai đoạn chuyển tiếp dành cho các nước kém phát triển,

Tuyên bố Doha đã gia hạn thời gian cho những nước này không phải thực hiện

nghĩa vụ liên quan đến các sản phẩm dược phẩm như thực thi hoặc cấp các bằng

sáng chế hoặc công bố thông tin theo Hiệp định TRIPS cho đến Tháng 1 năm 2016

[32].

Thứ tư, Tuyên bố năm 2001 không đề xuất một cách rõ ràng các loại sản

phẩm thuốc cần được thúc đẩy, tức là thuốc cấp bằng sáng chế, hoặc các thành phần

hoạt động hoặc sản phẩm trung gian và quy trình sản xuất được cấp bằng sáng chế.

Nhìn chung, các nước đang phát triển muốn quy định một phạm vi rộng các sản

phẩm y tế liên quan đến công chúng, nhưng hầu hết các nước công nghiệp muốn

giới hạn phạm vi sản phẩm dược phẩm và quy trình cấp bằng sáng chế. Vì vậy một

giải pháp dung hòa đã được đề xuất trong quyết định ngày 01 tháng 9 năm 2003

"thực thi đoạn 6 của Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng đồng"

trong đó định nghĩa "sản phẩm dược phẩm" như sau [59]:

"Dược phẩm" là bất kỳ sản phẩm cấp bằng sáng chế, hoặc sản phẩm được

sản xuất thông qua quá trình cấp bằng sáng chế, trong lĩnh vực dược phẩm cần

thiết để giải quyết các vấn đề y tế công cộng như công nhận tại khoản 1 của Tuyên

bố. Điều này được hiểu rằng các thành phần hoạt động cần thiết để sản xuất và bộ

dụng cụ chẩn đoán cần thiết cho việc sử dụng nó sẽ được bao gồm.

Thứ năm, trong Hiệp định TRIPS, Điều 31 (f) quy định rằng việc sử dụng

các giấy phép bắt buộc "phải chủ yếu nhằm cung cấp cho thị trường trong nước của

Thành viên cho phép việc sử dụng đó. Tuyên bố Doha ghi nhận vấn đề này trong

đoạn 6 rằng đối với những nước không có khả năng công nghệ để thay đổi hoàn

toàn kỹ sư và việc sản xuất thuốc tại địa phương, rất khó để sử dụng hiệu quả giấy

71

phép bắt buộc, mà đó là một thách thức để thúc đẩy tiếp cận thuốc [32].

Chúng tôi nhận ra rằng các thành viên WTO với năng lực sản xuất không

đầy đủ hoặc không có trong lĩnh vực dược phẩm có thể phải đối mặt với khó khăn

trong việc sử dụng hiệu quả cấp phép bắt buộc theo Hiệp định TRIPS. Chúng tôi

hướng dẫn các Hội đồng TRIPS để tìm một giải pháp nhanh chóng cho vấn đề này

và báo cáo cho Đại Hội đồng trước khi kết thúc năm 2002.

Vào năm 2003, Hội đồng TRIPS trả lời thông qua quyết định cho phép các

nước thành viên với năng lực sản xuất dược phẩm không đủ từ bỏ tạm thời tại Điều

31 (f) theo TRIPS [32]. Các quốc gia có năng lực sản xuất có thể xuất thuốc thiết

yếu sang các nước không có hoặc không đủ năng lực sản xuất.

Tuy nhiên quyết định này tạo thêm rào cản cho vấn đề tại khoản 6. Một nước

đang phát triển có nhu cầu nhập khẩu các loại thuốc và các thành viên xuất khẩu

phải thông báo cho Hội đồng TRIPS về việc cấp các li-xăng [59]. Yêu cầu thông

báo sẽ gây ra một số chậm trễ trong trường hợp có nhu cầu cấp thiết về các loại

thuốc. Một hạn chế cũng được đặt ra về số lượng thuốc có thể được sản xuất để xuất

khẩu theo một li-xăng bắt buộc [59]. Một vấn đề quan trọng khác là đối với những

quốc gia kém phát triển nhất mà không đủ năng lực thì dịch vụ y tế của họ sẽ dựa

vào ngành công nghiệp y tế và dược phẩm của các nước phát triển và đang phát

triển đã có hệ thống bằng sáng chế đối với một số lĩnh vực. Trong điều kiện như

vậy những ngoại lệ của Tuyên bố Doha không thể giúp nước kém phát triển tạo ra

khả năng tiếp cận thuốc cho người nghèo. Do đó, nhiệm vụ quan trọng hơn là phải

nghiên cứu về việc thực hiện hiệu quả Tuyên bố Doha đối với các nước kém phát

triển.

Như vậy, Tuyên bố Doha nhấn mạnh sự cần thiết của Hiệp định TRIPS là

một phần của giải pháp trong việc giải quyết những thách thức về y tế công cộng,

và khẳng định rằng các biện pháp bảo vệ có trong TRIPS nên được sử dụng để vượt

qua rào cản sở hữu trí tuệ tạo ra cho việc tiếp cận thuốc. Tuyên bố Doha đề cập đến

một số khía cạnh, trong đó có quyền cấp giấy phép bắt buộc và tự do để xác định

căn cứ cấp giấy phép, quyền quyết định thế nào là một trường hợp khẩn cấp quốc

gia và hoàn cảnh cực kỳ khẩn cấp, và sự tự do để thiết lập các quy định về hết

72

quyền sở hữu trí tuệ mà không bị kiện theo bất kỳ Hiệp định nào của WTO.

Mặc dù Tuyên bố Doha đã đề xuất một cơ chế hiệu quả hơn để cân đối giữa

bảo vệ quyền SHTT và y tế công cộng so với Hiệp định TRIPS, các nước đang phát

triển vẫn phải đối mặt với khó khăn trong việc thực hiện các linh hoạt trong Hiệp

định TRIPS, đặc biệt là làm thế nào để giải quyết vấn đề trong đoạn 6. Việc thực

hiện khoản 6 tạo gánh nặng hành chính và chi phí, ngăn chặn hơn là thúc đẩy việc

73

tiếp cận thuốc chữa bệnh cho người dân ở các nước đang phát triển.

Chƣơng III

THỰC TRẠNG BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM TRÊN THẾ

GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.1. Thực trạng bảo hộ sáng chế cho dƣợc phẩm trên thế giới:

3.1.1. Pháp luật sáng chế của Hoa Kỳ: dựa trên Luật Sáng chế 1952, được

pháp điển hóa trong Điều 35 Bộ luật Hoa Kỳ. Luật này cho phép nhà sáng chế được

cấp bằng sáng chế đối với quy trình, máy móc, sản xuất, và sản phẩm của vật chất

có tính mới, hữu ích, và không hiển nhiên. Sáng chế được cấp trao quyền để loại trừ

những người khác sản xuất, sử dụng, bán, chào bán, hoặc nhập khẩu vào Hoa Kỳ

các phát minh được bảo hộ sáng chế.

Luật Khôi phục thời hạn sáng chế và cạnh tranh giá thuốc 1984 thường được

biết đến với tên gọi Luật Hatch-Waxman đã tạo ra một số thay đổi quan trọng về

pháp luật sáng chế được thiết kế để khuyến khích sự cải tiến trong ngành công

nghiệp dược phẩm cũng như tạo thuận lợi cho việc giới thiệu nhanh chóng các loại

thuốc giá rẻ. Những thay đổi này bao gồm các quy định kéo dài thời hạn bảo hộ có

tính đến sự chậm trễ hành chính xảy ra trong quá trình xin phê duyệt bán hàng ra thị

trường của Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm (FDA); ngoại lệ về vi phạm sáng

chế cho các hoạt động liên quan đến phê duyệt việc bán hàng ra thị trường để điều

tiết; thành lập cơ chế khiếu nại hiệu lực pháp lý của sáng chế dược phẩm; và phán

quyết cho tranh chấp về hiệu lực pháp lý, khả năng áp dụng và sự vi phạm một loại

thuốc được bảo hộ. Luật 1984 cũng quy định FDA có thẩm quyền quyết định các

thời hạn độc quyền bán hàng cho một dược phẩm độc lập so với các quyền phát

sinh từ sáng chế.

Văn phòng Thương hiệu và Sáng chế (USPTO) và Cơ quan quản lý Thuốc

và Thực phẩm (FDA) đóng vai trò chính trong ngành công nghiệp dược. USPTO

cho phép sáng chế được cấp đối với dược phẩm và các phương pháp sản xuất hoặc

sử dụng chúng. Bằng sáng chế trao quyền ngăn cấm người khác không được sản

xuất, sử dụng, bán, chào bán hoặc nhập khẩu vào Hoa Kỳ các sáng chế được bảo hộ.

Tuy nhiên, việc cấp sáng chế không trao cho người sở hữu sáng chế quyền bán sản

74

phẩm ra thị trường mà đối với nhiều dược phẩm, FDA sẽ phê duyệt việc bán chúng

cho người tiêu dùng. Pháp luật liên bang yêu cầu chung là các nhà sản xuất dược

phẩm phải chứng minh sản phẩm của mình là an toàn và có hiệu quả để được phép

bán chúng ra thị trường. Như vậy, do tính tách biệt giữa quyền sở hữu sáng chế và

việc phê duyệt bán sản phẩm ra thị trường, nhà sản xuất dược phẩm phải xin cấp

phép cho cả hai quyền này.

So với pháp luật về sáng chế trước đó, Đạo luật 1984 quy định quy trình mới

rút gọn để phê duyệt bán dược phẩm ra thị trường với tên gọi Đơn xin phê duyệt

thuốc mới rút gọn (ABDA) được nộp tại FDA. Thông qua thủ tục này, nhà sản xuất

dược phẩm có thể bán sản phẩm ra thị trường ngay khi bằng sáng chế của sản phẩm

gốc hết hiệu lực. Bên cạnh đó, Đạo Luật 1984 cũng quy định gia hạn sáng chế.

Thông thường, thời hạn sáng chế là 20 năm từ ngày nộp đơn. Tuy nhiên, thời hạn

sáng chế có thể được gia hạn cho khoảng thời gian được dùng vào việc thử nghiệm.

Thời gian gia hạn không quá 5 năm và thời hạn còn lại của sáng chế được gia hạn

sau khi nhận được phê duyệt của FDA không được quá 14 năm. Việc gia hạn sáng

chế là không tự động mà nhà sở hữu sáng chế phải nộp đơn đến USPTO trong vòng

60 ngày từ khi nhận được cấp phép bán hàng của FDA.

Đạo luật 1984 cũng bao gồm các điều khoản về độc quyền thị trường cho

một số dược phẩm được FDA phê duyệt. Đó là trường hợp FDA cấp phép bán ra thị

trường một loại dược phẩm cho một tổ chức duy nhất. Cấp phép độc quyền bán

hàng không phụ thuộc vào sự tồn tại của bảo hộ sáng chế và hai quyền này thực tế

có thể mâu thuẫn nhau.

Ngoài ra, đạo luật 1984 quy định cơ chế để nhà sản xuất dược phẩm có thể

được cấp phép bán ra thị trường một loại thuốc đã được sáng tạo ra bởi một người

khác. Luật cho phép ngoại lệ cho việc vi phạm sáng chế theo đó việc sản xuất, sử

dụng, chào bán, bán một sáng chế được bảo hộ ở Hoa Kỳ sẽ không bị coi là vi phạm

nếu các hoạt động nói trên chỉ nhằm sử dụng hợp lý liên quan đến phát triển và

cung cấp thông tin theo một Luật Liên bang điều chỉnh việc sản xuất, sử dụng hoặc

bán thuốc [48], [49].

3.1.2. Thái Lan

Đến tháng 9 năm 1992, vấn đề bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm

75

mới được quy định trong hệ thống luật pháp của Thái Lan. Và cũng từ thời điểm

này, thời hạn bảo hộ sáng chế mới được kéo dài tới 20 năm như ở đa số các nước

phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, theo Luật về bảo hộ sáng chế năm 1992 thì

những loại thuốc được cấp bằng bảo hộ sáng chế và đã có mặt trên thị trường nước

ngoài nhưng chưa có được lưu hành tại Thái Lan, sẽ không nhận được bất kỳ sự bảo

hộ của nước này; và Chính phủ Thái Lan có thể ban hành những loại giấy phép bắt

buộc đối với những loại dược phẩm đã được bảo hộ nhưng chưa được sản xuất ở

Thái Lan. Đến năm 1993, Chính phủ Thái Lan đã ban hành một quy định dành cho

những loại thuốc không nhận được sự bảo hộ theo Luật năm 1992, theo đó thời hạn

tối đa để một loại thuốc được độc quyền bảo hộ trên thị trường chỉ khoảng 5 đến 6

năm. Quy định này là không phù hợp với xu thế của thế giới về bảo hộ sáng chế đối

với lĩnh vực dược phẩm. Điều này có thể được giải thích là vì vào thời điểm đó Thái

Lan vẫn đang trong quá trình hoàn thiện pháp luật để đáp ứng những yêu cầu khi

gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đặc biệt là đáp ứng yêu cầu của Hiệp

định TRIPS. Theo ước tính của Hiệp hội các nhà sản xuất và nghiên cứu dược phẩm

Hoa Kỳ năm 1994, với sự chưa hoàn thiện này của pháp luật Thái Lan, doanh thu

của các công dược phẩm của Hoa Kỳ đã giảm tới 70 triệu USD.

Luật về sáng chế của Thái Lan đã được sửa đổi vào tháng 10 năm 1998, và

chính thức có hiệu lực vào năm 1999. Nhìn chung, các doanh nghiệp ở Thái Lan hài

lòng với sự sửa đổi này. Tuy nhiên, họ vẫn có những quan ngại xung quanh điều

khoản mà theo đó Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ Thái Lan có quyền ban hành

những giấy phép bắt buộc nếu như những sáng chế, cho dù đã được cấp bằng bảo

hộ, không được áp dụng tại Thái Lan hoặc các công ty áp mức giá cao cho những

sản phẩm được sản xuất theo sáng chế được bảo hộ.

Đó không chỉ còn là những điều quan ngại. Đến tháng 10 năm 2002, Tòa án

Thái Lan về quyền sở hữu trí tuệ đã ra phán quyết không cho phép mở rộng phạm vi

bảo hộ đối với bằng độc quyền sáng chế của công ty dược phẩm Britol – Myer

Squibb (BMS) cho loại biệt dược didanosine (ddI). Điều đó cũng đồng nghĩa với

việc Công ty dược phẩm Thái Lan, một công ty của nhà nước, được phép sản xuất

các loại thuốc dưới dạng viên có chứa biệt dược didanosine với mức giá phù hợp

hơn cho những bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS. Trước đây công ty này chỉ sản xuất

76

ddI dưới dạng bột, nhưng với phán quyết của Tòa án, công ty có thể sản xuất thuốc

dưới dạng viên. Điều này sẽ thuận tiện hơn cho bệnh nhân trong việc sử dụng cũng

như có ít những tác dụng phụ hơn. Biệt dược didanosine có trong thuốc Videx được

công ty BMS bán với mức giá từ 2,56 USD đến 4,11 USD cho mỗi lần dùng; trong

khi đó, mức thu nhập bình quân một ngày có người dân Thái La chỉ là 3,84 USD.

Điều đó khiến cho chỉ một phần sáu só bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS cần điều trị

bằng thuốc có đủ khả năng sử dụng thuốc một cách thường xuyên. Ngày 16 tháng 2

năm 2004, BMS đã chính thức ký bản thỏa thuận chuyển giao Bằng độc quyền sáng

chế trong việc sản xuất thuốc ddI. Quyết định này của BMS đánh dấu thắng lợi

quan trọng của những nhà hoạt động phòng chống AIDS ở Thái Lan.

Liên tiếp trong tháng 11 năm 2006 và tháng 1 năm 2007, Chính phủ Thái

Lam đã ban hành các quyết định mà theo đó các công ty dược phẩm có thể sản xuất

các loại thuốc tương tự các loại thuốc đã được bảo hộ của các công ty dược phẩm

lớn của nước ngoài như: Stocrin – thuốc chữa bệnh AIDS của công ty Merck,

Kaletra – thuốc chữa bệnh AIDS của công ty Abbott và Plavix – một loại thuốc làm

loãng máu được sản xuất bởi một công ty có trụ sở tại Pháp là Sanofi-Aventis và

một hãng của Mỹ là BMS. Chính phủ có dự định sẽ tiếp tục dỡ bỏ Bằng bảo hộ sáng

chế của hơn 11 loại dược phẩm nữa. Có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau xung

quang vấn đề này. Từ phía Chính phủ Thái Lan, Bộ trưởng Bộ Y tế nước này cho

biết căn cứ vào các quy định về thương mại quốc tế trong các trường hợp khẩn cấp,

các trường hợp liên quan đến sức khỏe cộng đồng, thì quyết định của Thái Lan là

hoàn toàn được phép; và Chính phủ Thái Lan phải làm như vậy vì với mức giá hiện

tại (mức giá chưa dỡ bỏ Bằng độc quyền sáng chế) ngân sách Chính phủ Thái Lan

chỉ có khả năng cung cấp thuốc cho 1/5 trong tổng số 500000 người nhiễm HIV ở

Thái Lan. Đương nhiên quyết định này của chính phủ được các nhà hoạt dộng

phòng chống AIDS hoàn toàn ủng hộ. Họ cho rằng đây là quyết định hết sức dũng

cảm của Chính phủ. Tuy nhiên Quyết định này lại vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ

phương tây. Các công ty dược phẩm cho biết họ sẽ xem xét lại việc đầu tư tại Thái

Lan. Họ không thể yên tâm đầu tư khi mà tài sản của họ không được bảo vệ một

cách chính đáng. Chính phủ Hoa Kỳ đã chuyển Thái Lan từ danh sách các nước cần

quan tâm (Watch List) xuống các nước cần đặc biệt quan tâm (Priority Watch List).

77

Điều này hoàn toàn bất lợi cho Thái Lan vì họ rất dễ phải chịu những biện pháp

trừng phạt về kinh tế từ phía Mỹ như tăng thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng của

Thái Lan sang Mỹ. Trên thực tế, nhu cầu về loại thuốc Plavix cũng chưa đến mức

thuộc tình trạng khẩn cấp quốc gia, và loại thuốc Pravix cũng không phải là loại

thuốc đặc biệt thiết yếu đúng như định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

Chưa đến 1% dân số Thái Lan (khoàng 300000 người) mắc phải căn bệnh nghẽn

động mạch vành mãn tính. Bởi vậy có thể thấy Quyết định này của Thái Lan để

thực hiện các mục tiêu về kinh tế và chính trị nhiêu hơn là đối phó với tình trạng

khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng. Và như để khẳng định hơn nữa chủ trương chính

sách của mình, Chính phủ Thái Lan đã lên tiếng ủng hộ Brazil sau khi nước này

cũng quyết định dỡ bỏ việc bảo hộ sáng chế đối với các loại thuốc điều trị Bệnh

AIDS, và rằng Thái Lan không còn đơn độc trong cuộc chiến chống lại các hãng

dược phẩm khổng lồ.

Mới đây nhất, vào cuối năm 2007, Thái Lan lại ra quyết định tương tự đối

với 3 loại dược phẩm: hai trong số các loại thuốc điều trị AIDS và loại còn lại là

thuốc điều trị bệnh tim mạch. Theo quyết định này các công ty dược phẩm được

phép sản xuất hoặc nhập khẩu các loại thuốc tương tự thuốc được bảo hộ sang chế

mà không phải được phép chủ sở hữu của những sáng chế đó. Theo tính toán của

của Chính phủ Thái Lan điều này sẽ giúp có thêm 20000 người nữa, so với mức giá

hiện tại được bảo hộ, được tiếp cận với các loại thuốc chữa những căn bệnh hiểm

nghèo.

Cho dù với mục tiêu kinh tế hay chính trị đi nữa, có thể thấy Chính phủ Thái

Lan rất quyết tâm trong việc tăng khả năng tiếp cận các loại thuốc chữa bệnh cho

người dân, đặc biệt là căn bệnh AIDS. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu vì Thái Lan

được biết đến nhiều với ngành công nghiệp tình dục - một điều kiện thuận lợi để

cho căn bệnh thế kỷ AIDS lây lan. Cho dù chưa phải là một nước phát triển, nhưng

rõ ràng Chính phủ Thái Lan đang nỗ lực để nâng cao mức sống của người dân nước

này, bất chấp việc trong ngắn hạn họ sẽ vấp phải sự phản đối gay gắt, thậm chí cả

sự trừng phạt về kinh tế [11], [46], [63].

3.1.3. Ấn Độ

Ngành công nghiệp dược phẩm của Ấn Độ đã thực sự thành công trong việc

78

tạo ra hàng triệu việc làm cũng như đảm bảo rằng những loại thuốc cần thiết đến với

đại đa số người dân ở một mức giá hợp lý. Sở dĩ đạt được điều này là vì năm 1970

dưới sức ép của các công ty chuyên sản xuất các loại thuốc tương tự các loại thuốc

được sản xuất ở phương tây, Chính phủ của Thủ tướng Indira Ghandi đã cấm việc

bảo hộ sáng chế đối với các sản phẩm dược phẩm. Suốt từ năm 1970 đến năm 2005,

Luật về Bảo hộ sáng chế của Ấn Độ chỉ bảo hộ cho các sáng chế là quy trình, và

cũng chỉ bảo hộ cho các công ty tiến hành đầu tư dài hạn trong lĩnh vực nghiên cứu

và phát triển thuốc ở đây. Kết quả là ngành công nghiệp sản xuất các loại thuốc

đồng dạng rất phát triển ở Ấn Độ. Ước tính hiện nay ở nước này có khoảng 22 ngàn

công ty tham gia vào lĩnh vực này. Năm 1995, với việc gia nhập Tổ chức Thương

mại Thế giới (WTO), Ấn Độ chính thức tham gia hiệp định TRIPs. Ngày 23 tháng 3

năm 2005, để hiện thực hóa các cam kết của mình khi tham gia Hiệp định TRIPs,

Quốc hội Ấn Độ đã thông qua đạo luật mới về bảo hộ sáng chế. Có hai điểm mới

nổi bật của Luật bảo hộ sáng chế năm 2005 của Ấn Độ so với Luật năm 1970 đó là:

thứ nhất, Luật năm 1970 chỉ bảo hộ cho các sáng chế là quy trình, còn Luật năm

2005 bảo hộ cho cả sáng chế là sản phẩm; thứ 2, Luật năm 1970 cho phép thời hạn

bảo hộ chỉ là 7 năm và không gia hạn, Luật 2005 cho phép thời hạn bảo hộ là 20

năm. Trước năm 2005, Ấn Độ là thị trường thứ 4 thế giới về khối lượng - chiếm 8%

ngành công nghiệp dược phẩm thế giới và đứng thứ 13 về giá trị - ước đạt 1% khối

lượng ngành công nghiệp dược phẩm thế giới. Sản phẩm của ngành dược phẩm Ấn

Độ được xuất khẩu sang 200 quốc gia trên thế giới, 50% khối lượng xuất khẩu là

sang các nước đang phát triển, số còn lại được xuất sang những thị trường dược

phẩm lớn của thế giới như Mỹ, Nhật và Liên minh Châu Âu. Đạt được thành công

như vậy là do chi phí sản xuất thuốc ở Ấn Độ thấp, chính sách kiểm soát giá của

Chính phủ và đặc biệt là do sự vắng mặt của các loại thuốc được bảo hộ tại đây.

Tuy nhiên điều này lại không thu hút các công ty dược phẩm đa quốc gia – những

công ty vốn sản xuất thuốc dựa trên việc nghiên cứu. Họ không tìm thấy sự bảo đảm

về lợi nhuận khi đầu tư nghiên cứu phát triển và sản xuất thuốc tại Ấn Độ. Mọi

chuyện đã hoàn toàn thay đổi sau khi Ấn Độ có những cải cách trong hệ thống Luật

pháp của mình. Với lợi thế về cơ sở vật chất của các công ty dược phẩm địa

phương, với lợi thế về đội ngũ lao động có kinh nghiệm trong ngành dược, với sự

79

thay đổi trong pháp luật về bảo hộ sáng chế, ngày càng có nhiều các công ty dược

phẩm nước ngoài đầu tư vào Ấn Độ. Điều này được minh chứng bởi những con số

thống kê rất ấn tượng. Trong năm 2006 và 2007, Ấn Độ là nước có tốc độ tăng

trưởng của ngành dược phẩm cao nhất thế giới, ở mức 17,5% và 13%, tổng giá trị

lần lượt đạt 7,3 và 8,2 tỷ USD.

Giống như Thái Lan, Ấn Độ cũng theo đuổi các mục tiêu xã hội, nhưng điều

tạo nên sự khác biệt giữa ngành dược phẩm của hai quốc gia này đó là do Ấn Độ có

một thời gian dài không tiến hành bảo hộ đối với các sản phẩm dược phẩm, điều

này tạo ra một nền tảng vững chắc về cơ sở vật chất và con người cho ngành công

nghiệp dược của nước này. Tất nhiên vào thời điểm hiện nay ngành dược Việt Nam

không thể làm những điều tương tự mà Ấn Độ đã làm trong suốt những năm 1970

đến 2005, nhưng chúng ta cũng cần tranh thủ khoảng thời gian khi chưa phải thực

hiện các cam kết hội nhập để cũng cố ngành dược phẩm nước nhà tạo nền tảng

vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngành dược khi thị trường có thêm sự

cạnh tranh khốc liệt từ những công ty dược phẩm nước ngoài [11], [40].

3.1.4. Trung Quốc

Trung Quốc thường được biết dến như một nước vi phạm quyền sở hữu trí

tuệ nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên ít người biết rằng từ những năm 80 của thế kỷ

trước, Trung Quốc đã ban hành và đưa vào thực thi rất nhiều các văn bản pháp luật,

các quy tắc, các văn bản hướng dẫn thực thi luật có liên quan đến các vấn đề chính

của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Cũng từ năm 1980, Trung Quốc đã có một cơ quan

chuyên trách về Bằng độc quyền sáng chế, và từ ngày 01 tháng 4 năm 1985 Luật về

bằng độc quyền sáng chế chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên các quy định liên quan

đến bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm mới chỉ được đưa vào thực thi kể từ

năm 1993.

Một trong những khía cạnh liên quan đến bảo hộ sáng chế dược phẩm mà

Trung Quốc đang nỗ lực hoàn thiện đó là bảo hộ sáng chế đối với các loại thuốc

truyền thống. Kể từ sửa đổi đầu tiên Luật về Bằng độc quyền sáng chế vào tháng

năm 1992, mỗi năm ở Trung Quốc có khoảng 1400 đơn xin cấp bằng độc quyền

sáng chế liên quan đến các loại thuốc truyền thống. Thông thường Bằng độc quyền

sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm sẽ bảo hộ cho sản phẩm, phương pháp và cách

80

sử dụng. Tuy nhiên, trước ngày 1 tháng 1 năm 1993, sản phẩm và cách sử dụng

không được bảo hộ mà chỉ có phương pháp điều chế thuốc là được cấp bằng bảo hộ.

Sau lần sửa đổi thứ nhất Luật về Bằng bảo hộ sáng chế, phạm vi bảo hộ đối với các

sản phẩm dược phẩm nói chung và các loại truyền thống nói riêng, đã được mở

rộng bao gồm cả sản phẩm, phương pháp và cách sử dụng. Phạm vi bảo hộ đối với

sản phẩm là thuốc truyền thống bao gồm: thành phần các loại thuốc; sự chuẩn bị,

điều chế thảo dược; các chất chiết xuất từ thảo dược hoặc từ thành phần các loại

thuốc; các nguyên liệu từ thảo dược;…v…v…Phạm vi bảo hộ đối với phương pháp

bao gồm: phương pháp chuẩn bị các loại thuốc, các thành phần của thuốc từ những

nguyên liệu tự nhiên; phương pháp điều chế các loại nguyên liệu đó và phương

pháp chữa trị khi sử dụng các loại thuốc truyền thống có nguồn gốc tự nhiên. Điều

25 Luật về Bằng sáng chế của Trung Quốc quy định phương pháp chẩn đoán hoặc

điều trị bệnh không được bảo hộ. Tuy nhiên, trong đơn xin cấp bằng bảo hộ sáng

chế để chữa một loại bệnh cụ thể thì cách sử dụng đó có thể sẽ được bảo hộ. Ví dụ

một loại thảo dược trước đây được điều chế bằng cách phơi khô rồi xao lên, kết hợp

với một số loại thảo dược khác, sắc lấy nước uống, có tác dụng chữa bệnh A.

Nhưng nay, cũng loại thảo dược đó, ép tươi, ép lấy nước uống có tác dụng chữa

bệnh B. Nếu trong đơn xin cấp Bằng độc quyền sáng chế, loại thảo dược đó được

mô tả như một phương pháp điều trị mới căn bệnh B thì nó sẽ không được chấp

nhận. Tuy nhiên nếu nó được mô tả như một cách sự dụng mới, như một cách điều

chế mới đễ chữa trị căn bệnh B thì nó hoàn toàn được chấp nhận và có thể được bảo

hộ độc quyền sáng chế [11], [56].

3.2.1. Thực trạng ngành dƣợc phẩm ở Việt Nam

3.2.1. Tổng quan về ngành dƣợc Việt Nam:

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng như khó

khăn cho ngành dược. Ngành dược đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh

nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển. Bên cạnh những thuận lợi về môi

trường đầu tư, tiếp cận công nghệ mới, đón nhận một lượng vốn đầu tư lớn, có cơ

hội lựa chọn nguồn nguyên liệu đa dạng với chi phí hợp lý,… ngành dược phải đối

đầu với không ít khó khăn như: Năng lực cạnh tranh còn yếu, thiếu hiểu biết các

quy định về sở hữu trí tuệ; thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ; đối mặt với các doanh

81

nghiệp dược phẩm nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng khi Chính phủ cam kết

giảm thuế suất thuế nhập khẩu; nới lỏng chính sách với các doanh nghiệp nước

ngoài.

Hiện nay, rất nhiều công ty dược phẩm nước ngoài muốn vào thị trường Việt

Nam thông qua việc hợp tác với công ty trong nước tham gia vào khâu nhập khẩu

và dịch vụ hậu cần trong ngành dược. Tính đến hết năm 2013, có 650 công ty sản

xuất và cung ứng thuốc của nước ngoài đăng ký hoạt động tại Việt Nam với hình

thức phổ biến nhất là văn phòng đại diện và chủ yếu tham gia vào khâu nhập khẩu

thuốc, chiếm tỷ lệ đến 70%. Trong khi đó, chỉ có 1/5 tổng số thuốc đang lưu hành

tại Việt Nam được sản xuất bởi các công ty này.

Ngành dược được coi là một ngành non trẻ nhưng hiện nay đã có những

bước tiến nhất định. Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy của WTO, tất cả mặt

hàng đều phải chịu sự cạnh tranh gay gắt. Dược phẩm là sản phẩm đặc biệt, do vậy

sự cạnh tranh trên thị trường dược phẩm cũng luôn quyết liệt và được sự quan tâm

của toàn xã hội.

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), công nghiệp dược Việt

Nam ở mức đang phát triển. Việt Nam đã có công nghiệp dược nội địa, nhưng đa số

phải nhập khẩu nguyên vật liệu, do đó nhìn nhận một cách khách quan có thể nói

rằng công nghiệp dược Việt Nam vẫn ở mức phát triển trung bình-thấp.

Các tổ chức quốc tế có những phân loại và xếp hạng khác nhau cho công

nghiệp dược: Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) chia công

nghiệp dược theo 5 mức phát triển, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hội nghị

Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD) xác định mức độ phát triển

công nghiệp dược của các quốc gia theo 4 cấp độ:

- Cấp độ 1: Nước đó hoàn toàn phải nhập khẩu thuốc.

- Cấp độ 2: Sản xuất được một số thuốc đồng dạng (generic); đa số thuốc

phải nhập khẩu.

- Cấp độ 3: Có công nghiệp dược nội địa; có sản xuất thuốc generic; xuất

khẩu được một số dược phẩm.

- Cấp độ 4: Sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốc mới.

Theo đánh giá, hiện nay công nghiệp dược Việt Nam mới ở gần cấp độ 3

82

theo thang phân loại của WHO. Còn nếu theo thang phân loại 5 mức phát triển của

UNIDO thì công nghiệp dược của ta mới chỉ ở mức 3, nghĩa là “công nghiệp dược

nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập”. Tuy vậy, cũng phải nhận

thấy ngành công nghiệp dược Việt Nam trong 10 năm gần đây đã tăng trưởng nhanh

chóng.

Theo báo cáo của BMI, năm 2008, Việt Nam đã chi khoảng 1,1 tỷ USD cho

dược phẩm. Trong năm 2009, con số này sẽ tăng lên khoảng 1,2 tỷ USD do chi phí

mua thuốc để phòng chống các dịch bệnh tăng lên.

Vào năm 2013, chi phí này sẽ tăng lên khoảng 1,7 tỷ USD. Giá trị thị trường

thuốc kê đơn ước đạt 1,45 tỷ USD vào năm 2013, chiếm khoảng 73,2% thị trường

dược phẩm; thuốc không kê đơn sẽ đạt khoảng 529 triệu đô la Mỹ, chiếm khoảng

26,8%.

Hiện nay, năng lực của ngành dược trong nước chỉ đáp ứng được gần 50% về

doanh thu, phần còn lại chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu. Vào năm 2013, kim

ngạch nhập khẩu thuốc sẽ vượt 1,37 tỷ USD so với con số 923 triệu USD trong năm

2008. Trong khi đó, xuất khẩu dược phẩm chỉ đạt 216 triệu USD. Hiện nay, doanh

nghiệp dược phẩm Việt Nam đang xuất khẩu thuốc sang một số thị trường như

Bangladesh, Pakistan, Lào, Campuchia, Singapore,...

BMI dự báo, trong 5 năm tới thị trường dược phẩm Việt Nam sẽ là mảnh đất

giàu tiềm năng cho các công ty nước ngoài do thị trường bắt đầu mở cửa rộng hơn

cho các doanh nghiệp này, và thị trường Việt Nam đạt $2 tỉ vào 2011 với tốc độ

tăng trưởng: 17%-19%/năm và tiền thuốc tăng gấp đôi sau 5 năm

Theo cam kết của WTO, các công ty dược phẩm nước ngoài có quyền mở

chi nhánh tại Việt Nam và được tham gia nhập khẩu trực tiếp dược phẩm, mặc dù

chưa được quyền phân phối. Thêm vào đó, Việt Nam sẽ phải giảm thuế cho sản

phẩm y tế là 5% và 2,5% cho thuốc nhập khẩu trong vòng 5 năm sau khi gia nhập

83

WTO [4].

Biểu đồ 1 Dự báo tiền thuốc sử dụng sau 5 năm tại Việt Nam

(Nguồn: Cục Quản lý dược) Biểu đồ 2 Dự báo thị trƣờng dƣợc phẩm Việt Nam

(Nguồn: Cục Quản lý dược)

3.2.2. Thực trạng bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm tại Việt Nam:

Từ đó đến nay (năm 2010), Cục Sở hữu trí tuệ đã nhận được 699 đơn đăng

ký sáng chế liên quan đến lĩnh vực dược phẩm (chiếm 20% tổng số đơn sáng chế

84

nộp tại Việt Nam), trong đó mới chỉ có khoảng 2% số đơn là do người Việt Nam

nộp; 9 đơn đăng ký giải pháp hữu ích liên quan đến lĩnh vực dược phẩm (chiếm 3%

tổng số đơn giải pháp hữu ích nộp tại Việt Nam), và các đơn này đều là đơn do

người Việt Nam nộp. Trong số này, Cục cũng cấp được 155 Bằng độc quyền sáng

chế (chiếm 20% tổng số Bằng độc quyền sáng chế cấp ra), và không có Bằng độc

quyền giải pháp hữu ích nào được cấp vào năm 2010. Sau đây, ta có thể thấy rõ hơn

sự phát triển của hoạt động bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Việt Nam thông qua các

bảng số liệu và biểu đồ sau đây:

Bảng 1. Đơn sáng chế nộp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010

Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Tổng số đơn nộp vào 1952 2173 2860 3200 2890 3582

Tổng số đơn của người nộp đơn 180 196 221 206 259 306

Việt Nam

Tổng số đơn nộp vào thuộc lĩnh 516 596 713 742 610 699

vực dược phẩm

Tổng số đơn của người nộp đơn 8 10 13 10 5 7

Việt Nam thuộc lĩnh vực dược

(Nguồn: Cục SHTT)

phẩm

Bảng 2. Đơn Giải pháp hữu ích nộp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010

2005 2006 2007 2008 2009 2010 Năm

Tổng số đơn nộp vào 249 238 220 284 253 299

Tổng số đơn của người nộp đơn 183 162 120 115 136 215

Việt Nam

Tổng số đơn nộp vào thuộc lĩnh 6 3 3 5 6 9

vực dược phẩm

Tổng số đơn của người nộp đơn 4 3 2 4 5 9

Việt Nam thuộc lĩnh vực dược

(Nguồn: Cục SHTT)

85

phẩm

Bảng 3. Bằng độc quyền sáng chế cấp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010

Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Tổng số bằng được cấp 668 669 725 666 706 822

Tổng số bằng của người nộp đơn 28 44 34 39 29 29

Việt Nam

Tổng số bằng thuộc lĩnh vực dược 128 150 174 168 177 155

phẩm

Tổng số bằng của người nộp đơn 2 3 5 2 2 2

Việt Nam thuộc lĩnh vực dược

(Nguồn: Cục SHTT)

phẩm

Bảng 4. Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích cấp tại Việt Nam từ năm

2005 tới 2010

Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010

Tổng số bằng được cấp 74 70 85 75 64 58

Tổng số bằng của người nộp đơn 41 45 49 48 45 35

Việt Nam

Tổng số bằng thuộc lĩnh vực dược 2 0 2 0 5 0

phẩm

Tổng số bằng của người nộp đơn 2 0 2 0 5 0

Việt Nam thuộc lĩnh vực dược

(Nguồn: Cục SHTT)

phẩm

Nhìn tổng quan các bảng số liệu trên đây cho ta thấy một số điểm đặc trưng sau

đây:

- Tổng số đơn sáng chế và giải pháp hữu ích trong lĩnh vực dược phẩm giao

động nhỏ qua các năm, về cơ bản là tăng chậm;

- Tổng số đơn sáng chế và giải pháp hữu ích trong lĩnh vực dược phẩm

86

chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 8% hàng năm) so với tổng số lượng đơn sáng chế nộp vào;

- Hầu hết qua các năm (từ năm 2005 tới 2010) số lượng đơn sáng chế thuộc

lĩnh vực dược phẩm nộp tại Việt Nam hầu hết (chiếm tới hơn 90%) là đơn của

người nước ngoài, còn lại hầu hết các đơn giải pháp hữu ích trong lĩnh vực này là

do người nộp đơn Việt Nam. Số lượng đơn giải pháp hữu ích chiếm một tỷ lệ rất

nhỏ so với lượng đơn sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm (chiếm khoảng 1%);

- Số lượng Bằng độc quyền sáng chế cấp trong lĩnh vực dược phẩm giao

động nhỏ qua các năm và chỉ chiếm khoảng 20% tới 30% tổng số đơn sáng chế đã

nộp trong lĩnh vực này.

Ta có thể thấy rõ sự phát triển của lượng đơn sáng chế/giải pháp hữu ích và

bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích tại Việt Nam khi cụ thể hóa thành các

biểu đồ sau đây:

Biểu đồ 3. Mối quan hệ giữa tổng số đơn sáng chế

và đơn sáng chế dƣợc phẩm nộp tại Việt Nam (từ 2005 tới 2010)

Qua biểu đồ này ta có thể thấy được các chính sách khuyến khích sáng tạo

trong lĩnh vực dược phẩm chưa có những tác động tích cực để tăng lượng đơn sáng

chế qua các năm. Tổng số đơn sáng chế nộp vào thuộc lĩnh vực dược phẩm chiếm

một tỷ lệ rất thấp so với tổng số đơn sáng chế nộp vào tại Việt Nam. Các chính sách

này đã không tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ qua 5 năm (từ 2005 tới 2010) bởi

lượng đơn sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm giao động không nhiều qua các năm,

87

có chiều hướng tăng từ năm 2005 tới 2008, nhưng lại giảm nhẹ vào năm 2009,

2010. Đây là thực tế khiến chúng ta cần nhìn nhận lại và có những điều chỉnh các

chính sách hỗ trợ nghiên cứu, triển khai trong lĩnh vực dược phẩm, giúp tăng tổng

số đơn sáng chế trong những năm tới (bao gồm cả lượng đơn sáng chế nộp bởi

người nộp đơn Việt Nam và nước ngoài).

Khi chúng ta tách riêng số lượng đơn sáng chế của người nộp đơn nước

ngoài ra khỏi số lượng đơn nộp trong lĩnh vực dược phẩm thì biểu đồ 3 càng cho

thấy tỷ lệ đơn sáng chế trong lĩnh vực này của người nộp đơn Việt Nam chiếm tỷ lệ

rất nhỏ so với tổng số đơn sáng chế của người nộp đơn Việt Nam nói chung.

Biểu đồ 4. Mối quan hệ giữa tổng số đơn sáng chế

và đơn sáng chế dƣợc phẩm nộp tại Việt Nam của ngƣời Việt Nam

(từ 2005 tới 2010)

88

Biểu đồ 5. Số lƣợng đơn sáng chế dƣợc phẩm nộp tại Việt Nam

(từ 2005 tới 2010)

Với biểu đồ số 4 lại cho thấy rõ hơn trình độ sáng tạo của các doanh nghiệp

Việt Nam trong lĩnh vực dược phẩm đang ở một mức rất thấp, thể hiện qua số lượng

đơn sáng chế người Việt Nam nộp vô cùng hạn chế. Số lượng đơn sáng chế nộp bởi

người Việt Nam cũng giao động nhẹ và không rõ chiều hướng tăng, trái lại còn có

xu hướng giảm từ 2007 tới 2010.

Biểu đồ 6. Số lƣợng Bằng độc quyền sáng chế dƣợc phẩm đƣợc cấp tại Việt

Nam (từ 2005 tới 2010)

89

Tổng số bằng của người nộp đơn Việt Nam gần như chúng ta khó nhận thấy

trên biểu đồ này vì nó chiếm một tỷ lệ quá nhỏ. Thông thường phải mất khoảng 36

tháng kể từ ngày nộp đơn tới lúc cấp văn bằng bảo hộ. Trong khoảng 5 năm đủ để

chúng ta so sánh tỷ lệ đơn nộp so với số bằng cấp ra trong lĩnh vực sáng chế. Và ở

đây, rõ ràng là tỷ lệ số bằng cấp ra/số đơn nộp vào thấp. Tỷ lệ này đối với đơn do

người nộp đơn Việt Nam nộp chỉ khoảng ¼. Điều này chứng tỏ số lượng đơn nộp

thành công (tức là đươc cấp văn bằng bảo hộ) của người nộp đơn Việt Nam thấp.

Đối với các đơn do người nộp đơn nước ngoài nộp thì tỷ lệ này cao hơn, bởi lẽ, hầu

hết đều là đơn PCT.

Ta có thể thấy rõ hơn mối tương quan này qua biểu đồ 6 sau đây:

Biểu đồ 7. Số đơn nộp và số bằng cấp ra trong lĩnh vực dƣợc phẩm tại Việt

Nam (Từ 2005 tới 2010)

3.3. Nguyên tắc và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về

bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:

3.3.1. Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế

dƣợc phẩm:

Theo báo Thanh niên ngày 06/7/2010, một số loại thuốc tại Việt Nam hiện

nay có giá cao hón giá bán tại các nước trên thế giới khoảng 40% trong khi thu nhập

90

bình quân của người dân Việt Nam rất thấp, tiền chi cho y tế hàng năm tại Việt

Nam không cao (năm 2009, chi phí trung bình cho y tế (không chỉ cho riêng dược

phẩm) là 16.45 USD/đầu người. Giá thuốc cao vượt quá khả năng chi trả của người

dân Việt Nam có thể được giải thích bởi nhiều lý do, Báo cáo tác động của cơ chế

về quyền SHTT đối với giá thuốc tại Việt Nam do Viện khoa học xã hội Việt Nam

nghiên cứu năm 2006 chỉ ra năm yếu tố chính làm giá thuốc tại Việt Nam tăng cao,

bao gồm: Cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh; Tâm lý người tiêu dùng; Thông tin

về tình hình dược phẩm; Công nghệ sản xuất thuốc Việt Nam chưa phát triển; sự

độc quyền trong phân phối thuốc. Theo báo cáo trên, yếu tố bảo hộ quyền SHTT

không phải là yếu tố quyết định đến giá thuốc cao tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo tác

giả, quan điểm này là chưa hoàn toàn chính xác. Bên cạnh những yếu tố được chỉ ra

ở trên, các chi phí bất hợp lý trong việc phân phối thuốc và sự thiếu đạo đức của bác

sĩ kê toa thuốc và sự “độc quyền” đối với dược phẩm là những yếu tố làm tăng giá

thuốc. Ngoài tất cả các yếu tố trên, việc bảo hộ sáng chế dược phẩm cũng tác động

mạnh đến giá thuốc. Bên cạnh việc cộng vào giá thuốc các chi phí cho việc bảo hộ

sáng chế các dược phẩm, việc không có sản phẩm cạnh tranh trên thị trường trong

thời gian bảo hộ sáng chế đã tạo cơ hôi cho người nằm độc quyền sáng chế tăng giá

bán của dược phẩm. Giá thuốc quá cao, vượt quá khả năng chi trả của phẩn lớn

người dân đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến một trong những quyền cơ bản của con

người là quyền được chăm sóc sức khỏe. Không giống như các loại hàng hóa thông

thường, thuốc chữa bệnh là một hàng hóa đực biệt, khi đã bị bệnh, dù không đủ khả

năng trả tiền thuốc thì người bệnh và người thân của người bệnh cũng sẽ phải huy

động toàn bộ nguồn lực tài chính để chữa bệnh. Người tiêu dùng cũng có thể không

tìm được sản phẩm thay thế. Vì trong nhiều trường hợp người bệnh sẽ không có sự

lụa chọn dược phẩm giống như các hàng hóa thông thường. Một người bị bệnh ung

thư không thể mua thuốc chữa dạ dày thay thế thuốc chữa ung thư đã được bác sỹ

chỉ định chỉ vì lý do thuốc chữa dạ dày có giá rẽ hơn. Người bệnh cũng không thể tự

mình thay thuốc chữa ung thư này bằng một loại thuốc khác chống ung thư khác

nếu không có sự chỉ định của bác sỹ. Nhu vậy trong lĩnh vực dược phẩm rất cần nhà

nước có những hành động tích cực, đưa ra nhưng giải pháp quan trọng để dược

phẩm đến tay người tiêu dùng được giá cả hợp lý và chất lượng.

91

Để duy trì trùy cân bằng giữa việc bảo hộ sáng chế và quyền tiếp cận dược

phẩm Việt Nam cần đáp ứng những điều kiện cụ thể về pháp luật, về kinh tế, về

công nghệ, về chính sách…mặt khác chúng ta phát huy những mặt tích cực của việc

bảo hộ sáng chế tại Việt Nam cần có giải pháp tổng thể từ góc độ pháp lý, kinh tế,

công nghệ đến năng lưc quản lý hành chính và khả năng chuyên môn của đối ngũ

cán bộ, bên cạnh đó cũng cần nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về vấn đề

này. Trong đó việc hoàn thiện pháp luật về bảo hộ sáng chế dược phẩm phải được

xem là yếu tố quan trọng và cần tiến hành đồng thời cùng các giải pháp, tuy nhiên

trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả sẽ tập trung vào việc đưa ra các giải

pháp và kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế dược

phẩm theo hướng sau:

Thứ nhất, Việt Nam cần tuân thủ những cam kết quốc tế về SHTT đồng thời

nghiên cứu và khai thác hiệu quả các quy định về các ngoại lệ và hạn chế quyền

SHTT được quy định trong các ĐƯQT.

Bên cạnh việc thiết lập nhưng tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu và yêu cầu của các

thành viên WTO phải tuân thủ; bằng các quy định tùy nghi, Hiệp định TRIPS đã

trao quyền tự quyết cho các nước thành viên trong việc xây dựng hoàn thiên pháp

luật phù hợp với chính sách và điều kiện thực tế của mỗi quốc gia. Các quy định tùy

nghi bao gồm các quy đinh về thời hạn chuyển tiếp đối với các thành viên là quốc

gia đang phát triển, quy đinh về các trường hợp ngoại lệ trong bảo hộ các đối tượng

SHTT, quy định về các trường hợp hạn chế quyền SHTT, về nhập khẩu song song,

về các định trưởng hợp không bảo hộ một số đối tượng SHTT…đặc biệt áp dụng

đối với bảo hộ sáng chế dược phẩm.

Thứ 2, việc bảo hộ sáng chế cho dược phẩm cần xác rõ mục tiêu có ảnh

hưởng đến hệ thống sáng chế, đến các vấn đề kinh tế xã hội của Việt Nam và đến

lợi ích quốc gia cũng như quan hệ quốc tế trong trình hoàn thiện pháp luật về bảo hộ

sáng chế dược phẩm để xây dựng các quy phạp pháp luật cho phủ hợp. Việc hoàn

thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế dược phẩm đòi hỏi phải phù hợp với

thực tiễn Việt Nam, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhằm

đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam

phải đảm bảo có các quy định nhằm trách lạm dụng quyền của các quốc gia đang

92

phát triển, áp dụng các ngoại lệ của TRIPS về bảo hộ sáng chế dược phẩm để gây

ảnh hưởng xấu đến lợi ích hợp pháp của người nắm độc quyền sáng chế, ảnh hưởng

đến môi trường đầu tư cũng như quan hệ hợp tác quốc tế.

Thứ 3, nghiên cứu, tham khảo học tập có chọn lọc kinh nghiệm của các nước

về bảo hộ sáng chế dược phẩm và vận dụng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

Pháp luật về sáng chế nói chung và pháp luật về sáng chế dược phẩm nói riêng tại

một số quốc gia trên thế giới đã hình thành trước Việt Nam hàng thập kỷ. Việc học

tập kinh nghiệm của các nước, đặc biệt các nước phát triển sẽ hữu ích cho Việt Nam

trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về SHTT nói chung và pháp luật về bảo

hộ sáng chế dược phẩm nói riêng. Tuy nhiên, “không có một mô hinh pháp luật nào

phù hợp với tất cả các mô hình khác” dó đó việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về

bảo hộ sáng chế dược phẩm phải dựa trên điều kiện cụ thể của đất nước.

Trên cơ sở phương hướng đã được được xác định, việc đề xuất các giải pháp

và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế cho dược

phẩm phải tuân thủ các nguyên tắc:

Thứ nhất các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về

bảo hộ sáng chế dược phẩm quán triệt đường lối của đảng và chinh sách của nhà

nước về chủ động hội nhập quốc tế và thực hiện cam kết quốc tế, phát triển khoa

học công nghệ, công nhận và tăng cường bảo hộ SHTT. Bên cạnh đó phải xuất phát

từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về xây

dựng và tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ hai, đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế dược phẩm là

cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu sáng chế và lợi ích của xã hội, lợi ích quốc gia là

nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng như

thực thi pháp luật trên thực tế. Việc tăng cường bảo hộ mạnh quyền SHTT khi Việt

Nam hội nhập sâu vào quá trình toàn cầu hóa sẽ mang đến cho Việt Nam nhiều

thách thức hơn là cơ hội. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần đảm bảo được lợi ich

quốc gia, lợi ích xã hội và lợi ích của các tổ chức cá nhân trước sức ép của quá trình

hội nhập quốc tế trong bảo hộ sáng chế dược phẩm đồng thời cần tôn trọng và thực

hiện các cam kết quốc tế.

Thứ ba, việc hoàn thiện pháp luật về bảo hộ sáng chế cho dược phẩm cần

93

đảm bảo tính “đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch”. Tính đồng bộ

thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẩn, không trùng lặp, chồng chéo trong mỗi

ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật vơi nhau. Cần

phải đảm bảo tính thống nhất trong các quy định pháp luật về bảo hộ sáng chế dược

phẩm không chỉ trong luật SHTT, giữa BLDS, Luật Dược, Luật Khám chữa bệnh,

Luật Hành chính, Pháp luật về cạnh tranh…mà còn trong chính sách của nhà nước

và bộ ban nghành liên quan như Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ.

3.3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ

sáng chế dƣợc phẩm:

3.3.2.1. Sửa đổi Điều 136 và Điều 142 Luật SHTT

Điều 136 Luật SHTT quy định: “Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất

sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu

quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các

nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Khi có các nhu cầu quy định tại khoản này mà

chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm

quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần

được phép của chủ sở hữu sáng chế theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của

Luật này”.

Điều 145 Luật SHTT quy định: ”Bên được chuyển quyền sử dụng sáng chế

theo hợp đồng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế như chủ sở hữu sáng chế

theo quy định tại khoản 1 Điều 136 của Luật này”.

Tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 136 và Điều 142 Luật SHTT ở hai nội dung:

Sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT theo hướng quy định chủ sở hữu sáng chế có

nghĩa vụ sử dụng sáng chế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt

Nam; đưa quy định tại điều 142 (5) Luật SHTT vào quy định tại Điều 136 Luật

SHTT.

a. Kiến nghị sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT gắn với nghĩa vụ sử dụng sáng

chế của sở hữu sáng chế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Thứ nhất quy định tại điều 136 (1) Luật SHTT gắn nghĩa vụ sử dụng sáng

chế của chủ sở hữu sáng chế với mục đích “đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh,

phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác

94

của xã hội” đã bộc lộ một số bất cập sau:

Một là, hạn chế khả năng sử dụng BBCGQSDSC trong trường hợp người

nắm độc quyền vi phạm nghĩa vụ sử dụng sáng chế. Điều này đặc biệt quan trọng

trong sáng chế dược phẩm, đây là loại hàng hóa đặc biệt, có ý nghĩa quan trọng đối

với mỗi quốc gia. Nghĩa vụ sử dụng của chủ sở hữu sáng chế không chỉ giới hạn ở

nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội bao gồm nhu cầu an ninh, quốc

phòng, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân như quy định tại Điều

136(1) Luật SHTT. Nếu chỉ có thể BBCGQSDSC trong trường hợp chủ sở hữu vi

phạm nghĩa sử dụng sáng chế mà ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu an ninh,

quốc phòng, mục đích công cộng mới là không hợp lý, hạn chế khả năng

BBCGQSDSC trong trường hợp người nắm độc quyền sử dụng vi phạm nghĩa vụ

sử dụng sáng chế, ảnh hưởng đến nhu cầu của xã hội, đến sự phát triển bình thường

của nền kinh tế hay trong trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ môi trường.

Hai là, có sự chồng chéo, mâu thuẩn trong quy định của Điều 136 (1) với

Điều 133, Điều 145 (1(a)) Luật SHTT. Điều 133 Luật quy định các trường hợp sử

dụng sáng chế nhân danh nhà nước nhằm phục vụ cho mục đích công cộng, phi

thương mại, an ninh, phục vụ quốc phòng, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho

nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Theo Điều 133, khi xảy

ra trường hợp trên, Bộ, cơ quan ngang bộ có thể sử dụng hoặc phải sử dụng sáng

chế theo quy định bắt buộc chuyển giao quyền theo quy định tại Điều 145, 146 Luật

SHTT. Điều 145 (1(a)) quy định về BBCGQSDSC trong trường hợp sử dụng sáng

chế nhằm đáp ứng mục đích công cộng, phi thương mại, với sự liệt kê các trường

hợp giống như quy định tại Điều 133. Tuy nhiên không chỉ có các Bộ, cơ quan

ngang bộ mới có quyền yều cầu BBCGQSDSC theo các lý do được quy định tại

Điều 145 (1(a)) mà quyền yêu cầu còn thuộc về tổ chức, cá nhân bất kỳ.

- Đối với Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam cũng khẳng

định chủ sở hữu sáng chế hoặc bên nhận trong hợp đồng chuyển giao quyền sử

dụng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội của Việt Nam. Vì vậy, yêu cầu sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT như tác

giả kiến nghị hoàn toàn phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.

- Trong quá trình nghiên cứu pháp luật các nước, việc sử dụng sáng chế vì lý

95

do “lợi ích công cộng” được quy định như những lý do độc lập, không phụ thuộc

vào việc người nắm độc quyền sáng chế có vi phạm nghĩa vụ sáng chế hay không.

Do đó, yêu cầu sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT như tác giả kiến nghị là phù hợp

với quy định của các nước.

Ví dụ, Trong lĩnh vực dược phẩm, nếu người nắm độc quyền sử dụng sáng

chế không cung cấp đủ số lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu hợp lý của xã hội

hoặc cung cấp với mức giá cao một cách bất hợp lý, sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của

bệnh nhân. Việc sử dụng sáng chế không phù hợp cũng có thể ảnh hưởng nghiêm

trọng tới sự phát triển bình thường của các lĩnh vực kinh tế quan trọng, đặc biệt

trong lĩnh vực công nghệ dược phẩm.

b. Kiến nghị sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT theo hướng đưa quy đinh tại

Điều 142 (5) Luật SHTT vào quy định tại Điều 136 Luật SHTT. Kiến nghị này được

đưa ra là dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, nghĩa vụ sử dụng sáng chế được quy

định ở hai điều luật khác nhau trong một đạo luật: Điều 136 (quy định nghĩa vụ sử

dụng sáng chế của chủ sở hữu sáng chế); Điều 142 (quy định nghĩa vụ sử dụng sáng

chế của người nắm độc quyền sáng chế). Điều này chưa thực sự hợp lý vì nghĩa vụ

sử dụng sáng chế của chủ sở hữu sáng chế và bên nhận chyển giao trong hợp độc

độc quyền là như nhau; nghĩa vụ sử dụng sáng chế của bên nhận chuyển giao trong

hợp đồng chuyển giao độc quyền không phải là trường hợp hạn chế chuyển giao

quyền sử dụng đối tượng SHCN, do đó, không nên quy định trong Điều 142, đặc

biệt được quy định trên mối quan hệ tổng thể với các quy định khác trong Điều 142

Luật SHTT. Và như vậy tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 136 như sau:

1. Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm đƣợc bảo hộ hoặc

áp dụng quy trình đƣợc bảo hộ phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội

của đất nƣớc. Trong trƣờng hợp chủ sở hữu sáng chế không sử dụng hoặc sử

dụng sáng chế không phủ hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất

nƣớc thì cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền có thể chuyên giao quyền sử dụng

sáng chế cho ngƣời khác mà không cần đƣợc phép mà không cần đƣợc pháp

của chủ sở hữu sáng chế theo quy định tại Điều 145, 146,147 của Luật này.

2. Bên đƣợc chuyển quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền có

96

nghĩa vụ sử dụng sáng chế nhƣ chủ sở hữu sáng chế theo quy định tại khoản 1

Điều này.

3.3.2.2. Kiến nghị cần có quy định thống nhất trong Luật SHTT năm

2005 (sửa đổi năm 2009), Luật khám chữa bệnh năm 2009 và Luật dƣợc năm

2005.

Hiến pháp của Việt Nam thừa nhận các QCN nói chung và quyền SHTT,

quyền về sức khỏe nói riêng. Như vậy, quyền SHTT và quyền về sức khỏe đều được

công nhận là các QCN ở Việt Nam. Quyền SHTT đã được quy định cụ thể trong

Luật SHTT năm 2005, sửa đổi năm 2009. Mặc dù công nhận và bảo hộ quyền

SHTT, Luật SHTT khẳng định việc thực thi quyền SHTT không được trái với lợi

ích chung; trong trường hợp nhằm bảo đảm lợi ích chung như đáp ứng các mục tiêu

an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước và xã hội, chủ sở hữu quyền

SHTT có thể bị cấm hoặc hạn chế thực hiện quyền của mình hoặc phải cho phép

chủ thể khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù

hợp. Trong khi đó, quyền về sức khỏe được cụ thể hóa trong Luật Khám, chữa bệnh

năm 2009 và Luật Dược năm 2005. Tuy nhiên, rất tiếc là quyền tiếp cận dược phẩm

chưa được thừa nhận trực tiếp trong hai luật này. Điều này có thể khiến cho cơ quan

nhà nước có thẩm quyền gặp phải một số khó khăn khi thực hiện cân bằng hợp lý

quyền SHTT và việc tiếp cận dược phẩm trong các trường hợp cụ thể trên thực tế,

nhất là khi các văn bản pháp luật hướng dẫn việc cân bằng này còn chưa đầy đủ và

chi tiết. Vì vậy, việc ghi nhận quyền tiếp cận dược phẩm hay ít nhất là chính sách

của Nhà nước về vấn đề này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam khi

sửa đổi Luật Dược là cần thiết.

Dưới góc độ Luật SHTT và quyền tiếp cận dược phẩm, Việt Nam đã có các

quy định về việc áp dụng các quy định linh hoạt của Hiệp định TRIPS mặc dù còn

một số hạn chế.

Thứ nhất, khoản 2 Điều 125 Luật SHTT liệt kê các trường hợp chủ sở hữu

sáng chế không được phép ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế, trong đó cho

phép sử dụng sáng chế “nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương

mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm,

97

sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập

khẩu, lưu hành sản phẩm”. Tuy nhiên, việc liệt kê như vậy chưa làm rõ ba yêu cầu

về giới hạn quyền đối với sáng chế theo Điều 30 Hiệp định TRIPS.

Thứ hai, Điều 145-147 Luật SHTT quy định về bắt buộc chuyển giao quyền

sử dụng sáng chế. Một trong những cơ sở để bắt buộc chuyển giao có thể áp dụng

trong lĩnh vực dược phẩm là nhằm “mục đích công cộng, phi thương mại,… phòng

bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân”. Nhưng hiện nay, Việt Nam chưa tham

gia hệ thống thực thi đoạn 6 Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng

đồng với tư cách là nước xuất khẩu và/hoặc nước nhập khẩu, cũng như chưa phê

chuẩn Điều 31bis Hiệp định TRIPS. Sự chậm trễ này sẽ cản trở Việt Nam tận dụng

các cơ hội mà hệ thống này tạo ra nhằm khuyến khích việc tiếp cận dược phẩm ít

nhất dưới góc độ pháp lý trong phạm vi quốc gia và quốc tế.

Thứ ba, về vấn đề hết quyền SHTT, điểm b khoản 2 Điều 125 Luật SHTT

quy định việc lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm (được bảo

hộ sở hữu công nghiệp) được đưa ra thị trường một cách hợp pháp, kể cả thị trường

nước ngoài, bởi “chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu

nhãn hiệu” là không vi phạm pháp luật. Về quy định này, có thể còn có tranh cãi về

các trường hợp hết quyền, do nó quá nhấn mạnh vào yếu tố “nhãn hiệu”. Nhưng

xem xét quy định này trong mối tương quan với quy định tương tự về hết quyền đối

với giống cây trồng được thừa nhận tại khoản 2 Điều 190 Luật SHTT, có thể cho

phép giải thích rằng chế độ hết quyền đối với sáng chế mà Việt Nam đang áp dụng

là chế độ hết quyền quốc tế. Hiện nay, việc nhập khẩu song song dược phẩm đang

được cho phép theo Quyết định số 1906/2004/QĐ-BYT ngày 28/5/2004 của Bộ Y

tế. Việc quy định hết quyền quốc tế như vậy sẽ tăng khả năng tiếp cận dược phẩm

của người bệnh ở Việt Nam.

Dù chưa hoàn chỉnh, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành trong một

chừng mực nhất định đã góp phần đảm bảo việc cân bằng hợp lý giữa quyền SHTT

và quyền tiếp cận dược phẩm nhằm bảo vệ các QCN. Tuy nhiên vấn đề quan trọng

ở đây là thực thi việc cân bằng hợp lý đó trong thực tế và vận dụng của doanh

nghiệp Việt Nam về vấn đề này. Đây là một vấn đề còn khó khăn. Ví dụ điển hình

là tranh chấp xảy ra vào tháng 12/2010 giữa Công ty Nanogen (Việt Nam) và Công

98

ty F.Hoffmann-La Roche (Thụy Sỹ) về việc có hay không việc Nanogen vi phạm

sáng chế được bảo hộ ở Việt Nam của F.Hoffmann-La Roche khi Nanogen sản xuất

thuốc đặc trị viêm gan siêu vi C và B (dạng chích) có tên là Pegnano ở Việt Nam.

Các bên ủng hộ Nanogen, ngoài việc chứng minh Nanogen không vi phạm sáng

chế, đã đưa ra các lập luận ủng hộ Nanogen như thuốc Pegnano và thuốc do

F.Hoffmann-La Roche có chất lượng điều trị như nhau nhưng giá của Pegnano chỉ

bằng 25%, thuốc Pegnano do công ty Việt Nam sản xuất, chống được độc quyền…

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, vấn đề quan trọng là phải xem xét việc sản xuất và

lưu hành thuốc Pegnano của Nanogen có vi phạm sáng chế của F.Hoffmann-La

Roche hay không. Nếu không vi phạm thì Nanogen có quyền tiếp tục sản xuất và

lưu hành, thậm chí Nanogen có thể nộp đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế đối

với hoạt chất sản xuất thuốc Pegnano. Ngược lại, nếu vi phạm, Nanogen cần nhanh

chóng nộp đơn yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định bắt buộc chuyển

giao quyền sử dụng sáng chế của F.Hoffmann-La Roche cho Nanogen theo Điều

145-147 Luật SHTT [1].

3.3.2.3 Kiến nghị về việc Việt Nam phê chuẩn Nghị định thƣ sửa đổi

Hiệp định TRIPS:

Nghị định thư sửa đổi TRIPs (sau đâu gọi tắt là Nghị định thư) được Đại Hội

đồng WTO ban hành vào ngày 06/12/2005. Nghị định thư đang được mở cho các

nước thành viên phê chuẩn đến ngày 31/12/2015. Tính đến ngày 01/8/2014 đã có 52

quốc gia thông báo chính thức phê chuẩn Nghị định thư này. Để có cơ sở kiến nghị

cho sự cần thiết phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi HIệp định TRIPS, cần đánh giá

đúng những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam dước góc độ thành viên nhập

khẩu và thành viên xuất khẩu.

Với tư cách là quốc gia nhập khẩu, việc phê chuẩn Nghị định thư sẽ mang lại

cho Việt Nam những cơ hội và thách thức sau:

Thứ nhất, BBCG QSDSC theo Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS chỉ

áp dụng cho lĩnh vực dược phẩm chứ không áp dụng cho tất cả các lĩnh vực công

nghệ được bảo hộ sáng chế. Nếu Việt Nam tham gia với tư cách là thành viên nhập

khẩu thì Việt Nam có thể áp dụng các quy định tại Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp

định TRIPS cho BBCG QSDSC nhằm nhập khẩu các dược phẩm để giải quyết các

99

vấn đề sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển

và là nước chịu rất nhiều các dịch bệnh như cúm gia cầm, cúm heo, HIV/AIDS, lao,

sốt rét cũng như các bệnh tiểu đường, ung thư… Việt Nam cũng là một trong mười

quốc gia trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của việc biến đổi khí hậu. Trên

thực tế, nhu cầu chữa bệnh của người dân là rất lớn, nhưng chi phí cho chữa bệnh

của người dân còn thấp. Trong năm 2009, tiền thuốc chi phí trung bình là 19,77

USD/đầu người (năm 2008 con số này là 16.45 USD/đầu người). Trong đó, chi phí

chủ yếu từ người dân chứ không phải từ Chính phủ. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế

thế giới, trong năm 2007, chi phí cho chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam, bao gồm cả

dược phẩm từ Chính phủ chỉ chiếm 39,3%, từ khu vực tư nhân là 60,7%. Thu nhập

bình quân tính trên đầu người tại Việt Nam còn thấp, nhưng giá dược phẩm còn cao

so với thế giới trong khi dược phẩm là một loại hàng hóa đặc biệt, có ý nghĩa quan

trong đến cuộc sống của con người. Điều này đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực từ

phía Chính phủ Việt Nam nhằm giúp người dân có thể tăng khả năng tiếp cận dược

phẩm, khả năng chữa bệnh, phòng bệnh. Hiện nay, tại Việt Nam, một số lượng lớn

thuốc chữa các bệnh lây nhiễm như HIV/AIDS, lao, sốt rét, cúm gia cầm, cúm

heo… là dựa vào nguồn cung cấp miễn phí của WHO và từ một số tổ chức nhân

đạo. Tuy nhiên, chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn thuốc viện trợ này. Hơn nữa,

số thuốc viện trợ thường không đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân khi có dịch bệnh.

Đối với những loại thuốc mà doanh nghiệp Việt Nam có thể sản xuất được, có thể

BBCG QSDSC theo quy định của Điều 31 Hiệp định TRIPS và Điều 5 Công ước

Paris nhằm tăng cường khả năng cung cấp thuốc cho nhu cầu của nhân dân. Tuy

nhiên, với những loại thuốc mà doanh nghiệp trong nước chưa thể sản xuất được,

cần nhập khẩu thì việc phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS sẽ là cơ

sở pháp lý cần thiết cho việc cấp quyết định BBCG QSDSC nhằm nhập khẩu các

dược phẩm đã được bảo hộ sáng chế vào Việt Nam với giá thấp hơn giá thị trường,

phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Thứ hai, muốn trở thành thành viên nhập khẩu, Việt Nam cần thực hiện một

số thủ tục hành chính như thủ tục thông báo đến Hội đồng TRIPS theo quy định tại

Đoạn 1(b) Phụ lục của Hiệp định TRIPS. Vì Việt Nam không phải là quốc gia kém

phát triển, do đó, cùng với việc thông báo, Việt Nam phải chứng minh là không có

100

năng lực sản xuất hoặc không có đủ năng lực sản xuất dược phẩm theo một trong

những cách thức được quy định trong Phụ lục của Hiệp định TRIPS. Khi đưa ra yêu

cầu trên, Phụ lục Hiệp định TRIPS đã không xác định và không đưa ra tiêu chí xác

định thế nào là “không đủ năng lực sản xuất”. Theo Ủy ban thương mại Thụy Điển,

năng lực sản xuất có thể hiểu là năng lực về kỹ thuật (thông qua kỹ thuật, bí quyết

kỹ thuật, trang thiết bị) hoặc tính khả thi về kinh tế của việc sản xuất (thông qua quy

mô sản xuất) hoặc cả hai. Việc giải thích sẽ ảnh hưởng đến chủ thể có thể sử dụng

hệ thống được quy định trong các Phụ lục kèm theo Nghị định thư sửa đổi Hiệp

định TRIPS. Tại Việt Nam, ngành công nghiệp dược phẩm đã có thể sản xuất được

sản phẩm cuối cùng, dù còn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Ngành công nghiệp dược phẩm cũng đã đáp ứng được khoảng trên 50% nhu cầu

trong nước. Như vậy, Việt Nam không phải là nước không có khả năng sản xuất

dược phẩm, mà chúng ta chỉ có thể chứng minh là nước “không có đủ năng lực sản

xuất dược phẩm”. Ngay cả trong trường hợp chúng ta chứng minh được thì khi

ngành công nghiệp dược phẩm của Việt Nam được xác định là có đủ khả năng sản

xuất dược phẩm thì tư cách thành viên nhập khẩu cũng tự động mất đi.

Thứ ba, ngay cả khi đã được thừa nhận là thành viên có đủ tư cách nhập

khẩu, trên thực tế, Việt Nam có thể nhập khẩu dược phẩm theo quyết định BBCG

QSDSC hay không cũng là vấn đề cần xem xét. Vì đối với BBCG QSDSC, theo

quy định của Hiệp định TRIPS hiện hành, các doanh nghiệp trong nước hoặc bản

thân Chính phủ sẽ là nhà sản xuất nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội trong

nội bộ của quốc gia. Trong trường hợp này, vấn đề lợi nhuận của doanh nghiệp

không được đặt ra vì lợi ích của cộng đồng được xem là lớn hơn “lợi ích tư” của

người nắm độc quyền sáng chế hoặc của nhà sản xuất. Tuy nhiên, vấn đề hoàn toàn

khác với việc BBCG QSDSC theo Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS vì nhà

sản xuất trong trường hợp này là doanh nghiệp của quốc gia nước ngoài. Họ không

có nghĩa vụ phải đáp ứng nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội của Chính phủ một

nước khác. Do đó, họ chỉ tham gia sản xuất nếu có lợi nhuận. Mặc dù mục đích mà

Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS đưa ra là nhằm mục đích nhân đạo, nhằm

giúp các quốc gia có thu nhập thấp hoặc thu nhập trung bình giải quyết các vấn đề

sức khỏe cộng đồng của mình. Tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ không tham gia sản xuất

101

nếu không thu được lợi nhuận, vì mục tiêu của doanh nghiệp là thu lợi nhuận chứ

không phải là hoạt động nhân đạo. Do đó, mức giá đối với dược phẩm được sản

xuất theo quyết định BBCGQSDSC phải là mức giá thấp hơn thị trường nhưng phải

đảm bảo được mức lợi nhuận tối thiểu cho nhà sản xuất. Đây không phải là vấn đề

đơn giản. Đặc biệt, đối với các loại bệnh nhiệt đới hoặc các loại bệnh chỉ có ở các

quốc gia nghèo hoặc các quốc gia có thu nhập trung bình, thường không thu hút

được sự quan tâm của các nhà sản xuất dược phẩm tại các nước phát triển. Trong

trường hợp này, có thể Việt Nam sẽ khó để tìm được nhà sản xuất sẵn sàng sản xuất

dược phẩm theo quyết định BBCG QSDSC để xuất khẩu sang thị trường Việt Nam.

Đặt giả thiết Việt Nam là nước xuất khẩu, việc phê chuẩn Nghị định thư là

cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc cấp quyết định BBCG QSDSC nhằm sản

xuất dược phẩm xuất khẩu sang thị trường các thành viên WTO không có hoặc

không có đủ năng lực sản xuất dược phẩm nhằm giúp các quốc gia này giải quyết

các vấn đề sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, để có thể sử dụng các quy định của Điều

31bis và Phụ lục của Hiệp định TRIPS với tư cách là thành viên xuất khẩu, ngành

công nghiệp dược phẩm của Việt Nam cần đạt được trình độ phát triển đến mức có

thể sản xuất được dược phẩm thiết yếu đủ tiêu chuẩn cho việc xuất khẩu sang thị

trường nước ngoài. Trên thực tế, tổng trị giá thuốc sản xuất trong nước hiện nay

tăng trưởng đều hàng năm. Số lượng các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất dược

phẩm tại Việt Nam cũng tăng đáng kể trong thời gian qua. Nếu trong năm 2001, cả

nước có 121 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm (trong đó có 30 doanh nghiệp nhà

nước; 13 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 78 doanh nghiệp tư nhân) thì

trong năm 2005 đã có 205 doanh nghiệp (trong đó có 19 doanh nghiệp nhà nước; 22

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 164 doanh nghiệp tư nhân). Trong năm

2009, theo báo cáo của Bộ Y tế, có 178 doanh nghiệp trực tiếp tham gia sản xuất

thuốc, trong đó 98 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược và 80 doanh nghiệp chỉ

sản xuất thuốc từ dược liệu. Trong năm 2009, có 98 doanh nghiệp đạt GMP (năm

2008 con số này là 77), đáp ứng khoảng 49,01% nhu cầu sử dụng thuốc trong nước.

Trị giá thuốc sản xuất trong nước trong năm 2009 là 831,205 triệu USD (tăng

16,18% so với năm 2008), đáp ứng 49,01% nhu cầu trong nước (năm 2008 con số

102

này là 52,86). Từ năm 2003 đến tháng 8/2008, tốc độ tăng trưởng của thị phần dược

phẩm tại Việt Nam là 24%. Dự báo tốc độ tăng trưởng của thị trường dược phẩm

Việt Nam là 17-19%.

Thuốc sản xuất trong nước không chỉ cung cấp cho thị trường Việt Nam mà

còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.Trong năm 2008, tổng trị giá tiền thuốc xuất

khẩu đạt 33,32 triệu USD. Trong năm 2009, tổng giá trị xuất khẩu thuốc đạt 39,96

triệu USD (tăng 19,93% so với năm 2008) Tuy nhiên, so với trị giá nhập khẩu thuốc

năm 2009 là 1.170,828 nghìn USD thì trị giá thuốc xuất khẩu còn quá ít.

Phân tích thực trạng sản xuất dược phẩm tại Việt Nam cho thấy, mặc dù tổng

trị giá thuốc xuất khẩu còn rất khiêm tốn, nhưng Việt Nam hoàn toàn có khả năng

sản xuất dược phẩm để xuất khẩu. Do đó, việc phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi

Hiệp định TRIPS là cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Việt Nam trong việc

BBCG QDSC nhằm mục đích xuất khẩu dược phẩm. Đây cũng là cơ hội cho Việt

Nam tiếp thu các công nghệ của nước ngoài, phát triển ngành công nghiệp dược

phẩm trong nước. Tuy nhiên, để có thể sử dụng hiệu quả các quy định của Điều

31bis và Phụ lục Hiệp định TRIPS với tư cách là thành viên xuất khẩu, ngành công

nghiệp dược phẩm Việt Nam cần phát triển hơn nữa, đặc biệt tăng cường đầu tư và

phát triển sản xuất các dược phẩm thiết yếu như nhóm thuốc kháng sinh, thuốc chữa

ung thư… Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao trình độ công nghệ

và phải có năng lực tài chính để có thể sử dụng hiệu quả BBCG QSDSC. Vì một

trong những điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng hiệu quả BBCG QSDSC chính là

khả năng công nghệ để có thể sản xuất được sản phẩm theo quyết định bắt buộc

chuyển giao.

Cũng cần nhấn mạnh, trong thời điểm hiện nay, khi mà Việt Nam chưa phê

chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS thì Việt Nam cũng như các thành

viên khác của WTO vẫn có thể sử dụng tư cách thành viên nhập khẩu hoặc thành

viên xuất khẩu theo Quyết định ngày 30/8/2003. Tuy nhiên, Quyết định ngày

30/8/2003 chỉ có hiệu lực đến khi Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS có hiệu

lực. Điều đó đòi hỏi về lâu dài, Việt Nam cần phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp

định TRIPS.

Các phân tích trên cho thấy, có thể trước mắt, việc phê chuẩn Nghị định thư

103

sửa đổi Hiệp định TRIPS chưa mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam kể cả với tư

cách là thành viên nhập khẩu hay xuất khẩu. Hơn nữa, việc sửa đổi Hiệp định

TRIPS thực sự mang lại lợi ích cho các quốc gia có nền công nghiệp dược phẩm

phát triển, thường là các quốc gia phát triển hơn là các nước đang phát triển và kém

phát triển. Tuy nhiên, việc phê chuẩn Nghị định thư này sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam

trong tương lai. Chính vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần phê chuẩn Nghị định thư

sửa đổi Hiệp định TRIPS.

Cùng với việc phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS, Việt Nam

cần sửa đổi pháp luật trong nước theo hướng cho phép BBCG QSDSC nhằm mục

đích xuất khẩu dược phẩm và ban hành văn bản pháp luật “nội luật hóa” các quy

định của Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp định TRIPS. Vì pháp luật Việt Nam hiện

hành cho phép BBCG QSDSC nhằm cung cấp “chủ yếu cho thị trường trong nước”.

Mặc dù thuật ngữ “chủ yếu” được sử dụng ở đây (theo đúng thuật ngữ được dùng

trong Điều 31 Khoản f Hiệp định TRIPS) nhưng điều này không tạo cơ sở pháp lý

vững chắc cho việc xuất khẩu sản phẩm được sản xuất theo quyết định BBCG

QSDSC. Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS không yêu cầu các thành viên phải

sửa đổi pháp luật trong nước nhưng hầu hết các quốc gia quy định BBCG QSDSC

“chủ yếu cung cấp cho thị trường trong nước” nên một số thành viên, sau khi phê

chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS, đã tiến hành sửa đổi pháp luật trong

nước cho phù hợp. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần ban hành văn bản pháp luật

quy định chi tiết các quy định của Điều 31bis và Phụ lục Hiệp định TRIPS. Vì một

số quy định tại Điều 31bis và Phụ lục mang tính tùy nghi, dành quyền quyết định

cho quốc gia thành viên, một số quy định còn là quy định khung chưa thể áp dụng

trực tiếp tại quốc gia thành viên.

Thực tiễn pháp lý tại các nước cho thấy, một số quốc gia đã quy định chi tiết

về BBCG QSDSC theo Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS theo hướng sửa đổi

Luật Sáng chế của mình như Thụy Sỹ, Canada, Pháp, Hàn Quốc, Ấn Độ, NaUy,…

hoặc ban hành một văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này như EU… Một số quốc

gia khác như Trung Quốc vừa sửa đổi Luật Sáng chế của mình theo hướng cho phép

BBCG QSDSC nhằm mục đích xuất khẩu dược phẩm vừa ban hành một văn bản

pháp luật cụ thể hóa các quy định của Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp định TRIPS.

104

[15], [16], [34].

3.3.2.4. Các giải pháp khác nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo

hộ sáng chế dƣợc phẩm:

1. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng

sáng chế nhằm mục đích xuất khẩu dược phẩm:

Pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép BBCGQSDSC nhằm cung cấp chủ

yếu cho thị trường trong nước”. Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS không yêu

cầu các thành viên phải sửa đổi pháp luật trong nước nhưng hầu hết các quốc gia

quy định BBCGQSDSC “chủ yếu cung cấp cho thị trường trong nước” cho nên một

số thành viên khi phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hệp định TRIPS sẽ tiến hành sửa

đổi pháp luật trong nước nhằm cho phép xuất khẩu dược phẩm theo quy đinh của

Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS. Do đó, cùng với việc phê chuẩn Nghị định

thư sủa đổi Hiệp định TRIPS, Việt Nam cần ban hành văn bản phẩm luật quy định

chi tiết về việc thi hành vấn đề này. Trong văn bản này một mặt quy định cho phép

xuất khẩu dược phẩm được sản xuất theo quyết định BBCGQSDSC đến thị trường

các quốc gia thành viên WTO không có hoặc không có đủ năng lực sản xuất dược

phẩm nhằm giúp các nước này giải quyết các vấn đề sức khỏe cộng đồng. Mặt khác

cấn hướng dẫn cụ thể việc thực hiện quy định tại Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp

định TRIPS. Vì một số quy định tại Điều 31bis và Phụ lục mang tính tùy nghi, dành

quyền quyết định cho quốc gia thành viên, một số quy định còn là quy định khung

chưa thể áp dụng trực tiếp tại quốc gia thành viên.

Thực tiễn pháp lý tại các nước cho thấy, một số quốc gia đã quy định chi tiết

về BBCGQSDSC theo Nghị đinh thư sửa đổi Hiệp định TRIPS theo hướng sửa đổi

Luật sáng chế của mình như Thụy Sỹ, Canada, Pháp, Hàn Quốc, Ấn độ…hoặc ban

hành văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này như EU. Một số quốc gia khác như

Trung Quốc vừa sửa đổi Luật sáng chế của mình theo hướng cho phép

BBCGQSDSC nhằm mục đích xuất khẩu dược phẩm vừa ban hành một văn bản

pháp luật cụ thể hóa các quy định của Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp định TRIPS.

2. Nâng cao năng lực chuyên môn và ý thưc trách nhiệm của cơ quan có

thẩm quyền trong lĩnh vực sáng chế dược phẩm: Trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế

dược phẩm đòi hỏi đội ngũ cán bộ áp dạng pháp luật cần có kiên thức sâu rộng

105

không chỉ về SHTT mà còn kiến thưc về pháp luật dược, pháp luật cạnh tranh, pháp

luật hợp đồng, thậm chỉ cả kiến thức về kinh tế, tài chính. Vì vậy, các cơ quan xây

dựng và thực thi pháp luật trong lĩnh vực này cần được trang bị không chỉ chuyên

môn, kinh nghiệm pháp luật mà còn là chuyên môn, kinh nghiệm kinh tế, chính trị

và xã hội.

3. Phát triển các ngành công nghiệp trong nước, nâng cao năng lực công

nghệ của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là công nghiệp dược phẩm. Trong

ngành công nghiệp dược phẩm tạo Việt Nam phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa,

trình độ công nghệ thấp, tiềm lực kinh tế chưa cao, sự đầu tư và R&D sản phẩm

mới còn hạn chế. Chính vì vậy rất cần Chính phủ VIệt Nam có chương trình hỗ trợ

cho doanh nghiệp, ví dụ như chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ, nhưng

quan trong nhất vẫn là nỗ lực của mỗi doanh nghiệp, để nâng cao năng lực công

nghệ. Bên cạnh đó cũng rất cần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về pháp luật

SHTT, Pháp luật cạnh tranh, Pháp luật về dược phẩm…

4. Thiết lập mạng lưới hợp tác quốc tế và thông tin về các sản phẩm dược

phẩm giá ré: Dược phẩm là một loại hàng hóa đặc biệt, có ý nghĩa quan trong đối

với con người do đó cần có những giải pháp tổng thể nhằm tăng cường khả năng

tiếp cấp với thuốc chữa bệnh cho người dân, đặc biệt với nhóm dược phẩm thiết

yếu. Chính vì vậy vai trò quan trọng của hợp tác quốc tế trong thiết lập mạng lưới

thông tin dược phẩm giá rẻ là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa

hiện nay nhằm tạo cơ hội cho người dân tại các quốc gia nghèo có khả năng tiếp cận

dược phẩm với giá rẻ.

3.3.2.5 Kiến nghị về sáng chế cho dƣợc phẩm và khuyến nghị đối với

Việt Nam trong đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP)

Đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 11 nước

trong khu vực APEC nhằm thiết lập một khu vực thương mại tự do hai bờ Thái

Bình Dương bắt đầu cuối năm 2009, đến nay đã qua 18 vòng đàm phán chính thức

và nhiều phiên đàm phán giữa kỳ. Việt Nam là thành viên chính thức từ tháng 11

năm 2010. Theo dự kiến đầy tham vọng của các nước thành viên TPP về việc sớm

kết thúc đàm phán, các cuộc thảo, trao đổi và thương lượng đang được thực hiện rất

106

khẩn trương trong tất cả các lĩnh vực.

Bảo hộ quyền SHTT là một trong những lĩnh vực đàm phán quan trọng trong

khuôn khổ các đàm phán FTA thế hệ mới thời gian gần đây và là lĩnh vực được đặc

biệt nhấn mạnh bởi các đối tác phát triển trong đàm phán TPP. Bản dự thảo chương

IP của Hoa Kỳ trong đàm phán TPP được tiết lộ lần gần đây nhất vào tháng 5 năm

2012 cho thấy nước này nhấn mạnh yêu cầu áp dụng TRIPS+, tức là yêu cầu điều

chỉnh các biện pháp SHTT theo hướng tăng quyền của chủ sở hữu, giảm các điều

kiện đối với đăng ký bảo hộ và áp dụng các biện pháp nhằm tăng cường khả năng

thi hành các quyền SHTT so với mức hiện tại của WTO. Nhiều vấn đề đàm phán

trong Chương Sở hữu trí tuệ này, trong đó có sáng chế cho dược phẩm được dự

đoán là sẽ có tác động trực tiếp, tức thì và nghiêm trọng tới các lợi ích của Việt

Nam, đặc biệt là khu vực y tế.

Sáng chế là một trong những chủ đề gây tranh cãi trong các đàm phán FTA

của Hoa Kỳ nói chung và đàm phán TPP nói riêng. Điều này xuất phát từ các lợi ích

trái ngược nhau giữa Hoa Kỳ và các nước đang phát triển như Việt Nam trong vấn

đề này. Điều 8 Dự thảo Chương Sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ trong TPP đề xuất mở

rộng đối tượng độc quyền sáng chế cho các loại sau đây:

- Các hình thức mới hay cách sử dụng mới của các loại thuốc cũ và các

phương pháp điều trị (và quy trình phẫu thuật mới);

- Các phương pháp chẩn đoán và chữa trị cho người và động vật.

Mọi đề xuất mở rộng đối tượng có thể bảo hộ thông qua bằng sáng chế đều

sẽ làm giảm khả năng tiếp cận và sử dụng của công chúng đối với những đối tượng

được bảo hộ mới đó. Nhưng đối với đề xuất cụ thể này của Hoa Kỳ, vấn đề trở nên

nghiêm trọng hơn, ít nhất đối với Việt Nam bởi các đối tượng được đề xuất mở rộng

gắn với việc sử dụng, sức khỏe và thu nhập của những nhóm dân cư đặc biệt nhạy

cảm. Cụ thể là:

Từ phân tích nêu trên, có thể thấy đề xuất này của Hoa Kỳ rất bất lợi cho

Việt Nam, đặc biệt cho những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và cần được bảo

vệ đặc biệt. Do đó Việt Nam có lý do và cơ sở để kiên quyết phản đối đề xuất này

của Hoa Kỳ.

Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng có các đề xuất khiến việc đăng ký độc quyền sáng

107

chế đơn giản và nhanh chóng hơn. Điều 8.6 và 8.7 Dự thảo Chương Sở hữu trí

tuệ của Hoa Kỳ trong TPP yêu cầu các nước thành viên TPP không cho phép các

hình thức phản đối việc cấp chứng nhận độc quyền trước khi chứng nhận này được

cấp; và phải gia hạn bằng sáng chế để tính cả thời gian xem xét cấp bằng. Đề xuất

này của Hoa Kỳ khiến cho quá trình cấp bằng đơn giản và dễ dàng hơn nó vốn

phải thế (theo TRIPS) và vì vậy có thể gây ra thiệt hại đáng kể cho những người có

lợi ích đối lập với người xin cấp bằng sáng chế. Đề xuất này tước đi một quyền

quan trọng của các chủ thể có lợi ích đối lập với chủ thể muốn được cấp bằng

độc quyền sáng chế theo quy định hiện tại của Việt Nam. Theo Điều 112 Luật Sở

hữu trí tuệ 2005, bất kỳ ai, nếu có bằng chứng cụ thể, cũng có thể phản đối việc

cấp đăng ký chứng nhận độc quyền đối với một sản phẩm nhất định tại Việt Nam

và việc phản đối này có thể được thực hiện bằng cách gửi phản đối tới Cơ quan

có thẩm quyền cấp bằng sáng chế. Và khi có một phản đối như vậy, cơ quan có

thẩm quyền sẽ phải xem xét và chỉ chấp nhận cho đăng ký khi đã có kết luận cuối

cùng về việc yêu cầu đăng ký đó là phù hợp. Quy định này góp phần hạn chế

quyền đăng ký chứng nhận độc quyền của các chủ sở hữu và tạo điều kiện để các

bên có lợi ích liên quan (ví dụ các nhóm bệnh nhân, đại diện của những người

nông dân bị “đánh cắp” loại giống cây trồng/vật nuôi, các nhà sản xuất nội địa¼)

được có thêm kênh hữu hiệu nhằm bảo về lợi ích hợp pháp và chính đáng của

mình. Mặt khác, đề xuất này đi ngược cách thức truyền thống đã được ghi nhận

trong TRIPS theo đó thời gian xem xét cấp bằng sáng chế được tính vào thời hạn

bảo hộ độc quyền của bằng này (một thỏa hiệp trong TRIPS) và mang lại một sự

bảo đảm lớn về lợi ích cho tổ chức, cá nhân được cấp bằng.

Điều 9.5 Dự thảo của Hoa Kỳ còn nêu nghĩa vụ của các quốc gia về liên

kết sáng chế, theo đó với mỗi đơn yêu cầu cho phép một sản phẩm thuốc cho

người hoặc động thực vật (mà chủ yếu là thuốc generic) tiếp cận thị trường (đăng

ký lưu hành), cơ quan có thẩm quyền phải rà soát tất cả các bằng sáng chế liên

quan đang có hiệu lực, phải thông báo cho chủ sở hữu các bằng sáng chế đó biết

về yêu cầu này và trường hợp có khiếu nại thì phải dừng việc cấp phép lưu hành

cho đến khi nào khiếu nại được giải quyết xong. Liên kết sáng chế đặt lên vai cơ

quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành những gánh nặng trách nhiệm rất lớn và

108

bảo vệ các chủ sở hữu sáng chế đang có hiệu lực một cách quá mức. Hơn nữa,

quy định này còn chuyển toàn bộ rủi ro sang người có yêu cầu đăng ký lưu hành

thuốc generic bởi cơ quan có thẩm quyền sẽ tự động hoãn việc cấp phép lưu

hành trong trường hợp có khiếu nại từ các chủ sở hữu bằng sáng chế đang có

hiệu lực. Và việc dừng lại này sẽ kéo dài cho đến khi nào khiếu nại được giải quyết

xong. Với những yêu cầu như thế này, việc cho phép thuốc generic được lưu

hành sẽ gặp khó khăn hơn nhiều.

Bên cạnh những đề xuất áp dụng đối với tất cả các đối tượng liên quan,

Hoa Kỳ còn đưa ra đề xuất về độc quyền dữ liệu chỉ áp dụng đối với một số

loại sản phẩm nhất định, trong đó có dược phẩm. Điều 9 Dự thảo của Hoa Kỳ

trong TPP nêu nghĩa vụ của các quốc gia về độc quyền dữ liệu theo đó cơ quan

có thẩm quyền không được dựa trên dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của dược

phẩm tương tự đã đăng ký bảo hộ trước đó để cấp đăng ký lưu hành cho thuốc

generic. Độc quyền dữ liệu khiến các đơn vị muốn đăng ký lưu hành một sản

phẩm tương tự phải thực hiện lại tất cả các thử nghiệm, phải tập hợp các dữ liệu

tương tự để xuất trình khi yêu cầu cấp phép lưu hành. Điều này đòi hỏi người nộp

đơn đăng ký mới phải có một nguồn lực đáng kể để chứng minh lại những gì đã

được chứng minh. Không phải ai cũng có tiềm lực để đáp ứng được yêu cầu này.

Ngoài ra, ngay cả khi làm được điều này, giá bán sản phẩm cũng sẽ bị đội lên do

phải cõng thêm chi phí thử nghiệm, đặt thêm gánh nặng lên vai người tiêu dùng.

Sự tốn kém, lãng phí bất hợp lý như vậy là rất khó chấp nhận trong hoàn cảnh Việt

Nam.

Tuyên bố Doha 2001 về việc áp dụng linh hoạt TRIPS đối với dược

phẩm là một văn bản ghi nhận tầm quan trọng, sự cần thiết và phù hợp đạo đức

của việc áp dụng linh hoạt các quy định của TRIPS nhằm bảo vệ sức khỏe cộng

đồng. Tuyên bố này đã nhận được sự đồng thuận của tất cả các thành viên WTO,

trong đó có các nước TPP. Trên thực tế, dù ngắn gọn và với nhiều nội dung

chung, Tuyên bố Doha là một công cụ hữu hiệu để nhiều nước đang phát triển

bảo vệ lợi ích công cộng quan trọng về sức khỏe cộng đồng của mình trước các

yêu cầu bảo hộ IP. Pháp luật và thực tiễn Việt Nam cũng đã và đang áp dụng

những biện pháp linh hoạt (ngoại lệ so với TRIPS) theo “sự cho phép” trong

109

Tuyên bố Doha này (đặc biệt trong các nội dung liên quan đến giấy phép bắt

buộc). Do đó, về mặt nội dung, việc đưa nội dung của Tuyên bố Doha vào văn

bản chính thức của TPP là rất có ý nghĩa đối với Việt Nam. Việc đưa Tuyên bố

này thành nội dung chính thức của TPP cũng hoàn toàn khả thi bởi trong Bản

khung (Broad Outline) của TPP công bố tháng 11/2011, với sự chấp thuận của

nguyên thủ tất cả các nước thành viên TPP, Tuyên bố Doha cũng đã được ghi

110

nhận như là một “định hướng tiếp cận” cho đàm phán TPP [20].

KẾT LUẬN

Quyền sở hữu trí tuệ là động lực quan trọng cho hoạt động nghiên cứu và

triển khai, thương mại hóa các sáng tạo trong lĩnh vực dược phẩm, nhằm cung cấp

các dược phẩm mới phòng chống bệnh tật. Trong khi đó, người bệnh cần phải được

sử dụng các dược phẩm mới này với giá hợp lý, có thể chấp nhận được so với thu

nhập của họ. Đây là một nghịch lý mà các quốc gia và các tổ chức quốc tế đang

phải đối mặt. Độc quyền sáng chế dẫn đến hạn chế khả năng chi trả và tiếp cận đối

với những dược phẩm đã được cấp bằng sáng chế. Cộng đồng quốc tế đã thừa nhận

rằng cần phải đặt ra giới hạn cho bảo hộ sáng chế, đặc biệt là khi liên quan đến sức

khỏe và đời sống con người. Cuộc khủng hoảng y tế công cộng trên thế giới và thực

tế tiếp cận với các loại thuốc hiện nay của người dân cần được các cơ quan quản lý

nhà nước đặc biệt chú ý trong xây dựng và thực thi luật sở hữu trí tuệ.

Việc cân bằng quyền và lợi ích giữa các công ty dược phẩm và người bệnh

trong vấn đề tiếp cận dược phẩm được bảo hộ theo pháp luật sáng chế nhằm đảm

bảo chất lượng, số lượng và giá cả hợp lý của dược phẩm, qua đó duy trì và bảo vệ

các quyền con người nói chung là một vấn đề không dễ dàng, phụ thuộc vào điều

kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia. Luận văn đã phân tích mối quan hệ giữa

quyền sáng chế liên quan đến dược phẩm và quyền tiếp cận dược phẩm với quyền

con người; cân bằng quyền sở hữu trí tuệ và quyền tiếp cận dược phẩm về mặt lý

thuyết và thực tiễn qua việc phân tích các quy định của Hiệp định TRIPS; thực tiễn

pháp luật về bảo hộ sáng chế dược phẩm ở một số nước và ở Việt Nam cũng như

các khuyến nghị về xây dựng và sửa đổi pháp luật nhằm đảm bảo cân bằng giữa hai

quyền này.

Yêu cầu bảo hộ sáng chế về sản phẩm dược thường liên quan đến hoạt chất

ở dạng độc lập hoặc cùng với chế phẩm, muối, tiền dược chất, chất đồng phân, v.v.,

hoặc bao gồm một đối tượng riêng rẽ bất kỳ trong số các đối tượng này. Yêu cầu

bảo hộ có thể chỉ bao gồm quy trình sản xuất hoặc cả quy trình sản xuất lẫn sản

phẩm. Ở một số nước, yêu cầu bảo hộ dạng sử dụng có thể được chấp nhận. Đối

với mỗi loại sáng chế dược phẩm cụ thể, các nước yêu cầu khác nhau tùy theo đặc

111

thù của dược phẩm đó.

Hiệp định liên quan đến các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

(TRIPS), một thỏa thuận đa phương rất quan trọng được trong khuôn khổ Tổ chức

Thương mại Thế giới (WTO) ra đời nhằm tăng cường và thống nhất một số khía

cạnh của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại cấp độ toàn cầu. Những bất cập của

việc bảo hộ và các quy định liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong các

văn bản pháp luật quốc tế trước đó đã được cải thiện đáng kể trong Hiệp định

TRIPS. Hiệp định đòi hỏi các nước thành viên phải đảm bảo các tiêu chuẩn bảo hộ

tối thiểu đối với các quyền sáng chế dược phẩm thông qua, và trao quyền quyết định

cách thức thực hiện mục tiêu này cho các nước Thành viên. Hiệp định TRIPS cũng

cung cấp các quy tắc cho việc thực thi quyền sáng chế dược phẩm ở các nước thành

viên như "khách quan và công bằng", "không phức tạp hoặc tốn kém quá mức cần

thiết, hoặc đòi hỏi giới hạn thời gian bất hợp lý hoặc chậm trễ một cách tùy tiện".

Ngoài ra, Hiệp định quy định việc giải quyết tranh chấp liên quan đến Hiệp định

theo thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO và các yêu cầu minh bạch trong đó

buộc các nước thành viên đăng tải, công bố văn bản pháp luật và thông báo các luật

và quy định cho Hội đồng TRIPS hoặc WIPO. Hiệp định TRIPS không phải là một

đạo luật thống nhất, thay vào đó là một thỏa thuận tiêu chuẩn tối thiểu cho phép

thành viên cung cấp bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với sáng chế nói chung và sáng chế

dược phẩm nói riêng ở mức độ cao hơn và cũng để các thành viên tự do xác định

phương pháp thích hợp trong việc thực hiện các quy định của Hiệp định này trong

phạm vi hệ thống pháp luật và thực thi của mình. Hiệp định TRIPS cũng cho phép

các quốc gia giới hạn các bằng sáng chế ở một số khía cạnh bằng các quy định linh

hoạt. Ví dụ, Hiệp định TRIPS tuyên bố một cách rõ ràng rằng nó không giải quyết

vấn đề nhập khẩu song song, do đó các nước được tự do quyết định chính sách của

mình trong lĩnh vực này. Những linh hoạt mà TRIPS quy định có thể được sử dụng

để kéo dài thời gian cho các nước thực hiện chính sách y tế công cộng và sản xuất

các loại thuốc giá cả phải chăng hơn.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã điều chỉnh vấn đề bảo hộ sáng chế dược

phẩm trong pháp luật nội địa của mình từ rất sớm và dần hoàn thiện theo thời gian.

Tại Hoa Kỳ, Luật Khôi phục thời hạn sáng chế và cạnh tranh giá thuốc 1984 thường

112

được biết đến với tên gọi Luật Hatch-Waxman đã tạo ra một số thay đổi quan trọng

về pháp luật sáng chế được thiết kế để khuyến khích sự cải tiến trong ngành công

nghiệp dược phẩm cũng như tạo thuận lợi cho việc giới thiệu nhanh chóng các loại

thuốc giá rẻ. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Luật về bảo hộ

sáng chế ra đời muộn hơn, cụ thể là vào năm 1992. Ở Ấn Độ, ngành công nghiệp

dược phẩm đã thực sự thành công trong việc đảm bảo rằng những loại thuốc cần

thiết đến với đại đa số người dân ở một mức giá hợp lý bằng cách Chính phủ đã

cấm việc bảo hộ sáng chế đối với các sản phẩm dược phẩm trong một thời gian dài

từ năm 1970 đến năm 2005. Kết quả là ngành công nghiệp sản xuất các loại thuốc

đồng dạng rất phát triển ở Ấn Độ. Tại Trung Quốc, Luật về bằng độc quyền sáng

chế chính thức có hiệu lực từ năm 1985, tuy nhiên các quy định liên quan đến bảo

hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm mới chỉ được đưa vào thực thi kể từ năm

1993. Hiện nay, một trong những khía cạnh liên quan đến bảo hộ sáng chế dược

phẩm mà Trung Quốc đang nỗ lực hoàn thiện đó là bảo hộ sáng chế đối với các loại

thuốc truyền thống. Nhìn chung, pháp luật của các nước, đặc biệt là các nước đang

phát triển đều chú trọng tạo điều kiện nâng cao khả năng tiếp cận thuốc cho người

dân bằng các quy định cụ thể, bên cạnh việc đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với

dược phẩm thông qua hệ thống bằng sáng chế.

Ngành dược Việt Nam hiện nay đang phải đối đầu với nhiều khó khăn, thách

thức như doanh nghiệp trong nước có năng lực cạnh tranh còn yếu, thiếu hiểu biết

các quy định về sở hữu trí tu, thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ nhưng phải đối mặt với

các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng khi Chính

phủ cam kết giảm thuế suất thuế nhập khẩu, nới lỏng chính sách với các doanh

nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, số lượng đơn đăng ký cấp bằng sáng chế dược

phẩm do người nộp đơn Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1,6%) trong tổng số đơn xin

cấp bằng sáng chế dược phẩm được nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ. Kết quả là số lượng

bằng sáng chế dược phẩm được cấp cho người nộp đơn Việt Nam rất thấp, vào

khoảng 1,5% trong giai đoạn 2005-2010. Bên cạnh đó, một số loại thuốc tại Việt

Nam hiện nay có giá cao hơn giá bán tại các nước trên thế giới khoảng 40% trong

khi thu nhập bình quân của người dân Việt Nam rất thấp. Các yếu tố chính làm giá

thuốc tại Việt Nam tăng cao bao gồm: cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh; tâm lý

113

người tiêu dùng; thông tin về dược phẩm; công nghệ sản xuất thuốc Việt Nam chưa

phát triển; sự độc quyền trong phân phối thuốc; và bảo hộ sáng chế dược phẩm. Để

duy trì trì cân bằng giữa việc bảo hộ sáng chế và quyền tiếp cận dược phẩm Việt

Nam cần đáp ứng những điều kiện cụ thể về pháp luật, về kinh tế, về công nghệ, về

chính sách… trong đó việc hoàn thiện pháp luật về bảo hộ sáng chế dược phẩm phải

được xem là yếu tố quan trọng và cần tiến hành đồng thời cùng các giải pháp khác.

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật sáng chế của Việt Nam đã được đưa ra

như quy định chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sử dụng sáng chế phù hợp với yêu

cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam; thống nhất quy định về quyền tiếp cận

dược phẩm trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Dược 2005 và Luật Khám,

chữa bệnh năm 2009… Việt Nam cũng được khuyến nghị cần sớm phê chuẩn Nghị

định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS và lựa chọn phương án đàm phán phù hợp dựa

trên các cam kết quốc tế đa phương hiện hành (như Tuyên bố Doha về Hiệp định

TRIPs và sức khỏe cộng đồng năm 2001) đối với nội dung về bảo hộ sáng chế dược

phẩm khi tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do, ví dụ Hiệp định Đối

tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Mâu thuẫn giữa quyền sở hữu trí tuệ (bằng sáng chế) và nhân quyền (quyền

tiếp cận dược phẩm) phần lớn được giải quyết nếu chính phủ quốc gia và cộng đồng

quốc tế thực hiện một cam kết chung. Làm thế nào để thúc đẩy phát triển bền vững

ở các nước đang phát triển hoặc các nước kém phát triển, cũng như làm thế nào để

đảm bảo thực thi các cam kết quốc tế là những thách thức lớn và dài hạn để phổ

114

biến rộng rãi các loại thuốc với giá cả phải chăng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt 1. Lan Anh (2010), “Thuốc đặc trị viêm gan siêu vi được sản xuất tại VN: Vừa

được cấp phép đã bị khiếu nại”.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007

hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi

tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công

nghiệp.

3. Bộ Khoa học và công nghệ, Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN ngày 20 tháng 02

năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày

14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi

hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi,

bổ sung theo Thông tư 13/2010/TT-BKHCN ngày 30/07/2010 và Thông tư

18/2011/TT-BKHCN ngày 22/07/2011.

4. Bộ Y tế (2010), Đề án Quy hoạch chi tiết phát triển công nghiệp dược Việt Nam

giai đoạn đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.

5. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2013), Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí

tuệ 2012, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

6. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2003), Bảo hộ sáng chế - Cẩm nang dành cho

doanh nhân, được dịch từ tài liệu của Japan Patent Office, Asia-Pasific Industrial

Property Center, JIII, “Patent protection, handbook for business persons”.

7. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2008), Cẩm nang về sở hữu trí tuệ: Chính sách,

pháp luật và áp dụng, được dịch từ tác phẩm của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

(WIPO) (2001) “WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use”.

8. Cục Sở hữu trí tuệ (2007), Hội thảo khoa học về “Bảo hộ sáng chế về dược phẩm và bảo vệ dữ liệu thử nghiệm”, phối hợp với Viện Sở hữu trí tuệ Thụy Sỹ tổ chức tại Hà Nội ngày 06/8/2007.

9. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2008), Sáng tạo tương lai (tài liệu giới thiệu về

sáng chế dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ), quyền tác giả đối với bản tiếng

Anh thuộc về Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), tài liệu được phát hành

bằng nguồn tài trợ của Quỹ tín thác WIPO/Nhật Bản và Dự án Việt Nam - Thuỵ

115

Sĩ về sở hữu trí tuệ (SVIP).

10. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Sở hữu trí tuệ - Một công cụ đắc lực để

phát triển kinh tế, được dịch từ tài liệu của ông Kamil Idris, quyền tác giả bản

tiếng Anh thuộc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Tài liệu được phát

hành bằng nguồn tài trợ của Chương trình Hợp tác đặc biệt Việt Nam - Thụy Sĩ

về sở hữu trí tuệ, NXB Bản đồ, Hà Nội.

11. Lê Việt Dũng (2008), Bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm ở Việt Nam,

Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Ngoại Thương.

12. Dự án ECC-Việt Nam về Sở hữu trí tuệ (2000), Thông tin sáng chế và bí mật

thương mại.

13. Lê Thị Nam Giang (2009), “Cân bằng lợi ích của xã hội và lợi ích của chủ sở

hữu trong bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế”, Tạp chí Khoa học

pháp lý.

14. Lê Thị Nam Giang (2009), “Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ

và lợi ích của xã hội trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Khoa học pháp

lý.

15. Lê Thị Nam Giang (2011), “Việt Nam với việc phê chuẩn Nghị định thư sửa

đổi Hiệp định TRIPS - phần 1”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.

16. Lê Thị Nam Giang (2011), “Việt Nam với việc phê chuẩn Nghị định thư sửa

đổi Hiệp định TRIPS - phần 2”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.

17. Lê Thị Nam Giang (2011), “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển

giao quyền sử dụng sáng chế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án

Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

18. Nguyễn Thái Mai và Vũ Thị Phương Lan (2013), Giáo trình Pháp luật quốc tế

về sở hữu trí tuệ, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội.

19. Lê Nết (2005), Quyền sở hữu trí tuệ, Tài liệu bài giảng, NXB. ĐHQG TP. Hồ

Chí Minh.

20. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012), Khuyến nghị phương án

đàm phán Chương Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình

Dương.

21. Quốc hội (2005), Luật Sở hữu trí tuệ.

116

22. Quốc hội (2009), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

23. Quốc hội (2005), Luật Dược.

24. Quốc hội (2004), Luật Canh tranh.

25. Quốc hội (2010), Luật Bảo hộ quyền lợi người tiêu dùng.

26. Quốc hội (2009), Luật Khám bệnh, chữa bệnh.

27. Quy chế thẩm định sáng chế trong lĩnh vực dược: Triển vọng phát triển y tế

cộng đồng.

28. Kiều Thị Thanh (2013), Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ ở Việt

Nam, NXB Chính trị-Hành chính, Hà Nội.

29. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách,

pháp luật và áp dụng.

30. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (1883), Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công

nghiệp.

31. Tổ chức Thương mại thế giới (1994), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến

thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS).

32. Tổ chức Thương mại thế giới (2001), Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPs và

sức khỏe cộng đồng.

33. Điêu Ngọc Tuấn (2004), Bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

theo pháp luật Việt Nam và Cộng hoà Pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội.

34. Nguyễn Thanh Tú - Khoa Luật, Đại học Lund, Thụy Điển và Phan Huy Hồng -

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2011), “Quyền sở hữu trí tuệ và quyền

tiếp cận dược phẩm, quyền con người”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 202

ngày 10/09/2011.

35. Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế và Ủy ban Thương mại quốc gia

Thụy Điển (2005), Tác động của các Hiệp định của WTO đối với các quốc gia

đang phát triển.

36. Văn phòng WHO tại Việt Nam (2010), Báo cáo “Giá thuốc khiến người dân ốm

yếu hơn và nghèo hơn”.

Tiếng Anh 37. Frederick M. Abbott (2002), “The Doha Declaration on The TRIPS Agreement

117

and Public Health: Lightening a Dark Corner in WTO”, Journal of International

Economic Law, Vol.5, issue 2, pp. 480-489.

38. Freddeick M. Abbot (2002), WTO TRIPS agreement and its and its implications

for access to medicines in developing countries, Commision on intellectual

property right.

39. Caidan Cao (2010), “Patent Right and Access to Medicine”, Master

thesis, Faculty of Law Lund University.

40. Central Government of India (1970), The Patents Act, as amended up to Patents

(Amendment) Act, 2005.

41. Grubb, Philip (1999), “Patents for Chemicals, Pharmaceuticals and

Biotechnology: Fundamentals of Global Law, Practice and Strategy”, Oxford

University Press.

42. Japanese Diet (1959), Japan Patent Act, as amended on 2011.

43. Li, Xuan (2008): The impact of higher standards in patent protection for pharmaceutical industries under the TRIPS Agreement: A comparative study of

China and India, Research paper / UNU-WIDER, No. 2008.36.

44. Meeting of the General Counsels‟ Committee, BIO (Biotechnology Industry Association) (2003), Presentation: “TRIPs, Doha, Cancun and Access to Medicines, Boston, MA.

45. Mexican Congress (1991), Mexico Industrial Property Law, as amended up to

January 25, 2006.

46. National Legislative Assembly of Thailand (1979), Patent Act, as amended by

the Patent Act (No. 2) B.E 2535 (1992) and the Patent Act (No. 3) B.E. 2542

(1999).

47. Tu Thanh Nguyen (2009), Competition Law in Technology Transfer under the

TRIPS Agreement Implications for Developing Countries, Lund University.

48. Office of the Federal Register of the United States (2013), “Consolidated Patent

Rules”, Title 37 of Code of Federal Regulations - Patents, Trademarks, and

Copyrights.

49. Office of the Law Revision Counsel of the U.S. House of Representatives

(2013), “Consolidated Patent Laws”, United States Code Title 35 – Patent.

50. Oh C. TRIPS and pharmaceuticals: A Case of Corporate Profits Over Public

118

Health. Editorial. Third World Network.

51. Parliament of the European Union (1973), Convention on the Grant of uropean

Patents (European Patent Convention).

52. Roundtable Participant: “Intellectual Property Protection for Pharmaceuticals: Emerging Issues in the Global Economy,” The Pfizer Journal, Global Edition Volume 1, Number 2 (2000).

53. Wendy H. Schacht, John R. Thomas (2005), Patent Law and Its Application to

the Pharmaceutical Industry: An Examination of the Drug Price Competition

and Patent Term Restoration Act of 1984 (“The Hatch-Waxman Act”), The

Library of Congress, United States.

54. “Secretary-General proposes global fund for the fight against HIV/AIDS and

other infectious diseases at African leaders summit”, SG/SM/7779/Rev.1,

AFR/313/Rev.1-AIDS/7/Rev.1, 26/4/2001.

55. K.R. Sirinivas (2003), “Interpreting Paragraph 6: Deal on Patents and Access

to Drugs”, Economic and Political Weekly, Vol.38, Issue 38.

56. Standing Committee of the National People's Congress of the People‟s Republic

of China (1984), Patent Law, as amended up to the Decision of December 27,

2008, regarding the Revision of the Patent Law of the People‟s Republic of

China.

57. United Nations (2001), Commission on Human Rights Resolution 2001/33,

Access to medication in the context of pandemics such as HIV/AIDS,

.

58. US State Department Program for Latin American Intellectual Property Specialists (2005), Presentation: “Intellectual Property Issues Facing the

Pharmaceutical Industry,” Protecting Intellectual Property Rights in the Global

Marketplace, Washington, DC.

59. WIPO (2003), “Implementation of paragraph 6 of the Doha Declaration on the

TRIPS Agreement and public health”, General Council, WT/L/540 and Corr.1.

60. World Intellectual Property Organization (1883), Paris Convention for the

Protection of Industrial Property, as amended on September 28, 1979.

61. World Intellectual Property Organization (1970), Patent Cooperation Trearty

119

(PCT), as modified on February 3, 1984, and on October 3, 2001.

62. World Intellectual Property Organization (2014), Regulation under the Patent

Cooperation Treaty, as in force from July 1, 2014.

63. World Health Organisation (2008), Improving access to Medicines in Thailand:

The use of TRIPS flexibilities, Report of a WHO Mission, Bangkok.

64. World Intellectual Property Organization (2008), “World patent report”, A

Satictiscal Review, P.18, p.24.

65. World Health Organisation and World Trade Organisation (2002), “WTO

Agreements and Public Health - A Joint study by the WHO and WTO

Secretariat”, Geneva, Switzerland.

66. World Trade Organisation (2001), Statement by South Africa in Council for

Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights, Special discussion on

Intellectual Property and Access to Medicines, IP/C/M/31.

67. World Trade Organization (2000), the Report of the Appeallate Body, Canada-

The term of Patent Protection, WT/DS170/AB/R.

68. World Trade Organisation (2005), The Protocol Amending TRIPs Agreement.

Website

69. http://www.aripo.wipo.net/.

70. http://www.eapo.org/.

71. http://www.epo.org/.

72. http://www.gulf-patent-office.org.sa.

73. http://www.ictsd.org/downloads/2010/01/patentability-criteria-rev.pdf

74. http://www.noip.gov.vn/noip/cms_vn.nsf/vwDisplayContentNews/5D674E61E0

BDF16B47257B4700102234?OpenDocument

75. http://www.jpo.go.jp

76. http://www.oapi.wipo.net/.

77. http://patentscope.wipo.int/search/en/structuredSearch.jsf

78. http://patft.uspto.gov/netahtml/PTO/search-bool.html.

79. http:/www.uspto.gov.

120

80. http://www.wipo.int/