ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐÀO TIẾN QUÂN BẢO HỘ SÁNG CHẾ CHO DƢỢC PHẨM THEO
QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐÀO TIẾN QUÂN BẢO HỘ SÁNG CHẾ CHO DƢỢC PHẨM THEO
QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số
: 60 380108
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN NĂNG
Hà nội - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Sau đại học và Khoa Luật
Quốc tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu chương
trình Thạc sĩ khoá XV tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Phó Giáo sư -
Tiến sĩ Đoàn Năng, Bộ Khoa học và Công nghệ - Giảng viên Khoa Luật, Đại học
Quốc Gia Hà Nội người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành
Luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, cổ
vũ, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Đào Tiến Quân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
có tham khảo các bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác
và có dẫn nguồn cụ thể, các số liệu trích dẫn trong Luận văn hoàn toàn chính xác,
trung thực và có chỉ rõ nguồn.
Luận văn là công trình do tôi tự mình nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp và hoàn
thiện, không sao chép. Kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình khoa học nào khác.
Người cam đoan Đào Tiến Quân
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
9 Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SÁNG CHẾ DƢỢC
PHẨM VÀ BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM
1.1. Khái niệm về sáng chế dược phẩm, bảo hộ sáng chế dược phẩm 9
1.2. Đặc điểm của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm 10
1.3. Các dạng yêu cầu bảo hộ điển hình đối với sáng chế trong lĩnh vực 12
dược
1.4. Tính chất hai mặt của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm 27
1.4.1. Lợi ích của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm 27
1.4.2. Tác động tiêu cực của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm 29
1.5. Ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế cho dược phẩm 31
1.6. Cơ sở pháp lý quốc tế bảo hộ sáng chế dược phẩm 33
36 Chƣơng 2
NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS LIÊN QUAN
ĐẾN BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM
2.1. Khái quát về Hiệp định TRIPS 36
2.2. Các quy định của Hiệp định TRIPS về bảo hộ sáng chế dược phẩm 39
2.2.1. Đối tượng của bảo hộ sáng chế dược phẩm 41
2.2.2. Tiêu chuẩn cấp bằng sáng chế dược phẩm 44
2.2.3. Nghĩa vụ công bố thông tin 47
2.2.4. Ngoại lệ cấp bằng độc quyền sáng chế dược phẩm 49
2.2.5. Nhập khẩu song song 59
2.2.6. Thời hạn bảo hộ sáng chế dược phẩm 64
2.2.7. Quy định về bảo vệ quyền đối với sáng chế dược phẩm 65
2.2.8. Quy định về việc thực thi sáng chế dược phẩm 65
2.2.9. Thời gian chuyển tiếp 69
2.3. Tuyên bố Doha năm 2001 về Hiệp định TRIPS và Y tế công cộng 70
74 Chƣơng 3
THỰC TRẠNG BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM TRÊN THẾ
GIỚI, Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.1. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm trên thế giới 74
3.1.1. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Hoa Kỳ 74
3.1.2. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Thái Lan 75
3.1.3. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Ấn Độ 78
3.1.4. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Trung Quốc 80
3.2. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Việt Nam 81
3.2.1. Tổng quan về ngành dược của Việt Nam 81
3.2.2. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam 84
3.3. Nguyên tắc và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo 90
hộ sáng chế dược phẩm
3.3.1. Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hội sáng chế 90
dược phẩm
3.3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng 94
chế dược phẩm
3.3.2.1. Sửa đổi Điều 136 và Điều 142 Luật SHTT 97
3.3.2.2. Kiến nghị cần có quy định thống nhất trong Luật SHTT năm 97
2005 (sửa đổi năm 2009), Luật khám chữa bệnh năm 2009 và Luật
dược năm 2005.
3.3.2.3 Kiến nghị về việc Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp 99
định TRIPS
3.3.2.4. Các giải pháp khác hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ 105
sáng chế dược phẩm
106
3.3.2.5 Kiến nghị về sáng chế dược phẩm và khuyến nghị đối với Việt Nam trong đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
111 KẾT LUẬN
115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN: Association of South – East Asian Hiệp hội các quốc gia Đông
Nation Nam Á
BBCGQSDSC Bắt buộc chuyển giao quyền
sử dụng sáng chế
“Evergreening” Là chiến lược đăng ký sáng chế bao gồm việc đăng ký sáng chế
cho những biến đổi nhỏ, thường là ít quan trọng, của sản phẩm
dược hoặc quy trình đã biết nhằm kéo dài một cách gián tiếp thời
hạn bảo hộ sáng chế cho hợp chất đã được cấp bằng độc quyền
sáng chế trước đó.
EPO: European Patent Office Cơ quan Sáng chế châu Âu
GPHI: Giải pháp hữu ích
NOIP: National Office of Intellectual Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam
Property (of Vietnam)
Organization for Economic Co- OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển
operation and Development Kinh tế
PCT: Patent Cooperation Treaty Hiệp ước Hợp tác sáng chế
SHTT: Sở hữu trí tuệ
SHCN: Sở hữu công nghiệp
QCN: Quyền con người
Thuốc Generic Thuốc không được bảo hộ
sáng chế
TRIPs: Agreement on Trade-Related Hiệp định về các khía cạnh
Aspects of Intellectual Property liên quan đến thương mại của
Rights quyền sở hữu trí tuệ
USPTO: United States Patent and Cơ quan Sáng chế và Nhãn
Trademark Office hiệu Hoa Kỳ
WIPO: World Intellectual Property Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
Organization
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
1. Danh mục bảng
Bảng 3.1. Đơn sáng chế nộp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010 84
Bảng 3.2. Đơn Giải pháp hữu ích nộp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010 84
Bảng 3.3. Bằng độc quyền sáng chế cấp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010 85
Bảng 3.4. Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích cấp tại Việt Nam từ năm 2005 85
tới 2010
2. Danh mục sơ đồ, biểu đồ
Biểu đồ 83 Dự báo tiền thuốc sử dụng sau 5 năm tại Việt Nam (các năm 2003-2014) 3.1.
Biểu đồ Dự báo thị trường dược phẩm Việt Nam (các năm 2002-2013) 83 3.2.
Biểu đồ Mối quan hệ giữa tổng số đơn sáng chế và đơn sáng chế dược 86 3.3. phẩm nộp tại Việt Nam (từ 2005 tới 2010)
Biểu đồ Mối quan hệ giữa tổng số đơn sáng chế và đơn sáng chế dược 87 3.4. phẩm nộp tại Việt Nam của người Việt Nam (từ 2005 tới 2010)
Biểu đồ Số lượng đơn sáng chế dược phẩm nộp tại Việt Nam (từ 2005 tới 88 3.5. 2010)
Biểu đồ 88 Số lượng Bằng độc quyền sáng chế dược phẩm được cấp tại Việt Nam (từ 2005 tới 2010) 3.6.
Biểu đồ Số đơn nộp và số bằng cấp ra trong lĩnh vực dược phẩm tại Việt 89 3.7. Nam (Từ 2005 tới 2010)
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc bảo hộ sáng chế tác động mạch mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh những tác động tích cực, bảo hộ sáng chế cũng có những ảnh hưởng tiêu
cực nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc bảo hộ sáng chế trở thành thách thức lớn
cho các quốc gia đang phát triển khi phải thực hiện các cam kết rất cao trong WTO
về bảo hộ quyền SHTT theo tiêu chuẩn của hiệp định TRIPS.
Với việc tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập năm 1994, một
điều ước toàn diện nhất về quyền sở hữu trí tuệ đã ra đời: Hiệp định về các khía
cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (TRIPS). Hiệp định này đầu tiên
gắn kết các vấn đề về SHTT và thương mại và cung cấp một cơ chế đa phương cho
việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. Hiệp định TRIPS yêu cầu tất cả các
thành viên WTO phải đưa vào luật của quốc gia mình những tiêu chuẩn quốc tế tối
thiểu cho hầu hết các quyền trong lĩnh vực này, như bản quyền tác giả, độc quyền
đối với sáng chế và nhãn hiệu. Hiệp định đã cơ bản hạn chế các quốc gia tự do thiết
lập và thi hành hệ thống sở hữu trí tuệ của họ. Theo Hiệp định, tất cả các nước
thành viên WTO buộc phải thực hiện thời hạn bảo hộ tối thiểu là 20 năm cho bất kỳ
sáng chế dược phẩm hay quy trình sản xuất dược phẩm nào đạt các tiêu chuẩn về
tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng. Nghĩa vụ này không được quy định
trong các điều ước quốc tế trước đó, vì không điều ước nào quy định các chuẩn mực
tối thiểu cho quyền SHTT. Trước khi đàm phán Hiệp định TRIPS, hơn 50 quốc gia
không bảo hộ các sáng chế dược, nhiều nước chỉ bảo hộ quy trình chứ không bảo hộ
sản phẩm, còn ở nhiều nước khác thì thời hạn bảo hộ sáng chế không đến 20 năm.
Phải thừa nhận rằng cơ chế hiện tại về bảo hộ sáng chế, vốn đã được “toàn
cầu hóa” theo Hiệp định TRIPS, có ảnh hưởng không nhỏ đến lĩnh vực dược.
Nhưng có thể thấy rằng các tiêu chuẩn của TRIPS không hẳn đã phù hợp với các
quốc gia đang cố gắng để đáp ứng các nhu cầu về y tế và phát triển. Do đó, Ủy ban
1
SHTT Anh (CIPR) trong báo cáo năm 2002 đã cảnh báo các quốc gia “phải đảm
bảo cơ chế bảo hộ quyền SHTT của họ không đi ngược lại các chính sách y tế cộng
đồng, và phải mang tính phù hợp và hỗ trợ cho những chính sách đó”.
Chúng ta có thể thấy thế giới chưa bao giờ có được một phương pháp điều trị
hàng loạt để chữa trị những căn bệnh mà con người đang phải chịu đựng. Trong khi
đó, nhiều người chết vì thiếu một số thuốc hoặc vacxin nào đó. Điều này không chỉ
đúng đối với các bệnh mới phát hiện như Ebola, bò điên, SARS, cúm tuýp A/H5N1,
cúm tuýp A/H1N1… mà còn đúng đối với những mối đe dọa nghiêm trọng từ sự
kháng thuốc trong các căn bệnh chết người như AISD, lao, viêm màng não, viêm
phổi.
Để phát triển những loại thuốc mới, phải có một cơ chế thúc đẩy đổi mới và
phát triển sản phẩm mới, trong khi cùng lúc phải đảm bảo rằng người bệnh có thể
nhanh chóng tiếp cận được thành quả của những nghiên cứu này.
Việc thông qua tuyên bố Bộ trưởng Doha về Hiệp định TRIPS và Sức khỏe
cộng đồng là kết quả của mối quan tâm ngày càng gia tăng về cách mà các hiệp
định thương mại quốc tế, nhất là Hiệp định TRIPS của WTO có thể hạn chế khả
năng tiếp cận thuốc. Tuyên bố đã ghi một dấu ấn quan trọng trong cuộc chiến giữa
quyền SHTT và quyền tiếp cận thuốc, bằng việc khẳng định rằng Hiệp định TRIPS
có thể được hiểu và được thực hiện theo cách hỗ trợ các quốc gia có thể áp dụng các
biện pháp để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy khả năng tiếp cận thuốc. Một
quy định linh hoạt TRIPS nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy khả năng
tiếp cận thuốc. Một quy định linh hoạt quan trọng trong lĩnh vực này là các nước
thành viên WTO có quyền xác định các tiêu chí bảo hộ như quy định trong TRIPS
sao cho phù hợp với những đặc điểm riêng của quốc gia mình. Đây có thể là một
công cụ hữu hiệu nhằm thúc đẩy những dược phẩm thực sự mới và có trịnh độ sáng
tạo.
Lĩnh vực dược là một trong số các lĩnh vực kỹ thuật chính trong hệ thống
đăng ký bảo hộ sáng chế. Trong khi chỉ có một số lượng nhỏ và ngày càng cắt giảm
- các thực thể hóa học mới được cấp đăng ký lưu hành mỗi năm, thì có đến hàng
nghìn đơn đăng ký sáng chế được nộp nhằm mục đích bảo hộ các biến thể khác
nhau của sản phẩm, quy trình sản xuất vốn đã tồn tại, hoặc nếu được cấp phép, là
2
bảo hộ cho các chỉ định thứ lần thứ hai của sản phẩm dược đã biết.
Do bằng độc quyền sáng chế mang lại độc quyền cho việc sản xuất, bán và
sử dụng đối tượng được bảo hộ, nên chúng có thể được sử dụng để hạn chế cạnh
trạnh và đưa ra giá bán cao hơn với giá trị của nó trong trường hợp có các sản phẩm
cạnh tranh. Đây là mục đích chính của hệ thống bảo hộ sáng chế, một hệ thống nhìn
chung được coi là cần thiết để khuyết khích đầu tư nhằm phát triển các sản phẩm và
quy trình mới.
Việc bảo hộ sáng chế có thể ảnh hưởng đáng kể đến cạnh tranh và theo đó là
giá thuốc, nên các tiêu chuẩn được áp dụng trong công tác thẩm định và cấp bằng
độc quyền đối với sáng chế trong lĩnh vực dược không những có liên quan đến
chính chính sách bảo hộ sáng chế và công nghiệp, mà còn liên quan mật thiết dến
chính sách y tế cộng đồng. Các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực y tế, cần
nhận thức được rằng các quyết định liên quan tới việc cấp bằng độc quyền sáng chế
(được coi là có hiệu lực cho đến khi có bằng chứng để hủy bỏ hiệu lực) có thể tác
động trực tiếp tới công tác y tế và đời sống của nhân dân ở quốc gia nơi sáng chế
được bảo hộ và thực thi.
Ở Việt Nam Công nghiệp dược vẫn phát triển ở mức trung bình - thấp, chưa
sáng chế được thuốc mới và hiện chỉ có hơn 52% doanh nghiệp dược đủ tiêu chuẩn
sản xuất thuốc. Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là thuốc đồng dạng (generic),
không có giá trị cao, mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc nội địa.
Nguyên liệu phải nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Ấn Độ, khiến cho các doanh
nghiệp dược trong nước phải đối mặt với các khó khăn về giá. Trình độ công nghệ
thấp trong khi nguồn nhân lực có trình độ còn ít, cản trở việc tiếp cận công nghệ, cải
thiện quy mô sản xuất của công nghiệp dược trong nước. Bên cạnh đó, đặc biệt
quan trọng trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế dược phẩm là cân bằng lợi ích giữa chủ
sở hữu sáng chế và lợi ích của xã hội, lợi ích quốc gia là nguyên tắc cơ bản, xuyên
suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng như thực thi pháp luật trên
thực tế. Việc tăng cường bảo hộ mạnh quyền SHTT khi Việt Nam hội nhập sâu vào
quá trình toàn cầu hóa sẽ mang đến cho Việt Nam nhiều thách thức hơn là cơ hội.
Xuất phát từ thực tế trên, là học viên cao học chuyên ngành Luật Quốc tế,
học viên đã lựa chọn đề tài: “Bảo hộ sáng chế cho dược phẩm theo quy định của
3
hiệp định TRIPS” cho luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
2.1. Trên thế giới:
Trên thế giới khái niệm “bảo hộ sáng chế” đã ra đời từ rất sớm. Nhưng đối
với “bảo hộ sáng chế dược phẩm” thì trong lịch sử, bằng sáng chế đối với sản phẩm
này đã bị loại trừ ở các nước phát triển nhất. Ở Pháp, bảo vệ bằng sáng chế dược
phẩm bị pháp luật cấm từ ngày 5/7/1844 và mãi đến ngày 2/1/1966 Pháp luật mới
phát triển và giới hạn bằng sáng chế đối với sản phẩm này. Ở Đức, bằng sáng chế
với dược phẩm đã bị loại trừ theo Luật từ ngày 25/5/1877 và chỉ được pháp luật bảo
hộ lại từ ngày 4/9/1967. Tại Thụy Sĩ, bằng sáng chế cho sản phẩm dược đã bị cấm
trong Hiến pháp trong một thời gian dài và chỉ được giới thiệu vào năm 1977. Ở Ý,
bằng sáng chế dược phẩm đã bị cấm đến năm 1978. Còn ở Tây Ban Nha, bằng sáng
chế dược phẩm đã được giới thiệu vào năm 1986 như một hệ quả cho việc gia nhập
vào cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC). Tương tự, sản phẩm dược được cấp bằng
sáng chế cũng bị loại trừ ở các nước đang phát triển. Gần 50 nước đang phát triển
không cấp bằng bảo hộ cho các loại thuốc cho đến khi vòng đám phán Urugoay đã
bắt đầu vào năm 1986 và thật sự phát triển khi Hiệp định TRIPS ra đời, và những
năm gần đây nó đã thật sự bùng nổ mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi [44, tr.4]. Hàng
loạt công trình nghiên cứu được công bố tại các hội thảo:
- Presentation: “Intellectual Property Issues Facing the Pharmaceutical
Industry,” Protecting Intellectual Property Rights in the Global Marketplace, US
State Department Program for Latin American Intellectual Property Specialists,
Washington, DC, June 16, 2005 (Trình bày: "Đối mặt với vấn đề sở hữu trí tuệ công
nghiệp dược phẩm," Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong các thị trường toàn cầu,
Chương trình của Bộ Ngoại giao Mỹ cho chuyên gia người Mỹ Latin về Sở hữu trí
tuệ, Washington, DC, 16 tháng sáu năm 2005);
- Presentation: “TRIPs, Doha, Cancun and Access to Medicines,” Meeting of
the General Counsels‟ Committee, BIO (Biotechnology Industry Association),
Boston, MA, October 20, 2003 (Trình bày: "TRIPs, Doha, Cancun và tiếp cận
thuốc," Hội nghị của Ủy ban Tư vấn, BIO (Hiệp hội Công nghiệp Công nghệ sinh
4
học), Boston, MA, ngày 20 Tháng Mười năm 2003);
- Roundtable Participant: “Intellectual Property Protection for
Pharmaceuticals: Emerging Issues in the Global Economy,” The Pfizer Journal,
Global Edition Volume 1, Number 2 (2000). (Hội nghị bàn tròn: " Bảo vệ sở hữu trí
tuệ cho dược phẩm: Những vấn đề đang nổi lên trong nền kinh tế toàn cầu," Tạp chí
Pfizer, Global Edition Volume 1, số 2 (2000);
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc bảo hộ sáng chế cho các sản phẩm
dược, các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Canada… đã ban hành những đạo
luật riêng về vấn đề này như Luật sáng chế dược…Các quốc gia đông dân nhất thế
giới như Trung Quốc, Ấn độ, Indonexia và cả Thái Lan, cũng đã ban hành những
đạo luật riêng.
2. Tại Việt Nam:
Việc bảo hộ độc quyền đối với sáng chế được thực hiện từ năm 1981 với
việc ban hành Nghị định số 31/CP về điều lệ sáng kiến cải tiến kỹ thuật - hợp lý hóa
sản xuất và sáng chế. Đây cũng là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam đề cập
đến việc bảo hộ sáng chế. Tuy nhiên, phải đến năm 1984 đơn đăng ký sáng chế về
dược phẩm đầu tiên mới được thực hiện bởi Viện Dược liệu đăng ký cho phương
pháp điều chế diosgenin. Từ đó đến nay, các sản phẩm như hợp chất hoá học sử
dụng làm thuốc, hỗn hợp các hợp chất, dược phẩm đều được đăng ký dưới dạng
sáng chế. Ngoài ra, các quy trình như: Quy trình điều chế hợp chất, quy trình bào
chế dược phẩm, quy trình chiết hoạt chất từ dược liệu cũng được bảo hộ dưới dạng
Bằng độc quyền sáng chế. Sự gia tăng về số lượng đơn đăng ký sáng chế liên quan
đến lĩnh vực dược phẩm chỉ bắt đầu từ năm 1995, khi Việt Nam tham gia Hiệp ước
Hợp tác về sáng chế (Hiệp ước PCT) ngày 10.3.1993. Từ đó đến nay, Cục Sở hữu
trí tuệ đã nhận được 4.214 đơn đăng ký sáng chế liên quan đến lĩnh vực dược phẩm,
nhưng trong đó khoảng 90% đơn của người nước ngoài [8]. Đây là những bước đầu
tiên trên con đường hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam, các tập đoàn dược của
Việt Nam cũng đang rất chú trọng trong việc bảo hộ sáng chế cho các sản phẩm
dược do mình tạo ra. Bảo hộ sáng chế cho dược phẩm đã thu hút được sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều cơ quan, các nhà khoa học, các chuyên gia cũng như các cơ sở
đào tạo Luật như đề tài “Tác động của các cơ chế về quyền sở hữu trí tuệ (IPR) đối
5
với giá dược phẩm ở Việt Nam - Việc áp dụng mô hình ảnh hưởng của IPR” do
nhóm nghiên cứu, bao gồm: TS Trịnh Hòa Bình, TS Trần Văn Hải, ThS Vũ Thị
Hiệp, ThS Nguyễn Thị Thúy Nga thực hiện với sự tài trợ của Tổ chức Y tế Thế giới
và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Xã hội học. Bên cạnh đó cũng có các
cuộc hội thảo: Ngày 28/10/2011, tại Hà Nội, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ
(KH&CN) đã phối hợp với Dự án USAID/STAR Việt Nam tổ chức Hội thảo thực
thi quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm; ngày 06/08/2007, tại Hà Nội,
Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp Dự án Việt Nam - Thụy
Sỹ về sở hữu trí tuệ tổ chức hội thảo "Bảo hộ sáng chế về dược phẩm và bảo vệ dữ
liệu thử nghiệm"…
3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu đề tài: “Bảo hộ sáng chế cho dược phẩm theo quy định của Hiệp
định TRIPS” giúp chúng ta làm rõ những vấn đề sau đây:
- Hệ thống các quy định của pháp luật quốc tế (đặc biệt là trong Hiệp định
TRIPS) liên quan đến bảo hộ sáng chế dược phẩm.
+ Các quy định trong Hiệp định TRIPS về bảo hộ sáng chế dược phẩm, các
điều ước quốc tế khác quy định về bảo hộ sáng chế dược phẩm.
+ Các quy định pháp luật quốc gia về vấn đề bảo hộ sáng chế dược phẩm,
tình hình xây dựng pháp luật về bảo hộ sáng chế dược phẩm để thấy được thực
trạng của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm. Công nghiệp dược phẩm đang được sự
quan tâm của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, việc nắm chắc các quy định
của pháp luật quốc tế và pháp luật của quốc gia khác sẽ tạo điều kiện cho việc áp
dụng và thực thi vấn đề này ở Việt Nam.
+ Các quan điểm của các chuyên gia, các nhà khoa học trên thế giới về vấn
đề bảo hộ sáng chế đối với dược phẩm.
- Căn cứ lý luận cho việc xây dựng pháp luật về vấn đề bảo hộ sáng chế dược
phẩm cho Việt Nam. Như chúng ta đã biết thì Việt Nam chưa có Luật sáng chế hay
Luật bằng sáng chế dược phẩm riêng. Với xu hướng phát triển của nền kinh tế như
hiện nay thì ban hành một đạo luật riêng cho lĩnh vực này có cần thiết đối với Việt
Nam.
- Đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật Việt Nam khi tham gia
6
vào sân chơi WTO trong đó có hiệp định TRIPS, Nghị định thư sửa đổi TRIPS,
Hiệp định TPP để thấy được những mặt tích cực và tiêu cực đối với vấn đề bảo hộ
sáng chế cho Dược phẩm.
4. Điểm mới của đề tài:
Thế kỷ XXI, với sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của công nghệ sinh
học - di truyền trong đó có công nghiệp dược phẩm. Việc bảo hộ sáng chế đối với
các sản phẩm Dược sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh hơn cho các công ty kinh
doanh trong lĩnh vực này. Hiện nay vẫn còn những tranh cãi xung quanh việc quy
định thời hạn bảo hộ sáng chế dược phẩm. Hội đồng TRIPS đã và đang thảo
luận/tham vấn/đàm phán trong vấn đề bảo hộ sáng chế dược phẩm theo hiệp định
TRIPs. Chính vì vậy vòng đàm phán Doha ra đời để bước đầu giải quyết những
khúc mắc cho các nước chậm phát triển (Tuyên bố Doha về hiệp định TRIPs và sức
khỏe cộng đồng ngày 14.11.2001). Hiện nay trên thế giới nhiều có cuộc hội thảo
quốc tế để giải quyết những vấn đề được đề cập trên, nhưng những tranh cãi vẫn
chưa đi đến hồi kết. Tại Việt Nam đang bắt đầu những bước đi, hơn 90% đơn nộp
bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược là của người nước ngoài, đây cũng là một thực
trạng đáng báo động cho ngành công nghiệp dược phẩm ở Việt Nam. Tại Việt Nam
vẫn chưa có các công trình nghiên cứu chuyên về lĩnh vực trên. Trong khi đó trên
thế giới và các quốc gia lân cận bên cạnh chúng ta như Trung Quốc, Indonexia, Ấn
độ đã ban hành những đạo luật riêng để điều chỉnh trực tiếp. Chính vì thế Việt Nam
rất cần một khung pháp lý trực tiếp để điều chỉnh lĩnh vực này.
Vì vậy, ngoài việc hệ thống và cập nhập kiến thức, tác giả còn đặt mục tiêu
đưa ra một số kiến nghị cho việc bảo hộ sáng chế dược phẩm theo quy định của
pháp luật Việt Nam. Tác giả sẽ đánh giá lại những mặt tích cực và tiêu cực của việc
bảo hộ sáng chế dược phẩm, thực trạng ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên,
điểm mới của nghiên cứu mà tác giả mong muốn đó là chính là việc cung cấp một
cái nhìn tổng quát nhất về vấn đề bảo hộ sáng chế dược phẩm theo quy định của
Hiệp định TRIPS, thực trạng trên thế giới và Việt Nam để từ đó tác giả có những
kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ sáng chế cho
dược phẩm. Hiện nay ở nước ta chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về
vấn đề này.
7
5. Mục đích, đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn:
5.1. Mục đích nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là xác định hay đưa ra cái nhìn tổng quát
nhất về những quy định của Hiệp định TRIPs với việc bảo hộ sáng chế dược phẩm
và tác động của hiệp định TRIPs trong việc bảo hộ sáng chế dược phẩm đối với các
quốc gia trên thế giới cũng như Thực trạng của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm.
- Đồng thời, bằng những lập luận, phân tích khoa học, tác giả sẽ đề xuất
những quan điểm, phương hướng và kiến nghị cụ thể cho việc xây dựng pháp luật
về vấn đề bảo hộ sáng chế cho dược phẩm.
5.2. Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế về bảo hộ sáng chế dược phẩm gồm:
Hiệp định TRIPs, các điều ước quốc tế khác, các văn bản pháp luật quốc gia điều
chỉnh về vấn đề này.
Các quan điểm của các chuyên gia về vấn đề Bảo hộ sáng chế dược phẩm
theo quy định của Hiệp định TRIPs.
5.3. Phương pháp nghiên cứu:
5.3.1. Phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài luận này dựa trên phương
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
5.3.2 Phương pháp cụ thể: Phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh đối
chiếu, phương pháp phân tích.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu thành ba Chương với những nội dung cơ bản sau:
Chương I. Một số vấn đề lý luận chung về sáng chế dược phẩm và bảo hộ
sáng chế dược phẩm
Chương II. Nội dung các quy định của hiệp định TRIPS liên quan đến sáng
chế dược phẩm và bảo hộ sáng chế dược phẩm
Chương III. Thực trạng bảo hộ sáng chế dược phẩm trên thế giới, ở Việt
8
Nam và một số kiến nghị
Chƣơng I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM VÀ BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM
1.1. Khái niệm về sáng chế dƣợc phẩm, bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:
Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization -
WIPO) đưa ra khái niệm:
- “Sáng chế” nghĩa là một giải pháp cho một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực công nghệ. Sáng chế có thể liên quan tới một sản phẩm hay một quy trình.Việc bảo
hộ bằng độc quyền sáng chế bị giới hạn về mặt thời gian (thường là 20 năm)”.
- Bằng độc quyền sáng chế (patent) là một văn bằng do quốc gia cấp dựa trên
cơ sở đơn yêu cầu bảo hộ, trong đó mô tả một sáng chế và thiết lập một điều kiện
pháp lý mà theo đó sáng chế đã được cấp bằng độc quyền chỉ có thể được khai thác
một cách bình thường (sản xuất, sử dụng, bán, nhập khẩu) với sự cho phép của chủ
sở hữu bằng độc quyền sáng chế [7].
Theo Wikipedia, dược phẩm hay thuốc là những chất dưới dạng đơn chất
hoặc hỗn hợp có nguồn gốc rõ ràng, được dùng cho người hoặc sinh vật để chẩn
đoán phòng và chữa bệnh, hạn chế hoặc thay đổi điều kiện bệnh lý hay sinh lý.
Khoản 2 Điều 2 Luật dược Quy định: “Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất
dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều
chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc,
vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng” [23].
Từ định nghĩa sáng chế và dược phẩm ta có thể đưa ra định nghĩa sáng chế
dược phẩm như sau: Sáng chế dược phẩm là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sáng chế
hoặc quy trình nhằm phục vụ phục vụ trong lĩnh vực y tế về bằng việc ứng dụng các
quy luật tự nhiên.
Sáng chế là một trong các đối tượng truyền thống của quyền SHCN. Công
ước Paris quy định rõ đối tượng của quyền SHCN bao gồm: “sáng chế, mẫu hữu
ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại,
9
chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh không lành mạnh” [60], sau này bổ sung thêm “bố trí mạch tích hợp bán dẫn”.
Bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế (hay nói một cách ngắn gọn là bảo hộ
sáng chế) được hiểu một cách khái quát là việc nhà nước thông các quy định của
pháp luật xác lập, duy trì quyền cho các tổ chức và cá nhân đối với sáng chế và bảo
vệ quyền đó chống lại sự xâm phạm từ các chủ thể khác.
Từ đó ta có thể định nghĩa bảo hộ sáng chế dược phẩm như sau: Bảo hộ sáng
chế dược phẩm là việc nhà nước thông qua hệ thống pháp luật nhằm xác lập quyền
của chủ thể đối với sáng chế dược phẩm của họ thông qua hình thức cấp bằng độc
quyền sáng chế và bảo vệ quyền đó, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ
ba.
1.2. Đặc điểm của việc bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:
Thứ nhất, để được pháp luật bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế dược phẩm,
giải pháp kỹ thuật phải được cấp văn bằng bảo hộ. Nói cách khác, thủ tục đăng ký
sáng chế dược phẩm là một thủ tục bắt buộc nhằm xác lập quyền đối với sáng chế
dược phẩm. Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ các sáng chế dược phẩm đã được cấp văn
bằng bảo hộ. Để được cấp văn bằng bảo hộ, giải pháp kỹ thuật phải đáp ứng ít nhất
hai điều kiện: (i) điều kiện về tiêu chuẩn bảo hộ (tiêu chuẩn sáng chế); (ii) không
thuộc các trường hợp không được pháp luật bảo hộ. Tiêu chuẩn sáng chế được thừa
nhận rộng rãi trong các hệ thống pháp luật trên thế giới là tính mới, tính sáng tạo
(tính không hiển nhiên), khả năng áp dụng công nghiệp (tính hữu ích). Bên cạnh đó,
pháp luật các nước trong đó có Việt Nam quy định các đối tượng không được pháp
luật bảo hộ sáng chế. Đây cũng là vấn đề được thừa nhận từ pháp luật quốc tế. Điều
27 khoản 2 Hiệp định TRIPS khẳng định: “Các thành viên có thể loại trừ không cấp
bằng độc quyền sáng chế cho những sáng chế dược phẩm cần phải bị cấm khai thác
nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng
hoặc đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người và động
vật hoặc thực vật hoặt để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, với điều
kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì lý do duy nhất là việc khai thác
các sáng chế tương ứng bị pháp luật của nước đó ngăn cấm”. Ngoài ra, Khoản 3
Điều 27 Hiệp định liệt kê một số đối tượng mà các quốc gia thành viên có quyền
không cấp bằng độc quyền sáng chế. Tại Việt Nam, Điều 8 Luật SHTT Việt Nam
10
đã khẳng định chính sách của nhà nước Việt Nam là “không bảo hộ các đối tượng
SHTT trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”.
Bên cạnh quy định chung, Điều 59 Luật SHTT đã loại trừ một số đối tượng không
được bảo hộ với danh nghĩa là sáng chế. Nếu một giải pháp kỹ thuật đáp ứng các
điều kiện bảo hộ mà pháp luật quy định thì trên cơ sở đơn yêu cầu của người có
quyền, văn bằng bảo hộ sẽ được cấp.
Có hai hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế được pháp luật ghi nhận. Thứ
nhất, bảo hộ độc quyền sáng chế dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế. Bằng
độc quyền sáng chế là một văn bằng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên
cơ sở một đơn yêu cầu bảo hộ trong đó mô tả sáng chế và thiết lập điều kiện pháp lý
mà theo đó sáng chế được bảo hộ chỉ có thể được khai thác bình thường với sự cho
phép của chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế [7]. Hình thức thứ hai là cấp giấy
chứng nhận quyền tác giả sáng chế. Theo đó, quyền tác giả đối với sáng chế thuộc
về người được cấp văn bằng còn quyền sở hữu sáng chế thuộc về nhà nước, do đó,
tác giả sáng chế không có độc quyền đối với sáng chế. Hình thức bảo hộ sáng chế
này được ghi nhận trong pháp luật một số nước xã hội chủ nghĩa như CHLB Xô
Viết, Tiệp Khắc, Cu Ba, Mông Cổ và một số nước đang phát triển khác, Việt Nam
trước năm 1989. Tuy nhiên, hiện nay, Hiệp định TRIPS đã yêu cầu tất cả các nước
thành viên của WTO phải bảo hộ sáng chế dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng
chế.
Thứ hai của việc bảo hộ sáng chế dược phẩm là chủ sở hữu sáng chế chỉ
được thực hiện các quyền của mình trong phạm vi (phạm vi lãnh thổ, phạm vi
quyền được thực hiện trong yêu cầu bảo hộ) được xác định trong văn bằng bảo hộ.
Ngoài phạm vi đó, bất cứ ai trong xã hội cũng có quyền khai thác sáng chế mà
không cần sự cho phép của chủ sỡ hữu sáng chế.
Thứ ba, việc bảo hộ sáng chế dược phẩm chỉ được giới hạn trong một thời
gian nhất định theo quy định của pháp luật và được xác định cụ thể trong bằng độc
quyền quyền sáng chế. Hiện nay, theo yêu cầu của Hiệp định TRIPS, thời gian này
tối thiểu là 20 năm kể từ ngày nộp đơn. Khi hết thời hạn bảo hộ, bất cứ chủ thể nào
trong xã hội đều có quyền tự do khai thác sáng chế.
Thứ tư, trong những trường hợp được pháp luật quy định, nhà nước có quyền
11
cấm hoặc hạn chế người nắm quyền độc quyền sáng chế dược phẩm thực hiện
quyền của mình hoặc bắt buộc người nắm độc quyền sáng chế chuyển giao quyền
sử dụng sáng chế dược phẩm cho chủ thể khác. Vấn đề này được quy định trong
Hiệp định TRIPS và trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
1.3. Các dạng yêu cầu bảo hộ điển hình đối với sáng chế trong lĩnh vực
dƣợc:
1.3.1 Chế phẩm và hợp phần:
Cùng một hoạt chất có thể được bào chế thành các dược phẩm dạng liều khác
nhau như viên nén, viên nang, thuốc mỡ hoặc dung dịch nước để dùng ngoài đường
tiêu hóa, và các dược phẩm dạng liều này có thể bào chế bằng cách sử dụng các tá
dược dược dụng khác nhau.
Có rất nhiều sáng chế yêu cầu bảo hộ chế phẩm chứa được chất mới hoặc
dược chất đã tồn tại, trong đó thường bao gồm các dấu hiệu về liều lượng và nồng
độ, dưới dạng điểm độc lập hoặc điểm phụ thuộc ngoài các điểm yêu cầu bảo hộ
cho hoạt chất hay việc sử dụng hoạt chất. “Yêu cầu bảo hộ dưới dạng hợp phần”
bao gồm dấu hiệu về hoạt chất và chất mang hoặc tá dược dược dụng, như chất độn,
chất kết dính, chất gây rã và chất gây trơn chảy.
Các bằng độc quyền sáng chế được cấp trên cơ sở yêu cầu bảo hộ dạng chế
phẩm hoặc hợp phần không bảo hộ cho bản thân hoạt chất, và các chế phẩm hợp
phần khác nhau chứa cùng hoạt chất - nếu đã hết thời hạn bảo hộ - có thể được
thương mại hóa bởi các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, các bằng độc quyền sáng chế
loại này lại có thể được dùng để ngăn cản cạnh tranh thông qua quá trình tranh tụng
mang tính „chiến lược‟, theo đó, bằng việc tuyên bố các hành vi xâm lược và yêu
cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để phong tỏa hoạt động thương mại
cho tới khi phán quyết cuối cùng được đưa ra.
Yêu cầu bảo hộ dạng chế phẩm hoặc hợp phần được chấp nhận bởi một số cơ
quan sáng chế với những điều kiện nhất định, trong số đó, Cơ quan sáng chế Anh là
một ví dụ (xem trích dẫn 1).
Trong một số trường hợp, một chế phẩm được yêu cầu bảo hộ cụ thể liên
quan đến một số hiệu quả nhất định, như giải phóng có kiểm soát được chất vào
máu chẳng hạn. Việc đạt được hiệu quả như vậy thường nằm trong phạm vi kỹ năng
12
thông thường của người có kiến thức về bào chế thuốc, trừ những trường hợp ngoại
lệ, như việc sử dụng một tá dược hiệu quả thực sự bất ngờ, ví dụ làm giảm đáng kể
tác dụng phụ hoặc có sự cải thiện đặc biệt trong việc giải phóng dược chất, như thiết
bị đặt được dưới da giúp giải phóng insulin trong khoảng thời gian dài chẳng hạn.
“Trích dẫn 1. Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế liên quan đến y học
ở cơ quan Sáng chế Anh (tháng 3/2004), yêu cầu bảo hộ cho dược phẩm, hợp phần
được làm thích ứng cho một ứng dụng cụ thể, đoạn 11431.
Bản thân các chất đã biết được bảo hộ bởi yêu cầu bảo hộ dạng sản phẩm
cho dược phẩm chứa chúng, nếu dược phẩm này ở dạng có tính mới và sáng tạo so
với các sản phẩm bất kỳ đã biết. Cụ thể, có thể yêu cầu bảo hộ thuốc có dạng dùng
mới và khác biệt so với ứng dụng trước đó. Ví dụ, thuốc mỡ chống eczema chứa
chất X có thể được coi là khac biệt rõ rệt so với một viên nén chứa chất X để kiểm
soát huyết áp. Thuốc mỡ này là mới do chất X chưa bao giờ được bào chế ở dạng
này trước đó, và nó sẽ có trình đọ sáng tạo nếu các ứng dụng trước đó của chất X
không gợi ý việc sử dụng nó dưới dạng dùng ngoài”.
“ Trích dẫn 2. Dự thảo quy chế về thực hành và thủ tục sáng chế. Cơ quan
sáng chế, Ấn Độ - 2005. Phụ lục - 1.6.0 Dược phẩm:
6.1 Các dược phẩm không phải là sự phối hợp đơn thuần để thu được tập
hợp đặc tính của các thành phần, mà có tác dụng hiệp đồng thường có khả năng
được bảo hộ.
6.2. Các dược phẩm đã biết ở liều lượng mới khác và dạng khác nhau như
viêm nang, viêm nén, xirô, hỗn hợp...không được bảo hộ theo quy trình các khoản 2
(1)(j), 3(d) và 3(e) của Đạo luật sáng chế.
6.3 Ứng dụng mới của chất đã biết hoặc ứng dụng mới của nó trong dược
phẩm thường không được bảo hộ.
6.4 Phương pháp bất kỳ sử dụng dược phẩm đều không được bảo hộ”.
Khuyến nghị: Các chế phẩm và hợp phần mới, cũng như quy trình bào chế
chúng, nói chung được coi là hiển nhiên trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật đã biết,
đặc biệt là khi một hoặt chất duy nhất được yêu cầu bảo hộ cùng với các chất mang
hoặc tá dược đã biết hoặc không xác định. Cá biệt, yêu cầu bảo hộ thuộc dạng này
có khả năng bảo hộ tồn tại hiệu quả bất ngờ, ví dụ, khi một vấn đề thực sự khó khăn
13
hoặc nhu cầu tồn tại từ lâu, như làm giảm đáng kể tác dụng phụ, được giải quyết
theo cách không hiển nhiên, hoặc khi giảm đáng kể tác dụng phụ, được giải quyết
theo cách không hiển nhiên, hoặc khi giải pháp được đề xuất tạo ra lợi ích đáng kể
so với giải pháp kỹ thuật đã biết [27, tr.6].
1.3.2 Tổ hợp:
Đôi khi, yêu cầu bảo hộ đề cập đến tổ hợp gồm các hoạt chất đã biết trước
đó. Trong một số trường hợp, các hợp chất cụ thể và lượng của chúng được chỉ rõ,
trong khi các trường hợp khác, chúng thường được đề cập đến một nhóm các hợp
chất có tác dụng điều trị, như chất kháng axit chẳng hạn. Nếu yêu cầu bảo hộ cho tổ
hợp được chấp nhận sau khi cấp bằng độc quyền sáng chế cho các hoạt chất có liên
quan, thì chủ bằng độc quyền sáng chế có thể gián tiếp kéo dài thời hạn bảo hộ
được cấp cho sáng chế cơ bản.
Ở một số nước, yêu cầu bảo hộ cho tổ hợp bị từ chối, trừ khi tổ hợp này tạo
ra tác dụng hiệp đồng hoặc khác biệt mới và không hiển nhiên. Nếu căn cứ vào tác
dụng hiệp đồng để đánh giá khả năng bảo hộ, thì tác dụng hiệp đồng này phải được
tạo ra bởi tất cả các phương án trong phạm vi yêu cầu bảo hộ, phải được mô tả và
chứng minh một cách thích hợp trong bản mô tả sáng chế (ví dụ, trên cơ sở các thử
nghiếm sinh học) và đó có thể là biểu hiện về trình độ sáng tạo. Không nên coi bản
thân một tác dụng hiệp đồng mới là có trình độ sáng tạo, vì nó có thể là hiển nhiên
đối với người có kỹ năng trong lĩnh vực này. Ngoài ra, tác dụng hiệp đồng giữa hai
hay nhiều thuốc có thể được coi là một “phát hiện” thay vì là một “sáng chế”, do tác
dụng hiệp đồng này diễn ra trong cơ thể và được phát hiện thông qua cac thử
nghiệm lâm sàng.
Cũng cần lưu ý rằng trong một số trường hợp, yêu cầu bảo hộ cho tổ hợp
thực ra là tương đương với yêu cầu bảo hộ cho liệu pháp y học (đối tượng bị loại trừ
khỏi phạm vi bảo hộ ở hầu hết các nước) ở chỗ, chúng chỉ đưa ra phương pháp sử
dụng một tổ hợp gồm các thuốc đã biết. Thêm vào đó, việc phối hợp các dược chất
để tránh hiện trượng kháng thuốc là công việc thông thường trong việc phát triển
dược phẩm và nói chung nên được coi là hiển nhiên đối với người có kỹ năng trung
bình trong lĩnh vực này.
Khuyến nghị: Tổ hợp gồm các hoạt chất đã biết nên được coi là không có
14
trình độ sáng tạo. Tuy nhiên, tác dụng hiệp đồng mới và không hiển nhiên được coi
là cơ sở cho khả năng bảo hộ, tác dụng hiệp đồng này cần được chứng minh một
cách đúng đắn bằng các thử nghiệm sinh học và phải bộc lộ một cách thích hợp
trong bản mô tả sáng chế [27, tr.8].
1.4.3 Liều dùng/liều lƣợng:
Một số đơn đang ký sáng chế yêu cầu bảo hộ các sáng chế đề xuất liều lượng
dùng cho bệnh nhân của một sản phẩm đã biết, kể cả liều lượng cho trẻ em. Mặc dù
được soạn thảo dưới dạng yêu cầu bảo hộ dạng sản phẩm song các yêu cầu bảo hộ
thuộc dạng này liệu có tác dụng giống như yêu cầu bảo hộ cho liệu pháp y học, do
đối tượng này không phải là sản phẩm hay quy trình, mà thực chất là cách thức để
sử dụng sản phẩm trong điều trị bệnh.
Một số nước cho phêp bảo hộ sáng chế về liều lượng trong một số trường
hợp nhất định. Ví dụ, quy chế thẩm định sáng chế Anh cho phép bảo hộ sáng chế về
liều lượng này khác biệt đáng kể so với liều lượng dùng cho các ứng dụng đã biết
(xem trích dẫn 3). Tuy nhiên, phương thức của Anh chỉ có giá trị nếu sáng chế về
chỉ định lần thứ hai cũng được bảo hộ. Trong trường hợp sáng chế của người nộp
đơn chỉ đơn thuần là liều lượng mới cho cùng một ứng dụng của thuốc thì đối tượng
như vậy sẽ không được bảo hộ. Điều tương tự được áp dụng nếu liều lượng liên
quan đến một ứng dụng mới, với điều kiện ứng dụng mới này cũng không được bảo
hộ.
Thêm vào đó, các thay đổi về liều lượng cũng ít khi có trình độ sáng tạo và
có thể coi là không đáp ứng điều kiện và khả năng áp dụng công nghiệp, do sáng
chế chỉ có tác dụng trên cơ thể và không có hiệu quả kỹ thuật.
Khuyến nghị: liều dùng mới của sản phẩm đã biết cho chỉ định giống hoặc
khác nhau không tạo nên sáng chế, đặc biệt (nhưng không chỉ) là ở các nước không
bảo hộ chính phương pháp điều trị y học.
Trích dẫn 3. Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế liên quan đến y học
mới khác biệt đáng kể với liều lượng dùng cho ứng dụng đã biết, thì có thể cho phép
yêu cầu bảo hộ được thể hiện dưới dạng dược phẩm dạng liều chứa hoạt chất đã
biết với lượng sao cho dược phẩm dạng liều này là mới và không hiển nhiên so với
liều lượng dùng cho các ứng dụng đã biết. Theo đó, nếu ứng dụng y học mới cần
15
đến liều dùng gấp mười lần (hoặc bằng 1/10) liều dùng cho các ứng dụng đã biết,
thì yêu cầu bảo hộ cho dược phẩm dạng liều đơn vị có thể được coi là mới, sáng
tạo, và có thể được chấp nhận. Khi đánh giá trình độ sáng tạo của yêu cầu bảo hộ
dạng này, cần nhớ rằng liều lượng cần thiết thường liên quan đến thể trọng, do đó
liều dùng cho trẻ em sẽ nhỏ hơn liều dùng cho người lớn [27, tr.8].
1.3.4 Muối, ete và este:
Thông thường, bằng độc quyền vầ dược phẩm bảo hộ các muối mới của hoạt
chất đã biết. Muối thông thường được tạo ra nhằm làm tăng tính ổn định hoặc độ
hòa tan của dược chất. Điều thông thường thuộc phạm vi kiến thức chung trong lĩnh
vực dược là, các muối có độ hòa tan khac nhau, và do đó có độ sinh khả dụng khác
nhau. Nếu một hoạt chất là axit hoặc bazơ, thì bất kỳ sinh viên hóa nào cũng biết
cách tạo ta muối và có thể dự đoán về các tính chất hóa lý có thể có của nó. Sáng
chế về các muối là một trong số những cách thức chính để kéo dài mãi mãi
(evergreening) thời hạn bảo hộ cho dược phẩm.
Có thể có một số trường hợp ngoại lệ trong đó có các muối mới có những lợi
ích bất ngờ về đặc tính so với các sản phẩm đã biết trong tình trạng kỹ thuật. Những
lợi ích này cần phải được chứng minh bằng các thông tin về kết quả của các thử
nghiệm thích hợp được thể hiện trong bản mô tả.
Quy trình điều chế các muối cũng thường được coi là hiển nhiên đối với
người được đào tạo trong lĩnh vực này. Chỉ có các trường hợp thực sự ngoại lệ
trong đó việc tạo muối (ví dụ, với các đặc tính tinh thể tối ưu) chưa các phân tử
phức tạp cần đến những kỹ năng đặc biệt và do đó có khả năng được bảo hộ dưới
dạng quy trình. Tuy nhiên, tính phức tạp cảu quy trình là chưa đủ căn cứ để đưa ra
kết luận về trình độ sáng tạo.
Tương tụ, ete cũng như este của các rượu đã biết, mặc dù có sự khác biệt cơ
bản so với muối, cũng thường bị phản đối về tính hiển nhiên.
Cơ quan Sáng chế Ấn Độ đã ban hành dự thảo quy chế trong đó đưa ra các
tiêu chuẩn cụ thể để thẩm định đơn liên quan đến hydrat, muối và các dẫn xuất khác
(xem trích dẫn 4). Ngoài ra, các nội dung sửa đổi được đưa vào đạo luật sáng chế
Ấn Độ 2005 cũng đưa ra một quy định cụ thể đối với các yêu cầu bảo hộ liên quan
16
đến muối, este và các “dạng” khác của các sản phẩm đã biết.
Trích dẫn 4. Dự thảo Quy chế về thực hành và thủ tục đăng ký sáng chế, Cơ
quan sáng chế, Ấn độ - 2005, Phụ lục - 1
5.6 Hydrat và các chất khác:
Hydrat, muối cộng axit và dẫn xuất khác thường được điều chế về cơ quản
không đáp ứng điều kiện về trình độ sáng tạo. Tuy nhiên, nếu như tồn tại một vấn
đề nào đó, như vấn đề về độ ổn định, độ hấp thu…và tồn tại một vấn đề đã có từ lâu
trong việc điều chế dẫn xuất này, thì khả năng bảo hộ của quy trình đó có thể được
xem xét.
Mục đích rõ ràng của việc sửa đổi Đạo luật sáng chế Ấn Độ là nhằm hạn chế
sự gia tăng các bằng độc quyền sáng chế xung quanh các sản phẩm dược đã biết.
Khoản 3 (d) chỉ rõ ràng các đối tượng dưới đây không được công nhận là sáng chế
theo quy định của Đạo luật:
Sự phát hiện đơn thuần một dạng mới của chất đã biết mà không kèm theo sự
gia tăng về hiệu lực đã biết của chất đó hoặc sự phát hiện đơn thuần một đặc tính
mới hoặc ứng dụng mới bất kỳ của một chất đã biết hoặc sự phát hiện đơn thuần
một ứng dụng mới của quy trình, máy móc hoặc thiết bị đã biết, trừ khi quy trình đã
biết này tạo ra một sản phẩm mới hoặc sử dụng ít nhất một chất phản ứng mới.
Giải thich: Theo quy định này, muối, este, ete, chất đa hình, chất chuyển hóa,
dạng tinh khiết, cỡ hạt, chất đồng phân, hỗn hợp cảu các chất đông phân, phức chất,
tổ hợp và các dẫn xuất khác của chất đã biết phải được coi là chính chất đó, trừ khi
chúng có đặc tính và hiệu lực khác biệt đáng kể.
Bất kỳ dạng yêu cầu bảo hộ đặc biệt nào của người nộp đơn, ví dụ, yêu cầu
bảo hộ liên quan đến đáp ứng điều trị nhanh hơn của một muối mới, cũng cần được
chứng minh bằng dữ liệu lâm sàng thể hiện hiệu quả này. Yêu cầu bảo hộ càng đặc
biệt, thì lượng dữ liệu cần thiết để thẩm định đơn càng nhiều. Điều quan trọng là các
dữ liệu mới cần được đánh giá một cách đúng đắn. Các cơ quan quản lý y tế có đủ
kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực này; do đó sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ
quan này và cơ quan sáng chế trong quá trình thẩm định đơn có thể tạo điều kiện
thuận lợi cho công việc của cơ quan sáng chế và cải thiện chất lượng thẩm định
17
đơn.
Khuyến nghị: Nói chung, các muối, ete, este mới và các dạng khác của sản
phẩm được đã biết thường có thể được tạo ra bằng kỹ năng thông thường và không
có trình độ sáng tạo. Điều này có thể được loại trừ trong trường hợp có các thử
nghiệm được tiến hành một cách thích hợp và được mô tả trong các bản mô tả sáng
chế, chứng minh các lợi ích bất ngờ về đặc tính so với các giải pháp kỹ thuật đã biết
[27, tr.9].
1.3.5 Chất đa hình:
Một số hoạt chất dùng trong điều trị có dạng đa hình, cụ thể là chúng có thể
tồn tại dưới các dạng vật lý khác nhau (dưới dạng chất rắn vô định hình và /hoặc các
dạng tinh thể khác nhau), các dạng vật lý như vậy ít nhiều có các đặc tính khác nhau
khi dùng làm thuốc (như độ hòa tan, theo đó là độ sinh khả năng dụng). Hiện tượng
đa hình là một đặc tính tự nhiên: Các chất đa hình là một đặc tính tự nhiên: các chất
đa hình không được “sáng tạo” hay “sáng chế” ra; chúng thường được phát hiện
nằng các thực nghiệm thông thường đối với dược phẩm. Chúng được điều chế trong
những điều kiện mà hợp chất được điều chế. Hợp chất bất kỳ có tính đa hình đều có
xu hướng tự nhiên là chuyển thành dạng ổn định hơn của nố, ngay cả khi không cần
có sự can thiệp của con người.
Tầm quan trọng của các chất đa hình khác nhau hầu như nằm ở tốc độ hòa
tan tương đối của chúng (về lý thuyết mức độ hòa tan cũng có thể được tác động
đến song điều này không có ý nghĩa thực tiễn). Đôi khi tính ổn định lâu dài sẽ bị
ảnh nếu chất hình ổn định nhất không được lựa chọn để phát triển ngay từ đầu. Do
đó, việc thay đổi chất đa hình có ảnh hưởng thực sự đến tốc độ hòa tan của thành
phẩm và có thể ảnh hưởng đến đọ sinh khả dụng, hoặc làm thay đổi độ ổn định lâu
dài của thành phẩm. Trong một số trường hợp, việc lựa chọn một chất đa hình cụ
thể cũng có thể mang lại các lợi ích cho quy trình sản xuất. Tuy nhiên, điều đó
không hề có ảnh hưởng đến độ an toàn hay hiệu lực do hoạt chất là giống nhau.
Các đơn đăng ký sáng chế độc lập cho các chất đa hình đang trở nên phổ
biến hơn và gây tranh cãi nhiều hơn do các độc quyền sáng chế loại này có thể được
dùng để hạn chế hoặc làm chậm sự xuất hiện của thuốc đồng dạng cạnh tranh. Các
chất đa hình có thể được coi là đã biết trong tình trạng kỹ thuật - do đó không có
18
khả năng bảo hộ - nếu chắc chắn điều chế được chúng bằng quy trình nêu trong
sáng chế cơ bản đối với hoạt chất. Thêm vào đó, khả năng phát hiện ra các tinh thể
khác nhau là hiển nhiên khi phát hiện được hiện tượng đa hình.
Một ví dụ điển hình về trường hợp gây tranh cãi đối với sáng chế về chất đa
hình liên quan đến ximentidin. Chủ sở hữu sáng chế nộp đơn đăng ký sáng chế và
chất đa hình của ximetidin khoảng năm năm sau khi bằng độc quyền sáng chế được
cấp cho hoạt chất này. Tuy nhiên, bằng độc quyền sáng chế cấp cho chất đa hình
này bị hủy bỏ hiệu lực ở Anh và các nước khác vì lý do này: Chắc chắn điều chế
được chất đa hình này khi áp dụng quy trình đã được yêu cầu bảo hộ trong sáng chế
nộp ban đầu. Một ví dụ khác là trường hợp ranitidin [27]. Người nộp đơn cấp bằng
độc quyền sáng chế ở Mỹ cho chất đa hình, bằng độc quyền sáng chế hết hạn hiệu
lực năm 2002 trong khi bằng độc quyền cho sáng chế cơ bản hết hạn hiệu lực vào
năm 1995.
Yêu cầu bảo hộ cho chất đa hình được phép chấp thuận ở nhiều nước trên thế
giới. Ví dụ, Cơ quan sáng chế Châu Âu (EPO) thường cấp bằng độc quyền sáng chế
cho các dạng đa hình mới được xác định, phù hợp với thực tế áp dụng của cơ quan
sáng chế hoặc tòa án liên bang về sáng chế của Đức. Trong trường hợp
“Kristallformen”, các sản phẩm có cùng công thức hóa học là không giống nhau nếu
chúng khác nhau về một số thông số đáng tin cậy nào đó. Tuy nhiên, sáng chế về
các chất đa hình bị từ chối ở nhiều nước khác [27].
Khuyến nghị: Hiện tượng đa hình là một đặc tính nội tại của vật chất ở trạng
thái rắn. Các chất đa hình không được sáng chế tạo ra, mà được phát hiện. Các cơ
quan sáng chế cần hết sức lưu ý đên khả năng kéo dài thời hạn bảo hộ một cách
không thỏa đáng đối với hoạt chất và các dạng đa hình của nó, kể cả hydrat/solvat.
Quy trình điều chế chất đa hình có thể được bảo hộ trong một số trường hợp nếu
quy trình này đáp ứng điều kiện về tính mới và trình độ sáng tạo.
1.3.6 Yêu cầu bảo hộ dạng Markush:
Thông thường, yêu cầu bảo hộ sáng chế rộng (“tổng quát”) được soạn thảo
nhằm bao hàm một họ hoặc một số lượng lớn (đôi khi lên đến hàng nghìn hoặc hàng
triệu) hợp chất có thể có. Yêu cầu bảo hộ được gọi là “yêu cầu bảo hộ dạng
Markush” được dùng để thể hiện một cấu trúc hóa học với nhiều thực thể hóa học
19
có chức năng tương đương được phép có mặt trong nhiều hoặc nhiều phần của hợp
chất. Yêu cầu bảo hộ dạng markush có thể bao gồm một số lượng lượng lớn (đôi khi
tới hàng triệu) hợp chất có thể có. Chúng có thể được dùng để tạo ra phạm vi bảo hộ
rộng của sáng chế, trong đó bao gồm một số lượng lớn các hợp chất mà đặc tính của
chúng chưa được thử nghiệm, mà chỉ được suy ra một cách lý thuyết trên cơ sở tính
tương tự với các hợp chất khác trong yêu cầu bảo hộ. Do đó, việc chấp nhận bảo hộ
cho yêu cầu bảo hộ dạng markus sẽ xác lập quyền cho một nhóm hợp chất cực kỳ
lớn mà chúng không hề được thử nghiệm hay thực nghiệm trước đó.
Ngoài các vấn đề thông thông thường liên quan đến điều kiện bảo hộ, việc
xem xét yêu cầu bảo hộ dạng Markush làm nảy sinh vấn đề về mức độ bộc lộ và khả
năng thực hiện sáng chế, do người nộp đơn chỉ điều chế được một cách hữu hiệu
một lượng nhỏ hợp chất theo các phương án có thể nhóm. Do việc tra cứu tình trạng
kỹ thuật cho hàng triệu hợp chất gần như không thể, nên việc tra cứu của cơ quan
sáng chế và bằng độc quyền sáng chế tương ứng được cấp ra chỉ nên giới hạn ở các
phương án đã được đánh giá một cách thực thụ và được chứng minh bằng các ví dụ
được đưa ra trong bản mô tả.
Khuyến nghị: Không nên chấp nhận yêu cầu bảo hộ bao hàm một phạm vi
rộng các hợp chất. Các cơ quan sáng chế cần yêu cầu người nộp đơn cung cấp đủ
thông tin, như điểm nóng cháy, phổ hấp thụ hồng ngoại (IR), hoặc công hưởng từ
hạt nhân (NMR) thu được trong thử nghiệm và thực nghiệm cho phép lặp lại
phương pháp được bộc lộ theo mỗi phương án của sáng chế yêu cầu bảo hộ. Yêu
cầu bảo hộ có phạm vi giới hạn có thể được chấp nhận nếu cung cấp bằng chứng ít
nhất cho thấy rằng, khi thay thế bằng một phương án bất kỳ trong cùng nhóm, thì
vẫn đạt kết quả giống như kết quả đã được bộc lộ. Phạm vi của sáng chế cần được
giới hạn ở những phương án có thể thực hiện được một cách thực thụ căc cứ vào
các nội dung được bộc lộ trong bản mô tả [27, tr.14].
1.7.7 Sáng chế lựa chọn:
“Sáng chế lựa chọn” là sáng chế trong đó một thành phần duy nhất hoặc một
nhóm nhỏ trong một nhóm lớn đã biết được “lựa chọn” và yêu cầu bảo hộ độc lập
trên cơ sở một đặc tính cụ thể chưa được đề cập trong nhóm lớn. ví dụ, “Sáng chế
20
lựa chọn” có thể được áp dụng khi một nhóm sản phẩm đặc trưng bởi n nguyên tử
cacbon đã được bảo hộ, sau đó sáng chế cho một nhóm cụ thể trong đó (ví dụ, có từ
1 đến 4 nguyên tử carbon) cũng được yêu cầu bảo hộ.
Nếu nhóm lớn đã được bảo hộ, thì chủ sở hữu sáng chế có thể sử dụng sáng
chế lựa chọn để kéo dài thời hạn bảo hộ cho nhóm nhỏ được lựa chọn sau khi hết
thời hạn hiệu lực của sáng chế ban đầu. Mặc dù được chấp nhận bảo hộ ở nhiều
nước một khi các thành phần được lựa chọn mang lại lợi ích bất ngờ, song sáng chế
lựa chọn sẽ bị từ chối nếu lợi ích được đề xuất là đặc tính chinh của tất cả hoặc hầu
như tất cả thành phần trong nhóm lớn.
Mặc dù còn tồn tại những khác biệt giữa các cơ quan sáng chế, trong đó bao
gồm những khác biệt giữa EPO và một số cơ quan sáng chế quốc gia ở châu Âu,
trong việc xử lý các yêu cầu bảo hộ dạng này, song vẫn có các giới hạn đối với việc
bảo hộ sáng chế lựa chọn ở hầu hết các nước [27].
Khuyến nghị: Theo nguyên tắc chung, sáng chế lựa chọn không được bảo hộ
nếu các thành phần được lực chọn đã được bộc lộ hoặc yêu cầu bảo hộ, do đó sáng
chế không đáp ứng điều kiện về tính mới. Nếu coi lợi ích bất ngờ của các sản phẩm
đã mang lại khả năng bảo hộ theo quy định pháp luật của một số nước, thì khả năng
bảo hộ của sáng chế chọn lọc có thể được xem xét nếu sáng chế đáp ứng điều kiện
về trình độ sáng tạo.
1.3.8 Các quy trình tƣơng tự
Sản phẩm và quy trình là hai dạng khác nhau của đối tượng có khả năng bảo
hộ sáng chế. Khả năng bảo hộ của mỗi dạng trong số chúng phải được đánh giá theo
các đặc tính và đặc điểm của bản thân chúng. Tuy nhên, các quy trình sản xuất
(thường được gọi là quy trình tương tự) mà bản thân chúng là không mới hoặc sáng
tạo song lại được dùng để điều chế các hợp phần chưa được bảo hộ có tính mới và
trình độ sáng tạo được coi là có khả năng bảo hộ theo quy định của một số hệ thống
pháp luật (xem trích dẫn về quy chế thẩm định ở EPO).
Ở Mỹ, cơ quan sáng chế coi yêu cầu bảo hộ “quy trình tương tự” là không có
khả năng bảo hộ, trừ khi bản thân chúng là sáng tạo, nhưng luật sáng chế Mỹ cũng
đưa ra một ngoại lệ cho công nghệ sinh học. Một sửa đổi trong luật của Mỹ năm
1993 quy đinh rằng yêu cầu bảo hộ cho quy trình công nghệ sinh học được coi là
21
không hiển nhiên nếu nó bao hàm việc sử dụng các nguyên liệu ban đầu mới và
không hiển nhiên hoặc tạo ra kết quả mới và không hiển nhiên. Mặc dù giải pháp
này chỉ nhằm đến công nghệ sinh học, song nó cũng được mở rộng bởi luật án lệ
sang các lĩnh vực công nghệ khác.
Một ví dụ về bằng độc quyền sáng chế có thể được cấp trên cơ sở một cách
áp dụng ẩn của khái niệm về quy trình tương tự là bằng độc quyền sáng chế
Achentina số 242.562 cấp cho quy trình thu amlpodipin besylat. Quy trình được mô
tả và yêu cầu bảo hộ là một phản ứng hóa học đơn giản: tạo muối từ axit và bazơ.
Phản ứng này có thể thấy trong các sách giáo khoa cơ sở về hóa học [27].
Việc áp dụng học thuyết về quy trình tương tự có thể dẫn đến khả năng bảo
hộ các dược chất không có khả năng bảo hộ, do hiệp định TRIPS (điều 28.1 (b))
quy định việc mở rộng phạm vi bảo hộ sáng chế tới sản phẩm thu được một cách
trực tiếp bằng quy trình được bảo hộ.
Khuyến nghị: không nên bảo hộ các quy trình dược dụng không mới hoặc
hiển nhiên, bất kể nguyên liệu ban đầu, hợp chất trung gian hay sản phẩm cuối của
quy trình này là mới hay sáng tạo.
1.3.9 Chất đồng phân đối ảnh:
Các chất đồng phân đối ảnh (hay chất đồng phân quang học) có liên hệ với
nhau dưới dạng ảnh gương của nhau. Trong hóa học hữu cơ, các chất dồng phân đối
ảnh tồn tại một cách tự nhiên trong các hợp chất chứa một nguyên tử cacbon có 4
nhóm thể khác nhau chẳng hạn. Đặc tính này đượ khai thác trong lĩnh vực bảo hộ
sáng chế bằng cách trước tiên yêu cầu bảo hộ cho hỗn hợp “raxemic” của hai chất
đồng phân đối ảnh, rồi sau đó yêu cầu bảo hộ cho chất đồng phân đối ảnh có hoạt
tính cao hơn, nhờ đó kéo dài thời hạn bảo hộ thu được ban đầu.
Việc thử nghiệm xem một trong số hai chất đồng phân đối ảnh chất nào khi
được tách ra có hoạt tính cao hơn so vơi hỗn hợp raxemic cảu cả hai chất đều hết
sức thông thường do đã biết rằng, một chất đồng phân quang học thường có hoạt
tính cao hơn nhiều so với chất đồng phân còn lại, do đó hoạt tính cao hơn của ít
nhất một trong số các chất đồng phân so với hỗn hợp raxemic là điều đã được dự
liệu. khi công thức hóa ọc của một hợp chất có các chất đồng phân đối ảnh được
bộc lộ, thì tính mới của các chất đồng phân đối ảnh cũng bị mất đi do công thức này
22
hẳn đã cho thấy sự tồn tại của các chất động phân đối ảnh.
Một số cơ quan sáng chế, như EPO chẳng hạn, cho rằng chất đồng phân đối
ảnh của các hỗn hợp raxemic đã biết có thể được coi là mới, tuy nhiên khả năng bảo
hộ của chúng sẽ được đánh giá khi xem xét trình độ sáng tạo. Một chất đồng phân
đơn (của hoạt chất đã được đăng ký trước đó với cơ quan quản lý y tế dưới dạng
hỗn hợp raxemic) có thể được cấp sổ đăng ký thuốc cho chính nó nếu có chất lượng,
độ an toàn và hiệu lực thích hợp. Tuy nhiên, điều này không giống với với sáng chế
có khả năng bảo hộ, do chất đông phân đối ảnh đã có mặt trong hỗn hợp raxemic và
hoạt tính dược lý/điều trị của hỗn hợp raxemic bắt nguồn hầu như hoàn toàn (nếu
không muốn nói là hoàn toàn) từ chất đồng phân đối ảnh có hoạt tính. Dự thảo Quy
chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế của Ấn Độ đã đưa ra một số liệu chuẩn để
đánh giá yêu cầu bảo hộ thuộc dạng này [27].
Khuyến nghị: Không nên coi các chất đồng phân đối ảnh đơn là có khả năng
bảo hộ nếu hỗn hợp raxemic của nó là đã biết. Tuy nhiên, quy trình thu chất đồng
phân đối ảnh có thể có khả năng bảo hộ nếu quy trình này đáp ứng điều kiện về tính
mới và trình độ sáng tạo.
1.3.10 Chất chuyển hóa có hoạt tính và tiền dƣợc chất:
Trong một số trường hợp, dược chất sẽ tạo ra chất chuyển hóa có hoạt tính là
sản phẩm của quá trình chuyển hóa dược chất trong cơ thể. Chất chuyển hóa là dẫn
xuất của hoạt chất được tạo ra trong cơ thể, và không thể coi là được “sáng tạo” hay
“sáng chế” ra. Tuy nhiên, chất chuyển hóa có hoạt tính có thể có profin an toàn và
hiệu lực khác với phân tử gốc.
Mặt khác, khi được chuyển hóa trong cơ thể, hợp chất không có hoạt tính
(còn được gọi là tiền dược chất) có thể tạo ra hoạt chất có tác dụng điều trị. Trong
một số trường hợp, yêu cầu bảo hộ sáng chế bao hàm cả dược chất và (các) tiền
dược chất của nó. Trong trường hợp hoạt chất không được bảo hộ, thì việc bảo hộ
cho tiền dược chất như vậy có thể kéo dài quá trình kiểm soát thị trường hoạt chất
được chuyển hóa của các chủ sở hữu sáng chế. Tiền dược chất có thể được coi là
dược chất ban đầu ở dạng “trá hình”.
Trong trường hợp terfenadin, dược chất đã bán trong thời gian nhiều năm ở
Anh làm thuốc kháng histamin, chủ sở hữu sáng chế đã có được sự bảo hộ bổ sung
23
đối với chất chuyển hóa có hoạt tính fexofenadin và thực hiện hành vi phong tỏa
cạnh tranh trên thị trường đối với terfennadin sau khi hết thời hạn bảo hộ đối với
hoạt chất này. Đây là hành vi nhằm kéo dài thời hạn bảo hộ sáng chế và không được
coi là không thể chấp nhận được.
Các hướng dẫn chi tiết cho việc thẩm định khả năng bảo hộ của chất chuyển
hóa và tiền dược chất đã được một số cơ quan sáng chế xây dựng.
Một giải pháp khả thi để xử lý các sáng chế về tiền dược chất - có thể được
coi là mới và sáng tạo trong một số trường hợp nhất định - là chấp nhận bảo hộ nếu
chúng đáp ứng các điều kiện bảo hộ, với điều kiện hoạt chất phải được loại trừ theo
cách thích hợp, tức là loại trừ khỏi yêu cầu bảo hộ sáng chế.
Khuyến nghị:
a) Nói chung, không nên coi chất chuyển hóa có hoạt tính của dược chất là
có khả năng bảo hộ riêng biệt với hoạt chất mà từ đó nó được tạo ra.
b) Các sáng chế về tiền dược chất, nếu được bảo hộ, phải lại trừ bản thân hợp
chất ra khởi phạm vi bảo hộ, nếu hoạt chất này đã được bộc lộ hay được coi là
không có khả năng bộc lộ trước đó. Giống như đối tượng khác được yêu cầu bảo hộ
trong sáng chế, đặc tính của tiền dược chất phải được chứng minh một cách đầy đủ
bằng các thông tin được cấp trong bản mô tả. Ngoài ra, có thể phải cung cấp bằng
chứng cho thấy rằng tiền dược chất không có hoạt tính hoặc có hoạt tính thấp hơn
so với hợp chất cần được giải phóng, việc tạo ra hợp chất có hoạt tính đảm bảo tạo
ra mức hữu hiệu của dược chất, và mức chuyển hóa trực tiếp của tiền dược chất
cũng như sự mất dần hoạt tính của dược chất.
1.3.11 Phƣơng pháp điều trị:
Một số sáng chế yêu cầu bảo hộ phương pháp điều trị, các phương pháp
phòng bệnh, chữa bệnh, giảm đau, chẩn đoán hay phẫu thuật. Bản thân yêu cầu bảo
hộ dạng này không bao hàm sản phẩm, mà là cách thức mà nó được sử dụng để tạo
ra một hiệu quả nào đó. Có sự khác biệt đáng kể trong chính sách bảo hộ sáng chế
của các quốc gia về vấn đề này, và trong một số trường hợp đã thể hiện một cách
tiếp cận rất rộng [27].
Trong nhiều trường hợp, yêu cầu bảo hộ về phương pháp điều trị không được
thể hiện một cách rõ ràng ngay từ đầu do đề cập đến các thành phần không đặc
24
trưng bởi cấu trúc hóa học hoặc đặc tính nội tại của chúng, mà đặc trưng bởi liều
lượng hoặc dạng dùng của chúng chẳng hạn. Do đó, điều quan trọng là phải thểm
định một cách cẩn trọng yêu cầu bảo hộ nhằm nhận dạng và xử lý một cách đúng
đắn với các trường hợp ẩn chứa trong yêu cầu bảo hộ dạng sản phẩm thực chất là
phương pháp điều trị.
Hiệp định TRIPS (điều 27.2) rõ ràng cho phép các quốc gia thành viên được
loại trừ các phương pháp điều trị, chẩn đoán và phẫu thuật ra khỏi phạm vi bảo hộ
sáng chế, và nhiều nước đã đi theo cách tiếp cận này. Nếu việc loại trừ này được
quy định, thì yêu cầu bảo hộ mô tả các phương pháp như vậy, hay yêu cầu bảo hộ
tương tự với chúng sẽ bị từ chối.
Ngay cả khi không bị loại trừ khỏi phạm vi bảo hộ sáng chế, thì các phương
pháp này cũng bị coi là không có khả năng bảo hộ ở các nước mà điều kiện về khả
năng áp dụng công nghiệp được áp dụng, bởi lẽ các phương pháp này chỉ ra hiệu
quả trên cơ thể và không áp dụng được trong công nghiệp. Lý do tương tự cũng
được áp dụng cho trường hợp các phương pháp thẩm mỹ.
Trong trường hợp không thể phân biệt các khía cạnh của phương pháp điều
trị từ một phương pháp không mang tính điều trị bệnh (ví dụ, như phương pháp làm
sạch răng), EPO có xu hướng coi phương pháp như vậy là mang bản chất của
phương pháp điều trị, do đó không có khả năng bảo hộ.
Khuyến nghị: Cần coi phương pháp điều trị, kể cả phương pháp ngăn ngừa,
chẩn đoán hoặc phòng bệnh là không có khả năng áp dụng công nghiệp được quy
định là điều kiện bảo hộ (kể cả trường hợp trong đó khả năng bảo hộ của các
phương pháp này không bị loại trừ một cách rõ ràng).
1.3.12 Yêu cầu bảo hộ dạng sử dụng, kể cả chỉ định lần thứ hai:
Việc bảo hộ cho ứng dụng của một sản phẩm trong y học, kể cả chỉ định lần
đầu tiên và thứ hai của một sản phẩm dược đã biết đã trở nên phổ biến trong lĩnh
vực dược. Trân cơ sở diễn giải của Hiệp định TRIPS theo nghĩa đen, thì hiệp định
này chỉ yêu cầu các quốc gia thành viên phải dành sự bảo hộ độc quyền sáng chế
cho sản phẩm và quy trình, trong khi không có rằng buộc nào đối với việc bảo hộ
25
sáng chế dạng sử dụng, kể cả các chỉ định lần thứ hai.
Theo quy định của EPO, cần phân biệt giữa yêu cầu bảo hộ cho chế phẩm
được làm thích ứng cho một ứng dụng nhất định, với yêu cầu bảo hộ cho chế phẩm
thích hợp cho ứng dụng này [24].
Ngoài ra, quy chế thẩm định của EPO cũng đề cập đến trường hợp yêu cầu
bảo hộ dạng “gói” hay “thành phần dược gồm các phần” (kit of part), thường được
sử dụng khi sáng chế bao gồm việc sử dụng khi sáng chế bao gồm việc sử dụng khi
sáng chế bao gồm việc sử dụng hai hoặc nhiều thành phần dược chất khác nhau tại
các thời điểm cụ thể, hay sử dụng đồng thời hoặc kế tiếp nhau. Yêu cầu bảo hộ dạng
này được Ban khiếu nại của EPO xem xét trong quyết định T 09/81 (6). Trong
trường hợp này, Ban khiếu nại của EPO kết luận rằng sự kết hợp này là mới và sáng
tạo nhưng cần được “giới hạn theo mục đích” – tức là ở dạng như đối với ứng dụng
lần đầu tiên trong y học – để phân biệt nó với các thành phẩm, tập hợp hay dạng
đóng gói dùng trong y học chứa 2 chất để dùng cho các ứng dụng độc lập đã biết
của chúng.
Như được minh họa trong trích dẫn dưới đây, Công ước Sáng chế châu Âu
và luật pháp của một số nước cho phép bảo hộ chỉ định lần đầu tiên trong y học của
một sản phẩm đã biết. Theo quy định pháp luật của châu Âu và các nước khác, chỉ
định lần thứ hai được chấp nhận nếu nó được thể hiện dưới dạng “yêu cầu bảo hộ
kiểu Thụy Sĩ”. Tuy nhiên, việc bảo hộ ứng dụng mới của một sản phẩm đã biết, cụ
thể là các chỉ định lần thứ hai, sẽ mở rộng phạm vi bảo hộ theo cách không phù hợp
với quy định về tính mới.
Ngoài lý do không đáp ứng điều kiện về tính mới, có thể có các lý do khác
để từ chối khả năng bảo hộ cho các ứng dụng lần thứ hai:
- Không có khả năng áp dụng công nghiệp, do dấu hiệu ở đây là tác dụng
phát hiện được trên cơ thể mà khôn phải là chính sản phẩm hoặc phương pháp sản
xuất nó;
- Việc bảo hộ chỉ định lần thứ 2 trong y học của một sản phẩm đã biết về cơ
bản là tương đương với việc bảo hộ cho phương pháp điều trị.
- Việc chấp nhận bảo hộ cho các chỉ định lần thứu hai sẽ kéo dài thời hạn bảo
hộ cho dược chất, do đó dẫn đến tình trạng không phát triển được các sản phẩm
26
mới. Nhiều nước đã từ chối việc bảo hộ sáng chế cho các chỉ định như vậy [24].
Khuyến nghị: Ngoài các lý do khác, lý do để từ chối yêu cầu bảo hộ liên
quan đến ứng dụng của một sản phẩm dược đã biết, kể cả chỉ định lần thứ hai của
sản phẩm này, có thể là lý do không đáp ứng điều kiện về tính mới và khả năng áp
dụng công nghiệp.
1.4. Tính chất hai mặt của việc bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:
1.4.1. Lợi ích của việc bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:
Việc bảo hộ sáng chế dược phẩm mang lại các lợi ích to lớn cho các nhà
sáng tạo và cho sự phát triển của xã hội, thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, bảo hộ sáng chế dược phẩm khuyến khích hoạt động nghiên cứu
và phát triển (R&D) các sản phẩm và quy trình mới, từ đó thúc đẩy sự sáng tạo. Một
trong những đặc điểm của tài sản trí tuệ là thời gian nghiên cứu lâu, chi phí lớn, rủi
ro kinh tế cao vì khả năng bị sao chép và sử dụng bởi bên thứ ba là rất lớn. Bằng
việc bảo hộ sáng chế dược phẩm, chủ sở hữu sáng chế dược phẩm được pháp luật
trao cho và bảo vệ các quyền đối với sáng chế dược phẩm, bao gồm quyền sử dụng,
cho phép người khác sử dụng sáng chế; quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng
chế và quyền định đoạt sáng chế trong một thời hạn nhất định (thường là 20 năm).
Các quyền của chủ sở hữu sáng chế không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc
gia mà còn quy định trong các điều ước quốc tế (điều 28 Hiệp định TRIPS). Các
quyền này được thừa nhận về mặt pháp lý là các quyền độc quyền và tạo cho chủ sở
hữu sáng chế dược phẩmcơ hội để thu được các lợi ích kinh tế bằng việc khai thác
thương mại sáng chế và khai thác những lợi thế thị trường có được từ bằng độc
quyền sáng chế dượcphaamr. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá bán sản phẩm
độc quyền sẽ cao hơn rất nhiều so với giá bán sản phẩm cạnh tranh. Bên cạnh đó,
tùy thuộc vào năng lực và ý chí của sở hữu sáng chế, vào giá trị của sáng chế mà
việc khai thác thương mại sáng chế có thể được tiến hành bới chính chủ sỡ hữu sáng
chế hoặc bởi chủ thể khác được chủ sở hữu sáng chế chuyển nhượng quyền sở hữu
hay chyển giao quyển sử dụng sáng chế. Lợi nhuận thu được từ việc khai thác sáng
chế dược phẩm không chỉ là động lực khuyến khích nhà sáng tạo và nhà đầu tư
trong việc nghiên cứu mà một phần lợi nhuận đó sẽ được đầu tư trở lại vào việc
nghiên cứu để tìm ra các sáng chế mới, thúc đẩy chu trình sáng tạo, động lực thúc
27
đẩy sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy, Bảo hộ sáng chế thực sự là động lực cho
sự sáng tạo như Abraham Lincoln đã từng phát biểu: “Hệ thống bằng độc quyền
sáng chế đổ thêm dầu lợi ích vào ngọn lửa thiên tài”.
Thứ hai, bảo hộ sáng chế dược phẩm khuyến khích việc bộc lộ công nghệ
mới và chuyển giao, phổ biến công nghệ. Các hệ thống pháp luật đều quy định để
được cấp văn bằng độc quyền sáng chế, chủ sở hữu sáng chế phải nộp đơn đăng ký
sáng chế tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Một trong những yêu cầu bắt buộc
đối với đơn đăng ký sáng chế là phải bộc lộ đầy đủ và rõ ràng bản chất của sáng chế
đến mức căn cứ vào đó, bất kỳ người nào có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ
thuật tương ứng đều có thể thực hiện được giải pháp đó, đồng thời phải làm rõ tính
mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp của giải pháp kỹ thuật. Đơn
đăng ký sáng chế trong một thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật của pháp
luật mỗi quốc gia sẽ được cơ quan sáng chế của quốc gia công bố công khai trong
các ẩn phẩm của mình. Nếu đơn được nộp theo Hiệp ước Hợp tác sáng chế (Hiệp
ước PCT) thì đơn sáng chế sẽ được công bố trên ấn phẩm của WIPO. Điều này đã
phản ánh một trong những mục đích hết sức đặc thù của hệ thống sáng chế: công
khai công nghệ. Đây thật sự là nguyên tắc đánh đổi trong bảo hộ sáng chế. Để được
cấp các quyền đối với sáng chế và nhà nước bảo vệ các quyền đó, chủ sở hữu sáng
chế phải công khai sáng chế của mình cho xã hội. Việc công khai bản chất kỹ thuật
và các thông tin sáng chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì các lý do sau: (i) góp
phần làm giàu kho tàng tri thức của nhân loại; (ii) tạo cơ hội khai thác sáng chế
miễn phí cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu trong xã hội sau khi kết thúc thời hạn bảo
hộ sáng chế; (iii) tránh lãng phí trong nghiên cứu để tạo ra các sáng chế mới vì khi
nghiên cứu các nhà nghiên cứu đã biết được trình độ kỹ thuật hiện tại của lĩnh vực
nghiên cứu, tránh lại lặp lại việc nghiên cứu những giải pháp kỹ thuật đã biết; (iv)
tạo điều kiện cho việc tạo ra các sáng chế mới trên cơ sở sáng chế đã có; (v) giúp
phát triển các sản phẩm hoặc tạo ra quy trình đã được bảo hộ; (vi) thúc đẩy hoạt
động chuyển giao công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ cho bên nhận
chuyển giao. Hiện nay có khoảng trên 45 triệu sáng chế được công bố và con số này
tiếp tục tăng với tốc độ hơn một sáng chế mới được công bố mỗi phút. Chỉ riêng
trong năm 2006, số lượng đơn xin cấp bằng cấp bằng sáng chế là 1.76 triệu đơn và
28
có 727,000 bằng độc quyền sáng chế được công bố, các thông tin sáng chế được coi
là nguồn thông tin kỹ thuật và kinh doanh lớn trên thế giới với giá trị vô cùng to lớn
[70].
Thứ ba, bảo hộ sáng chế dược phẩm khuyến khích sự đầu tư vào các ngành
công nghiệp, đặc biệt các ngành công nghiệp mà sản phẩm có hàm lượng chất xám
cao như công nghiệp dược phẩm…có nhiều yếu tố tác động đến quyết định đầu tư
nhưng với các ngành công nghiệp mà rủi ro sao chép cao thì các nhà đầu tư sẽ mạnh
dạn đầu tư nếu việc khai thác các độc quyền sáng chế nhằm thu lợi nhuận tối đa
được đảm bảo. Và điều này cũng tác động đến quyết định đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài vào thị trường của một nước.
1.4.2. Các tác động tiêu cực của việc bảo hộ sáng chế:
Bên cạnh các tác động tích cực, việc bảo hộ sáng chế dược phẩm cũng có
những tác động tiêu cực nhất định đến sự phát triển của xã hội, đặc biết đối với các
nước đang phát triển vì:
Thứ nhất, việc trao chủ sở hữu các độc quyền đối với sáng chế dược phẩm,
dù là tạm thời đã hàm chứa khả năng làm tăng vị thế độc quyền của chủ sở hữu sáng
chế dược phẩm, từ đó làm tăng giá thành sản phẩm được sản xuất theo sáng chế
hoặc quy trình được bảo hộ. Trong suốt thời hạn được bảo hộ sáng chế, việc không
có sản phẩm cạnh tranh sẽ tạo vị thế độc quyền cho người nắm độc quyền sáng chế
để khai thác tối đa các quyền của mình. Điều đó có nghĩa là các độc quyền về mặt
pháp lý của chủ sở hữu sáng chế có thể trở thành các độc quyền kinh tế. Có rất
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá của sản phẩm trong đó cạnh tranh là một yếu tố
quan trọng. Nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích sự tác động của việc bảo hộ
sáng chế đối với giá sản phẩm và chỉ ra sự độc quyền, không có cạnh tranh là
nguyên nhân chính dẫn đến giá sản phẩm cao. Bên cạnh đó, các chi phí không nhỏ
cho việc bảo hộ sáng chế (chi phí cho việc xác lập quyền đối với sáng chế, cho việc
duy trì bằng độc quyền sáng chế, cho việc thực thi quyền trên thực tế…) chắc chắn
sẽ được cộng vào giá sản phẩm, góp phần làm tăng giá sản phẩm. Trong lĩnh vực
dược phẩm, một nghiên cứu về tình huống của Ấn Độ trong việc bảo hộ sáng chế
dược phẩm theo quy định của Hiệp định TRIPS, tập trung vào 20 loại thuốc cho
thấy ước tính giá của các sản phẩm này tại Ấn Độ có thể tăng từ 0 đến 64% với chi
29
phí khoảng 33 triệu USD, tương đương với 3% doanh số bán thuốc tại Ấn Độ [32,
tr.206]. Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng
nhấn mạnh: “Các nghiên cứu hiện hành ước tính việc bảo hộ sáng chế dược phẩm
tại các quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình hoặc thấp sẽ làm tăng giá
thuốc từ 12% đến 200%, từ đó sẽ ảnh hưởng đến sự tiếp cận y tế ở những quốc gia
này” [54]. Ngay tại các quốc gia phát triển, ví dụ như Hoa Kỳ, báo cáo của WTO
cũng chỉ ra rằng: “Khi bằng độc quyền sáng chế hết hiệu lực, giá thuốc bán sỉ tại
Hoa Kỳ sẽ giảm xuống còn khoảng 60% khi chỉ có một nhà cạnh tranh sản xuất
thuốc đồng dạng, giảm xuống còn 29% khi có mười nhà cạnh tranh” [35].
Bên cạnh đó, nếu không có sự kiểm soát đúng mức, chủ sở hữu sáng chế có
thể lạm dụng độc quyền sáng chế của mình để hạn chế số lượng sản phẩm đưa ra thị
trường hoặc giá bán sản phẩm. Ngoài ra, người nắm độc quyền sáng chế cũng có thể
lạm dụng các quyền độc quyền sáng chế để ngăn cản bên thứ ba tạo ta sáng chế mới
hoặc sử dụng sáng chế đó. Điều này gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội.
Thứ hai, chi phí cho việc xây dựng và vận hành hệ thống sáng chế dược
phẩm, bao gồm từ việc xây dựng và đổi mới pháp luật sáng chế thiết lập và vận
hành các cơ quan đang ký sáng chế, cơ quan bảo vệ quyền đối với sáng chế, xây
dựng nguồn nhân lực trong lĩnh vực này…khá lớn. Trong khoảng thời gian từ
những năm 1850 - 1873, hệ thống sáng chế đã bị chỉ trích tốn kém về chi phí và
không hiệu quả và đây là một trong những lý do dẫn đến sự phản đối bảo hộ sáng
chế trong thời gian này. Hiện nay, chi phí cho hệ thống sáng chế dược phẩm vẫn
được coi là khá lớn. Điều này có thể tạo gánh nặng về tài chính cho các quốc gia có
thu nhập trung bình hoặc thu nhập thấp.
Thực tiễn áp dụng bảo hộ sáng chế cho dược phẩm tại các quốc gia cho thấy,
việc bảo hộ sáng chế dược phẩm sẽ làm tăng giá sản phẩm, giảm số lượng sản phẩm
góp phần làm giảm khả năng tiếp cận đối với các sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu
của người dân, gây khó khăn cho chính phủ giải quyết nhu cầu của xã hội, đặc biệt
tại các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Sẽ gây nên hành vi lạm dụng độc
quyền của người nắm độc quyền sáng chế gây khó khăn trong việc giải quyết các
vấn đề cấp thiếp của xã hội và vấn đề an ninh quốc gia.
Dưới góc độ của ngành công nghiệp dược phẩm, việc ấn định và thay đổi giá
30
dược phẩm được xem là thuộc quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh
quy luật cung cầu của thị trường. Đối với các dược phẩm mới phát minh còn trong
thời hạn được bảo hộ theo pháp luật sáng chế, các công ty dược với tư cách là chủ
sở hữu sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế; có thể sản xuất
ra dược phẩm theo sáng chế và bán với giá cao nhằm thu hồi chi phí đầu tư nghiên
cứu, phát triển và thương mại hóa thành quả của sáng tạo đó. Tuy nhiên, dưới góc
độ của người bệnh, nhất là những người bị các bệnh hiểm nghèo, phải điều trị trong
thời gian dài, giá thuốc cao cản trở quá trình chữa bệnh của họ, khiến tính mạng của
họ có thể bị đe dọa. Ngoài ra, nếu phải chi trả một số tiền lớn cho thuốc chữa bệnh
trong thời gian dài có thể đẩy bệnh nhân và gia đình của họ vào tình trạng đói nghèo.
Thứ ba, bảo hộ sáng chế cho dược phẩm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu
thiết yếu của con người, xã hội và mục tiêu an ninh quốc gia.
Các phân tích trên cho thấy bảo hộ sáng chế dược phẩm mang lại rất nhiều
lợi ích cho việc phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, trong ngắn hạn việc bảo hộ
sáng chế ở mức độ cao có thể có những tiêu cực nhất định tới các quốc gia đang
phát triển, đặc biệt các vấn đề an sinh xã hội như y tế, môi trường, an ninh lương
thực. Điều này đòi hỏi có một hành lang pháp lý thích hợp nhằm khai thác tối đa
các lợi ích mà hệ thống sáng chế mang lại, đồng thời giảm bớt các tác động tiêu cực
của hệ thống này.
1.5. Ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế cho dƣợc phẩm:
Chi phí cho dược phẩm chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe. Nếu người bệnh không được sử dụng dược phẩm đúng, đầy
đủ và hợp lý, việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của họ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm
trọng. Vì vậy, quyền tiếp cận dược phẩm là bộ phận cấu thành cơ bản, không thể
thiếu của quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nói chung. Trong khi đó, quyền
về sức khỏe nói chung được thừa nhận rộng rãi là một trong những quyền cơ bản
của con người . Tuyên ngôn về quyền con người (QCN) năm 1948 (khoản 1 Điều
đảm bảo sứ c
25) xác nhận mo ̣i ngườ i đều có quyền đươ ̣c hưở ng mứ c sống đủ để khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình , trong đó có ăn , mặc, ở, chăm sóc y tế ;
quyền được bảo đảm trong trường hợp ốm đau, tàn tật, già yếu. Quyền về sức khỏe
31
này được khẳng định lại trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa năm 1966 (Điều 12), theo đó, con người có quyền được hưởng điều kiện tốt
nhất có thể về sức khỏe thể chất và tinh thần.
Ủy ban các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của LHQ đã nhấn mạnh rằng,
quyền về sức khỏe là một QCN cơ bản, không thể thiếu trong việc thực thi các
QCN. Ủy ban này đã giải thích rằng quyền về sức khỏe không chỉ giới hạn ở quyền
về chăm sóc y tế; nó bao hàm hàng loạt các yếu tố kinh tế - xã hội thúc đẩy các điều
kiện đảm bảo cho con người có một cuộc sống khỏe mạnh, trong đó, yếu tố tiếp cận
dược phẩm đảm bảo chất lượng, số lượng và giá cả hợp lý được đề cao.
Như vậy, quyền tiếp cận dược phẩm nói riêng hay quyền về sức khỏe nói
chung là một bộ phận không thể thiếu của QCN. Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng
đến việc tiếp cận dược phẩm như giá dược phẩm, khả năng của ngành công nghiệp
dược, nguồn nhân lực liên quan, khoảng cách địa lý, việc mua sắm (đấu thầu) dược
phẩm, hệ thống bảo hiểm y tế…; trong đó, giá dược phẩm là cản trở lớn nhất đối
với quyền tiếp cận dược phẩm, đặc biệt đối với người nghèo. Hiện nay, khoảng
90% dân số ở các nước đang phát triển phải trả tiền mua dược phẩm từ tiền túi của
họ, chi phí cho dược phẩm chỉ đứng sau chi phí cho thực phẩm. Kofi Annan - khi
còn là Tổng thư ký LHQ - đã phát biểu, nhân loại không thể chấp nhận việc người
bệnh không thể tiếp cận được dược phẩm để bảo đảm sức khỏe của mình chỉ vì lý
do họ nghèo [54].
Các tranh luận ở cả bình diện quốc gia lẫn quốc tế hiện nay về quyền tiếp cận
dược phẩm thường xoay quanh các nghi ngờ như: (i) các quy định về thương mại
liên quan đến dược phẩm hiện nay chủ yếu phục vụ cho người giàu cũng như nước
giàu; (ii) các lợi ích kinh tế đang thống trị các mối quan tâm về y tế; (ii) dược phẩm
đang được coi và được đối xử như các hàng hóa thông thường mặc dù nó có vai trò
đặc biệt trong phòng và chữa bệnh; (iv) các khía cạnh xã hội đang bị bỏ quên khi
quyền SHTT (quyền sáng chế) đối với dược phẩm đang được coi trọng hơn quyền
về sức khỏe.
Hiện nay, hầu hết các sáng chế mới trong lĩnh vực dược phẩm do các công ty
dược đa quốc gia có trụ sở chính ở các nước phát triển nắm giữ. Các công ty này
thường lập luận rằng, họ phải định giá dược phẩm mới ở mức cao nhằm thu hồi chi
32
phí đầu tư cho nghiên cứu và triển khai. Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếp
cận các dược phẩm mới này của người bệnh ở các nước đang và kém phát triển.
Những người ủng hộ việc tiếp cận dược phẩm ở các nước nghèo thường lập luận
rằng, việc định giá độc quyền như vậy vi phạm QCN trong việc tiếp cận dược
phẩm, nhất là khi Hiệp định TRIPS (có hiệu lực từ ngày 1/1/1995) bắt buộc các
nước đang phát triển phải bảo hộ quyền sáng chế đối với dược phẩm từ 1/1/2005, và
các nước kém phát triển (sau khi được gia hạn) phải bảo hộ từ 1/1/2016. Vì vậy,
pháp luật và các điều ước liên quan đến quyền SHTT cần phải phản ánh sự “chia sẻ
và nhận thức đúng đắn” của các chủ thể liên quan, nhất là từ các nước phát triển;
cần phải bảo đảm rằng các nước nghèo có thể tiếp cận dược phẩm để bảo vệ cuộc
sống người bệnh nhằm bảo vệ một trong những quyền cơ bản của QCN.
Dưới góc độ của ngành công nghiệp dược phẩm, việc ấn định và thay đổi giá
dược phẩm được xem là thuộc quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh
quy luật cung cầu của thị trường. Đối với các dược phẩm mới phát minh còn trong
thời hạn được bảo hộ theo pháp luật sáng chế, các công ty dược với tư cách là chủ
sở hữu sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế; có thể sản xuất
ra dược phẩm theo sáng chế và bán với giá cao nhằm thu hồi chi phí đầu tư nghiên
cứu, phát triển và thương mại hóa thành quả của sáng tạo đó. Tuy nhiên, dưới góc
độ của người bệnh, nhất là những người bị các bệnh hiểm nghèo, phải điều trị trong
thời gian dài như HIV/AIDS, ung thư, viêm gan, tim mạch, thận mãn tính…, giá
thuốc cao cản trở quá trình chữa bệnh của họ, khiến tính mạng của họ có thể bị đe
dọa. Ngoài ra, nếu phải chi trả một số tiền lớn cho thuốc chữa bệnh trong thời gian
dài có thể đẩy bệnh nhân và gia đình của họ vào tình trạng đói nghèo. Tất cả các
điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ của
Liên hiệp quốc, nhất là các mục tiêu về xóa đói - giảm nghèo, bảo vệ sức khỏe bà
mẹ và trẻ em, phòng chống HIV/AIDS và nhiều bệnh tật khác.
1.6. Cơ sở pháp lý quốc tế bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:
Bảo hộ quốc tế về SHTT nói chung và bảo hộ sáng chế dược phẩm nói riêng
đã có một lịch sử phát triển lâu đời. ĐUQT đa phương đầu tiên về SHCN được ký
kết từ năm 1883, về quyền tác giả được ký kết từ năm 1886. Các ĐƯQT song
33
phương đa được ký kết từ trước đó. Cho đến nay đã có khoảng ba mươi ĐƯQT đa
phương quan trọng trong lĩnh vự SHTT đã được ký kết tạo nên một khung pháp lý
quốc tế đầy đủ và hiệu quả cho việc bảo hộ quyền SHTT.
Các ĐƯQT đa phương về SHTT có thể chia thành bốn nhóm chính. Nhóm
thứ nhất, các ĐƯQT về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả. Các
ĐƯQT quan trọng trong lĩnh vực này bao gồm: Công ước Berne về bảo hộ các tác
phẩm văn học, nghệ thuật; Công ước toàn cầu vè bản quyền; Công ước Rome về
bảo hộ ngưởi biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng; Công ước về
bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm về tổ chức phát sóng; Công ước về bảo hộ nhà sản
xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bản ghi âm của họ; Công ước về phổ biến
các chương trình mang tín hiệu truyền qua vệ tinh; Công ước WIPO về quyền tác
giả (WCT); Công ước của WIPO về người biểu diễn và người ghi âm (WPPT)…
Nhóm thứ 2, các ĐƯQT về SHCN trong đó bao gồm các ĐƯQT quy định về
bảo hộ quyền SHCN chung như công ước Paris về SHCN và các ĐƯQT quy định
về bảo hộ từng đối tượng của quyền SHCN như Hiệp định Madrid về ngăn chặn
những chỉ dẫn giả, hoặc làm nhầm lẫn xuất sứ hàng hóa; Hiệp định Nairobi về bảo
vệ ký hiệu Olympic; Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa (1994), Hiệp ước Luật nhãn
hiệu hàng hóa (2006); Hiệp ước Budapest về sự công nhận quốc tế đối với việc nộp
lưu chủng vi sinh nhằm tiến hành các thủ tục về patent; Hiệp ước Washington về sở
hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp; Hiệp ước Luật sáng chế (PLT)…
Nhóm thứ ba, các ĐƯQT quy định về xác lập hoặc liên quan đến xác lập
quyền SHCN như Hiệp ước hợp tác sáng chế (Hiệp ước PCT), Hiệp định Marid về
đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Nghị định thư liên qua đến hiệp định Madrid
về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Công ước Lahay về đăng ký quốc tế kiểu
dáng công nghiệp, Thỏa ước Nice về phân loại quốc tế nhãn hiệu, Thỏa ước
Strabourg về phân loại quốc tế sáng chế…
Nhóm thứ tư, ĐƯQT quy đinh chung về các đối tượng SHTT như Hiệp định
TRIPS.
Bên cạnh các ĐƯQT đa phương, các ĐƯQT song phương và ĐƯQT mang
tính khu vực về SHTT cũng được ký kết.
Trong số các ĐƯQT đa phương kể trên, bảo hộ sáng chế được quy định
34
trong Công ước Paris và Hiệp định TRIPS. Đối với Bảo hộ sáng chế dược phẩm còn
được điều chỉnh trong tuyên bố DOHA và trong nghị thư sửa đổi Hiệp định TRIPS.
Bên cạnh đó, Bảo hộ sáng chế cho còn được quy định trong các hiệp thương mại
song phương, ví dụ Hiệp định thương mại giữa Hoa Kỳ - Việt Nam (năm 2000);
Hoa Kỳ - Jornon (năm 2001); Hoa Kỳ-Singapore (năm 2004), Hoa kỳ - Úc (năm
2005) và trong một số Hiệp định khu vực. Tuy nhiên với phạm vi nghiên cứu của
Luận văn, tác giả chỉ giới hạn phân tích các quy định của các ĐƯQT đa phương và
đặc biệt trong Hiệp định TRIPS, trong tuyên bố DOHA và trong nghị thư sửa đổi
35
Hiệp định TRIPS về vấn đề bảo hộ sáng chế dược phẩm.
Chƣơng II
CÁC QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS LIÊN QUAN
BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM
2.1. Khái quát về Hiệp định TRIPS:
Vào năm 1995, Hiệp định liên quan đến các khía cạnh thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ (TRIPS) có hiệu lực như một phần của Vòng đàm phán Uruguay về
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), là một thỏa thuận đa phương
rất quan trọng được quản lý bởi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm tăng
cường và thống nhất một số khía cạnh của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại cấp
độ toàn cầu. Những bất cập của việc bảo hộ và các quy định liên quan đến thực thi
quyền sở hữu trí tuệ, cùng với sự thiếu vắng một cơ chế giải quyết tranh chấp quốc
tế được cho là đã được cải thiện trong Hiệp định TRIPS.
Lời mở đầu, cùng với các quy định tại các điều 7-8, quy định các đối tượng
áp dụng và các mục tiêu của Hiệp định TRIPS: để "giảm bớt sự bóp méo và cản trở
đối với thương mại quốc tế", và để các thành viên phải tính đến cả nhu cầu bảo hộ
sở hữu trí tuệ và sự cần thiết phải ngăn chặn bảo hộ trở thành rào cản đối với
thương mại hợp pháp. Lời mở đầu công nhận "các mục tiêu chính sách xã hội cơ
bản của hệ thống quốc gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ, trong đó có mục tiêu phát triển
và công nghệ".
Hiệp định có ba đặc điểm cơ bản sau. Thứ nhất, nó kết hợp các quy định của
Công ước Paris và phát triển trên cơ sở các quy định này. Nó đòi hỏi các nước thành
viên phải đảm bảo các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu đối với các quyền sở hữu trí tuệ
khác nhau, và trao quyền quyết định cách thức thực hiện mục tiêu này. Các yếu tố
chính của việc bảo hộ được quy định rõ bao gồm đối tượng bảo hộ, các quyền được
hưởng và các ngoại lệ đối với các quyền đó. Bằng cách đó, Hiệp định nhằm tạo ra
sự cân bằng giữa các lợi ích lâu dài trong việc thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới, phúc
lợi kinh tế và xã hội với chi phí ngắn hạn cho xã hội thông qua các ngoại lệ khác
nhau, ví dụ để giải quyết vấn đề y tế công cộng, như được quy định tại Điều 8 của
36
Hiệp định TRIPS.
"Thành viên có thể, xây dựng hoặc sửa đổi luật và các quy định của họ,
thông qua các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và dinh dưỡng, và
để thúc đẩy lợi ích công cộng trong các lĩnh vực quan trọng đối với phát triển kinh
tế-xã hội và công nghệ của mình, với điều kiện các biện pháp đó phù hợp với các
quy định của Hiệp định này. "
Thứ hai, Hiệp định TRIPS cung cấp các quy tắc cho việc thực thi quyền sở
hữu trí tuệ ở các nước thành viên. Liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, mỗi quốc gia
thành viên có nghĩa vụ phải quy định các thủ tục trong nước và biện pháp khắc phục
mang tính "khách quan và công bằng", và "không phức tạp hoặc tốn kém quá mức
cần thiết, hoặc đòi hỏi giới hạn thời gian bất hợp lý hoặc chậm trễ một cách tùy
tiện". Hiệp định đặt ra những nguyên tắc chung nhất định áp dụng đối với tất cả các
thủ tục thực thi sở hữu trí tuệ, cũng như một số quy định khác về tố tụng dân sự,
hành chính và biện pháp khắc phục. Nghĩa vụ chung của các quốc gia là cung cấp
cơ chế thực thi theo đó các thủ tục thực thi phải được quy định trong luật quốc gia,
cho phép chủ thể có quyền có thể bảo vệ lợi ích của họ có hiệu quả. Ngoài ra, Hiệp
định cho phép các nước thành viên có thể ra lệnh cấm trong các trường hợp liên
quan đến giấy phép bắt buộc và các quyền sử dụng khác.
Thứ ba, Hiệp định quy định việc giải quyết tranh chấp liên quan đến Hiệp
định TRIPS theo thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO. Hiệp định TRIPS đặt ra
các yêu cầu minh bạch trong đó buộc các nước thành viên đăng tải, công bố văn bản
pháp luật như luật và quyết định tư pháp, và thông báo các luật và quy định cho
Hội đồng TRIPS hoặc WIPO.
Ngoài ra, Hiệp định TRIPS cũng quy định một số nguyên tắc cơ bản, chẳng
hạn như "đối xử quốc gia" (Điều 3) - Đối xử công bằng cho người nước ngoài, cá
nhân và các công ty trong nước, và "tối huệ quốc" (Điều 4) - Đối xử công bằng cho
công dân của tất cả các đối tác thương mại trong WTO. Các nghĩa vụ theo hiệp định
sẽ được áp dụng như nhau đối với tất cả các nước thành viên, nhưng các nước đang
phát triển sẽ có một thời gian dài hơn theo các quy định chuyển tiếp đặc biệt được
áp dụng trong các tình huống như một nước đang phát triển hiện không bảo hộ bằng
37
sáng chế sản phẩm trong lĩnh vực dược phẩm.
Hiệp định TRIPS không phải là một đạo luật thống nhất, thay vào đó là một
thỏa thuận tiêu chuẩn tối thiểu cho phép thành viên cung cấp bảo hộ sở hữu trí tuệ ở
mức độ cao hơn và cũng để các thành viên tự do xác định phương pháp thích hợp
trong việc thực hiện các quy định của Hiệp định này trong phạm vi hệ thống pháp
luật và thực thi của mình .
Ý nghĩa quan trọng của Hiệp định TRIPS trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ
nói chung và bảo hộ sáng chế dược phẩm nói riêng được thể hiện ở các khía cạnh
như sau.
Một mặt, TRIPS mở rộng phạm vi các đối tượng bảo hộ sáng chế bao gồm
dược phẩm. Các tiêu chuẩn tối thiểu được đề cập trong Hiệp định TRIPS đảm bảo
sự bảo hộ sáng chế được cấp cho bất kỳ sáng chế nào, dù là sản phẩm hoặc quy
trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ theo các điều kiện là có tính mới, trình độ
sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp mà không phân biệt nơi sáng chế,
hoặc là sản phẩm được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu.
Mặt khác, Hiệp định TRIPS đã thiết lập các quy định chi tiết về việc thực thi
nhằm chống lại một cách hiệu quả bất kỳ hành vi xâm phạm nào, cũng như quy
trình giải quyết tranh chấp bắt buộc nhằm đáp ứng mục tiêu hài hòa hóa pháp luật
về sở hữu trí tuệ của các nước. Trong Phần III của Hiệp định, các quy định của
khoản 1 (Điều 41), đưa ra nghĩa vụ chung và nguyên tắc cơ bản mà tất cả các thủ
tục thực thi phải đáp ứng. Các phần sau, trong đó quy định về tố tụng dân sự và
hành chính và biện pháp khắc phục (Điều 42 đến Điều 49), tố tụng hình sự (Điều
61), các biện pháp bảo vệ để tránh các tác động tiêu cực của việc lạm dụng bảo hộ
sáng chế hoặc bằng sáng chế, nhưng trong thực tế vẫn chưa rõ liệu các nước có thể
và làm thế nào để sử dụng những biện pháp bảo hộ này khi bằng sáng chế ngày
càng cản trở khả năng tiếp cận y học.
Bên cạnh đó, Hiệp định TRIPS đã góp phần vào việc thúc đẩy đổi mới,
chuyển giao và phổ biến công nghệ một cách có lợi cho kinh tế xã hội và lợi ích
cộng đồng (Điều 7) và cho phép các thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết để
bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy lợi ích công cộng trong các lĩnh vực quan
trọng đối với phát triển kinh tế và công nghệ của họ (Điều 8). Hiệp định TRIPS cho
38
phép các nước thành viên quy định trong pháp luật của mình một số linh hoạt và
biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các linh hoạt cơ bản được xây dựng trong
Hiệp định TRIPS bao gồm li xăng bắt buộc (Điều 31), nhập khẩu song song (Điều
6), sử dụng thử nghiệm (Điều 30), trường hợp ngoại lệ Bolar (Điều 30) và áp dụng
các biện pháp cần thiết để đảm bảo vấn đề y tế công cộng (Điều 8).
Hiệp định TRIPS quy định nghĩa vụ cho tất cả các nước thành viên của WTO
thay đổi pháp luật trong nước và thừa nhận tiêu chuẩn tối thiểu về bảo hộ sở hữu trí
tuệ trong tất cả các lĩnh vực công nghệ, bao gồm cả lĩnh vực dược phẩm. Vì lẽ đó,
nhiều quốc gia đã thay đổi đáng kể các luật sở hữu trí tuệ của mình trong đó có
những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp dược phẩm. Có thể nói
rằng Hiệp định TRIPS đã tạo ra những thay đổi và tác động căn bản đối với vấn đề
bảo hộ sáng chế dược phẩm. Trước khi ban hành Hiệp định TRIPs, bảo hộ sáng chế
cho các dược phẩm hầu như không tồn tại ở nhiều nước nghèo và đang phát triển,
nhưng hiện nay các thành viên WTO đều phải áp dụng pháp luật sáng chế để bảo hộ
dược phẩm.
2.2 Các quy định của Hiệp định TRIPS về bảo hội sáng chế đối với dƣợc
phẩm
Hiệp định điều chỉnh các vấn đề khác nhau về sáng chế bao gồm sáng chế
đối với dược phẩm, như đối tượng của sáng chế và yêu cầu để được cấp bằng sáng
chế; các quyền mà người được cấp bằng sáng chế được hưởng; thời hạn bảo hộ tối
thiểu; không phân biệt đối xử; trật tự công cộng và đạo đức; các trường hợp ngoại
lệ; công bố thông tin; sử dụng bắt buộc; quy trình cấp bằng sáng chế… Hiệp định có
các tiêu chuẩn áp dụng chung cho bằng sáng chế bao gồm cả tiêu chuẩn nội dung
cũng như các vấn đề cụ thể của việc thực thi.
Đối với việc cấp bằng sáng chế dược phẩm, Hiệp định TRIPS áp đặt một
nghĩa vụ đối với các nước thành viên xem xét kỹ lưỡng hai bước: (1) tiến bộ kỹ
thuật nêu trong đơn xin cấp bằng sáng chế phải là một "sáng chế" (2) phải có "tính
mới" , "tính sáng tạo" và "khả năng công nghiệp áp dụng". Theo Hiệp định TRIPS,
các thành viên WTO phải cung cấp thời hạn bảo hộ tối thiểu là 20 năm kể từ ngày
nộp hồ sơ xin cấp bằng sáng chế cho bất kỳ một sản phẩm hoặc quy trình dược nào.
Quyền tối thiểu đối với sáng chế phải được trao bằng cách ngăn chặn những người
39
không được phép sử dụng quy trình được bảo hộ và sản xuất, sử dụng, chào bán,
hoặc nhập khẩu các sản phẩm được cấp bằng sáng chế, nhưng các quốc gia phải
thực hiện việc cấp bằng sáng chế dựa trên việc công bố đầy đủ về sáng chế và họ có
thể yêu cầu thông tin theo phương thức phù hợp nhất để thực hiện quy định này.
Mặt khác, quyền sáng chế dược phẩm không phải là tuyệt đối mà có thể bị
hạn chế hoặc có các ngoại lệ sau:
● Điều 30 của Hiệp định TRIPS xác định các trường hợp ngoại lệ theo nghĩa
rộng, cho phép các nước thực hiện một số ngoại lệ miễn là ngoại lệ đó không xung
đột một cách phi lý với việc khai thác bình thường sáng chế và không gây phương
hại đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bằng sáng chế, có tính đến lợi ích hợp pháp
của các bên thứ ba. Theo quy định này các quốc gia có quyền tự do đáng kể để quy
định trong pháp luật nước mình các loại và mức độ của ngoại lệ. Ví dụ, ngoại lệ về
nghiên cứu và thử nghiệm cho phép sử dụng sáng chế dược phẩm mà không phải
bồi thường cho chủ sở hữu cho mục đích giảng dạy hoặc cho các mục đích hợp
pháp khác. Tuy nhiên, nếu những sáng chế dược không góp phần nâng cao phúc lợi
công cộng vốn là mục tiêu cuối cùng của hệ thống bằng sáng chế, chúng có thể
không được bảo hộ thậm chí khi chúng đại diện cho một tiến bộ khoa học và công
nghệ quan trọng và đóng góp cho sự phát triển kỹ thuật .
● Các nước có thể cho phép bên thứ 3 sử dụng sáng chế dược phẩm (li xăng
bắt buộc) hoặc cho các mục đích phi thương mại công cộng (sử dụng của chính
phủ) mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu sáng chế theo một số điều kiện
nhằm đảm bảo cân bằng giữa lợi ích công cộng và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu
bằng sáng chế, (Điều 31). Một chủ sở hữu sáng chế dược không thể ngăn chặn các
bên thứ ba sử dụng sáng chế của mình, nhưng người này có quyền được hưởng thù
lao đối với việc sử dụng đó.
● Các quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp phù hợp với quy định của
TRIPS nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của chủ sở hữu
sáng chế dược phẩm. Khi một hành vi đã được xác định là phi cạnh tranh sau khi đã
hết thời hạn bảo hộ của pháp luật thì các điều kiện để cấp li xăng bắt buộc sẽ linh
hoạt hơn. Thành viên có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn chặn việc lạm
40
dụng quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu quyền hoặc để ngăn chặn việc dùng đến
các biện pháp hạn chế thương mại một cách bất hợp lý hoặc ảnh hưởng xấu đến
chuyển giao công nghệ quốc tế.
2.2.1 Đối tƣợng bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm
Một trong những quy định quan trọng của Hiệp định TRIPS về sáng chế
được nêu tại Điều 27, trong đó yêu cầu bảo hộ sáng chế được cấp cho bất kỳ sáng
chế nào thỏa mãn các điều kiện theo Hiệp định TRIPS bao gồm các sản phẩm và
quy trình dược.
“1. Theo các quy định tại các khoản 2 và 3, các bằng sáng chế sẽ được áp
dụng cho bất kỳ sản phẩm hoặc quy trình nào, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ,
với điều kiện là tính mới, trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.
Phù hợp với khoản 4 Điều 65, khoản 8 Điều 70 và khoản 3 Điều này, sáng chế sẽ
được cấp mà không phân biệt đối xử về địa điểm của sáng chế, lĩnh vực công nghệ
và các sản phẩm được nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước.
2. Các Thành viên có thể loại trừ không cấp bằng sáng chế cho những sáng
chế cần phải bị cấm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình
để bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức
khoẻ của con người và động vật hoặc thực vật hoặc để tránh gây nguy hại nghiêm
trọng cho môi trường, với điều kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì
lý do duy nhất là việc khai thác các sáng chế tương ứng bị pháp luật của nước đó
ngăn cấm.
3. Các Thành viên cũng có thể loại trừ không cấp bằng sáng chế cho:
a) các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa để
chữa bệnh cho người và động vật;
b) thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh, và các quy trình sản
xuất thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các
quy trình phi sinh học hoặc vi sinh. Tuy nhiên, các Thành viên phải bảo hộ giống
cây bằng hệ thống bằng sáng chế hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc
bằng sự kết hợp giữa hai hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào. Các quy định của
điểm này phải được xem xét lại sau 4 năm kể từ khi Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu
41
lực”[31].
Điều 27.1 của Hiệp định TRIPS quy định bảo hộ sáng chế được dành cho bất
kỳ phát minh nào dù là sản phẩm hoặc quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công
nghệ, với điều kiện là chúng có tính mới, trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng
công nghiệp. Theo phạm vi rộng quy định tại Điều 27.1, dược phẩm nhất định
không thể bị loại trừ khỏi phạm vi đối tượng được bảo hộ sáng chế. Mặc dù Hiệp
định TRIPS không định nghĩa thuật ngữ "công nghệ" thì lĩnh vực dược phẩm thuộc
phạm vi điều chỉnh của điều này và các sáng chế phải được cấp trong lĩnh vực này
là không có gì bàn cãi. Mặt khác, Điều 27.1 cũng thiết lập nguyên tắc không phân
biệt đối xử trong lĩnh vực công nghệ ,"sáng chế sẽ được cấp và quyền sáng chế sẽ
được hưởng mà không phân biệt đối xử về địa điểm của sáng chế, lĩnh vực công
nghệ...", có nghĩa là thành viên không thể từ chối cấp bằng sáng chế trong các lĩnh
vực công nghệ đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc gia về tính mới, trình độ
sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghiệp.
Tuy nhiên, Hiệp định TRIPS không định nghĩa "phát minh", cũng không có
sự phân chia giữa "phát minh" và "khám phá" - vốn không được coi là sáng chế
theo pháp luật truyền thống, chẳng hạn như ý tưởng trừu tượng, các quy luật tự
nhiên, và các chất y tế được tìm thấy trong thiên nhiên. Trên thực tế, các quốc gia
thiết lập các tiêu chuẩn riêng của họ cho các nội dung này.
Điều 27.1 cũng yêu cầu các thành viên cấp các sáng chế cho cả các sản phẩm
và quy trình dược. Nếu một bằng sáng chế được cấp cho một quá trình sản xuất
dược phẩm thì các quyền phải mở rộng cho các dược phẩm thu được trực tiếp từ
quá trình này. Sự khác biệt giữa một bằng sáng chế quy trình và bằng sáng chế sản
phẩm là sáng chế cho quy trình mang lại cho chủ sở hữu độc quyền trong quá trình
sản xuất còn sáng chế sản phẩm mang lại độc quyền trên các sản phẩm đó ngay cả
khi chúng được sản xuất thông qua các quy trình khác nhau. Nói cách khác đối với
bằng sáng chế cho quy trình, thuốc hoặc dược phẩm được sáng chế có thể được sản
xuất bởi những người khác sử dụng một quy trình khác với quy trình được cấp bằng
sáng chế, nhưng đối với sáng chế cho dược phẩm thì việc sản xuất, bán, phân phối
và nhập khẩu những thuốc và dược phẩm nếu không được phép của chủ sở hữu
bằng sáng chế sẽ bị cấm. Vì vậy sáng chế cho sản phẩm dược theo quy định của
42
Hiệp định TRIPS là nghiêm ngặt hơn vì nó trao cho người được cấp bằng được
phép độc quyền sản xuất thuốc. Điều 27.1 của Hiệp định TRIPS giải quyết một
trong những thiếu sót chính của Công ước Paris, cụ thể là định nghĩa sáng chế nào
có đủ điều kiện cấp bằng sáng chế và lần đầu tiên quy định cái gọi là "nguyên tắc
chung về điều kiện để được cấp bằng sáng chế " cho cả sản phẩm và quy trình trong
tất cả các lĩnh vực công nghệ bao gồm lĩnh vực dược. Theo Công ước Paris, các
quốc gia được tự do để loại trừ các lĩnh vực không được cấp bằng sáng chế và quy
định những quy tắc đặc biệt cho một số loại sáng chế, cũng như xác định các yêu
cầu về cấp sáng chế. 49 quốc gia tham gia Công ước Paris đã loại trừ sản phẩm
dược ra khỏi phạm vi cấp bằng sáng chế và mười quốc gia của công ước Paris loại
trừ quy trình sản xuất dược phẩm. Hiệp định TRIPS đã thay đổi tình trạng này bằng
cách áp đặt các nghĩa vụ về điều kiện cấp bằng sáng chế, cấm phân biệt đối xử giữa
các ngành và nơi sản xuất ra sáng chế, và hạn chế quyền của quốc gia để phân biệt
đối xử dành cho các sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu. Do đó, sáng chế
đối với dược phẩm và quy định dược được điều chỉnh như bởi các Hiệp định TRIPS
giống như sáng chế trong các lĩnh vực khác.
Điều 27.1 Hiệp định TRIPS không cho phép loại trừ việc cấp bằng sáng chế
cho thuốc nói chung, nhưng Điều 27.2 và Điều 27.3 quy định quyền tự quyết của
các thành viên để loại trừ một số loại đối tượng khỏi phạm vi cấp bằng sáng chế.
Sản phẩm Dược không được đưa vào danh sách loại trừ này.
Điều 27.2 chỉ rõ rằng việc không cấp sáng chế vì lý do "trật tự công cộng" là
được phép nếu cần thiết để ngăn chặn khai thác thương mại. Nó cho phép loại trừ
cấp bằng sáng chế trong một số tường hợp, tùy thuộc vào đạo đức công cộng, đặc
biệt là trong các lĩnh vực sáng chế mà việc khai thác thương mại nó bị ngăn chặn để
bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức, sức khỏe con người, động vật , thực vật hoặc
sức khỏe hoặc để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường .
Điều 27.3 quy định rằng các thành viên có thể loại trừ một số phương pháp,
phát minh về động thực vật mà không phải là vi sinh vật khỏi phạm vi cấp bằng
sáng chế vì nó gây tranh cãi nghiêm trọng về đạo đức, tôn giáo và văn hóa.
Điều 27.3 ( a) loại trừ các phát minh liên quan đến chẩn đoán, phương pháp
điều trị ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật khỏi phạm vi cấp bằng sáng
43
chế dựa trên các vấn đề sức khỏe cộng đồng và nhân đạo, nhưng ở một số quốc gia
khác những phát minh không được cấp bằng sáng chế bởi chúng thiếu tính áp dụng
công nghiệp. Mặt khác, một số luật quy định rõ ngoại lệ này không áp dụng đối với
bất kỳ thiết bị hoặc sản phẩm nào, chẳng hạn như thiết bị y tế, sản phẩm y tế và
dược chất, có thể được sử dụng cho mục đích chẩn đoán, phẫu thuật hoặc điều trị.
Điều 27.3 (b) quy định các trường hợp không được cấp sáng chế liên quan
đến cây trồng và động vật nhưng không phải bản thân cây trồng và động vật. Vì
Hiệp định TRIPS quy định linh hoạt nhất định, các ngoại lệ trong các hệ thống luật
khác nhau có sự khác biệt đáng kể. Ở một số nước không có điều khoản quy định để
loại trừ những loại phát minh này khỏi phạm vi cấp bằng sáng chế độc quyền.
2.2.2 Tiêu chuẩn cấp bằng sáng chế dƣợc phẩm
Hệ thống bằng sáng chế áp đặt một số điều kiện đối với những người xin cấp
bằng sáng chế để chứng minh cho việc cấp bằng sáng chế bởi chính phủ và đảm bảo
nhà sáng chế được hưởng các quyền tương ứng sự đóng góp của họ. Giống như hầu
hết các hệ thống pháp luật về sáng chế, Hiệp định TRIPS sử dụng ba tiêu chuẩn để
xem xét cấp bảo hộ sáng chế dược phẩm, cụ thể là: tính mới, tính sáng tạo, và khả
năng ứng dụng công nghiệp của dược phẩm hoặc quy trình dược.
Điều 27.1 của TRIPS cho phép thành viên WTO quyền yêu cầu chứng minh
tính mới như một điều kiện để cấp bằng sáng chế dược. Tuy nhiên Hiệp định không
định nghĩa thế nào là một sáng chế có tính mới. Các nước Thành viên được tự do
thiết lập các tiêu chuẩn để xác định tính mới của sáng chế ở mức độ rộng hay hẹp,
tức là tính mới trên phạm vi quốc gia hay phạm vi toàn cầu. Ví dụ, Công ty dược
phẩm A được cấp bằng sáng chế cho thuốc chữa HIV ở các nước OECD nhưng lại
không xin cấp bằng sáng chế ở Senegal. Thuốc được cấp bằng không được bán ở thị
trường Senegal. 5 năm sau, công ty A thay đổi chiến lược của mình và áp dụng bảo
hộ sáng chế ở Senegal. Trong trường hợp này, thuốc sẽ được coi là có tính mới theo
tiêu chuẩn tính mới ở phạm vi quốc gia vì nó chưa từng xuất hiện trước công chúng
Senegal trước đó. Tuy nhiên, nếu theo tiêu chuẩn tính mới toàn cầu thì thuốc này sẽ
không được coi là có tính mới vì đã được biết đến tại các quốc gia khác trong 5 năm
qua, do đó nó có thể bị từ chối cấp bằng sáng chế. Theo tiêu chuẩn chung về tính
mới trong pháp luật về sáng chế hiện nay ở các nước, sáng chế trong lĩnh vực dược
44
phẩm phải không được tiết lộ cụ thể trước đó dưới mọi hình thức tính đến ngày nộp
đơn xin cấp bằng. Yêu cầu đối với tính mới thường được dựa trên việc đánh giá và
so sánh với những sáng chế trước đó ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Nhìn chung, một
sáng chế sẽ không được coi là có tính mới nếu trước đó nó đã được công bố bằng
văn bản, đã được sử dụng hoặc được tiết lộ bằng bất kỳ hình thức trao đổi thông tin
công cộng nào khác. Về tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế này cũng có những quy định
khác nhau trong pháp luật các nước. Ví dụ, cho đến năm 2008, Luật Sáng chế của
Trung Quốc vẫn quy định giải pháp hữu ích sẽ đáp ứng tính mới và được cấp bằng
nếu chưa được sử dụng dưới dạng khai thác ở thị trường Trung Quốc mặc dù đã
được bộc lộ ở nơi khác trên thế giới. Trong khi đó, hầu hết luật của các nước đều
quy định sáng chế phải có tính mới so với trình độ kĩ thuật trên thế giới (nghĩa là
sáng chế đã được công bố hoặc đã được sử dụng ở bất kì nơi nào trên thế giới sẽ bị
coi là không có tính mới). Việc quy định phạm vi của tính mới (thế giới hay trong
nước) đối với sáng chế được bảo hộ có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực dựa
trên những quan điểm khác nhau. Trong mối quan hệ quốc tế, có thể giải thích rằng
việc hạ thấp tiêu chuẩn bảo hộ về tính mới (đã có ở nước ngoài nhưng chưa có thấy
ở trong nước) có thể có lợi cho người dân trong nước nếu họ lấy những thứ của
người nước ngoài đăng ký thành của mình nếu người nước ngoài chưa đăng ký ở
nước mình mặc dù đã đăng ký ở nước ngoài. Tuy vậy, nếu xét theo nghĩa rộng thì
có nguy cơ xảy ra là nhiều sáng chế đáng ra không nên được đăng ký vì đã được
công bố từ trước ở nước ngoài nhưng lại có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế
trong nước. Trong trường hợp này, lợi ích của công chúng nói chung lại bị ảnh
hưởng vì đáng ra sáng chế đó đã thuộc về công chúng.
Hiệp định TRIPS cũng không có định nghĩa về tính sáng tạo của sáng chế và
trao quyền cho các nước Thành viên tự do xác lập tiêu chuẩn về vấn đề này. Nói
chung, tính sáng tạo được giải thích bằng thuật ngữ “không rõ ràng” hoặc “không
hiển nhiên”, có nghĩa là một sáng chế là tiến bộ kỹ thuật đặt trong mối tương quan
so sánh với kiến thức hiện có phải là không hiển nhiên đối với người có kỹ năng
trung bình trong lĩnh vực liên quan. Độc quyền sáng chế chỉ được và chỉ nên cấp
cho những thành quả sáng tạo thực sự, tức là những gì hiển nhiên đối với mọi người
thì không thể thuộc độc quyền của bất kỳ ai. Trong lĩnh vực hóa học và dược phẩm,
45
đối với các trường hợp có mối quan hệ mật thiết về cấu trúc giữa một hợp chất mới
và những chất đã biết, chẳng hạn như muối của axit, bazơ, đồng phân và đồng đẳng
thì có thể dẫn đến việc chất mới không được cấp bằng sáng chế. Ví dụ, Cơ quan
Sáng chế châu Âu (EPO) coi một tiến bộ kỹ thuật nhất định mà có thể dự đoán
trước thì sẽ trở thành hiển nhiên, rõ ràng. Ngược lại, tại Hoa Kỳ, sự hiện diện của
một tiến bộ có thể dự đoán trước không đủ để làm cho nó bị loại trừ khỏi phạm vi
cấp bằng sáng chế. Quy định về kiểm tra tính sáng tạo là công cụ để các nước xác
định giới hạn về chính sách giữa cạnh tranh tự do với khuyến khích sự đổi mới và
tiến bộ công nghệ. Về nguyên tắc, các nước có trình độ công nghệ phát triển sẽ
được lợi hơn khi thiết lập các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về tính sáng tạo nhằm tăng
cường bảo hộ cho giới kỹ sư và tăng tính cạnh tranh.
Yêu cầu thứ ba theo Hiệp định TRIPS là sáng chế phải có khả năng áp dụng
công nghiệp. Điều kiện này yêu cầu một sáng chế dược phải mang lại lợi ích cho
cộng đồng. Quy định này nhằm khuyến khích phát triển công nghệ và các giải pháp
mang tính thực tiễn. Hiệp định TRIPS yêu cầu chứng minh tính áp dụng công
nghiệp hoặc tính hữu dụng như một điều kiện để cấp bằng sáng chế nhưng không có
định nghĩa cụ thể về điều kiện này. Khái niệm về ứng dụng công nghiệp rất khác
nhau tại các quốc gia, đặc biệt là các sáng chế về công nghệ sinh học. Nhìn chung,
bất kỳ phát minh nào có thể đưa vào sản xuất hoặc sử dụng trong hoạt động thương
mại, tạo ra sản phẩm công nghiệp đều được coi là đáp ứng tiêu chuẩn này. Một vấn
đề nữa là, nghĩa vụ chứng minh được yêu cầu đến mức độ nào để chứng minh sáng
chế có đầy đủ tính "ứng dụng công nghiệp". Mặc dù có sự khác biệt về hệ thống
luật, nhưng nhiều quốc gia yêu cầu nhà sáng chế tuyên bố việc sử dụng cụ thể. Việc
sử dụng mang giả thuyết thường không đáp ứng các yêu cầu này. Đối với một số
sáng chế chẳng hạn như sản phẩm gen có một số tính năng rất rộng và không được
biết, thì yêu cầu về tính sử dụng cụ thể có thể hạn chế khả năng được cấp bằng của
người nộp đơn. Mặt khác, theo cơ quan sáng chế châu Âu (EPO), các phát minh
mang tính thử nghiệm thuần túy và các công cụ nghiên cứu về công nghệ sinh học
được coi là không có tính ứng dụng công nghiệp còn Văn phòng Thương hiệu và
Sáng chế Hoa Kỳ (USPTO) coi các phát minh loại này không có tính thiết thực
46
đáng kể. Đối với các dụng cụ nghiên cứu nói trên, EPO yêu cầu sự cần thiết phải chỉ
rõ một phương thức mang tính thực tế để sử dụng các dụng cụ này trong ít nhất một
lĩnh vực công nghiệp thì mới được coi là có tính ứng dụng công nghiệp.
Ví dụ sau đây sẽ minh họa cho việc xem xét tiêu chuẩn thứ ba của Hiệp định
để cấp bằng sáng chế. Nhà nghiên cứu A xin cấp bằng sáng chế cho EST là một
phần nhỏ của trình tự DNA, có thể sử dụng để xác định những gen chưa biết và lập
bản đồ của chúng trong một bộ gen. Sáng chế được mô tả là việc tách riêng các gen
mang thông tin di truyền protein để thực hiện các nghiên cứu khác. Cơ quan sáng
chế cho rằng EST có tính mới và không hiển nhiên vì nó được tách riêng ra từ môi
trường tự nhiên, nhưng nó cần phải thể hiện được một chức năng cụ thể. Việc dẫn
chiếu chung chung đến tính năng sử dụng EST cho các nghiên cứu khác là chưa đủ
để chứng minh tính ứng dụng công nghiệp của sáng chế này (US Federal Circuit, In
re Fisher, 2005). Việc cấp bằng sáng chế cho EST có thể ngăn cản các nhà nghiên
cứu khác được sử dụng công cụ quan trọng này, đe dọa gây ảnh hưởng đến nghiên
cứu và tiến bộ y sinh.
2.2.3. Nghĩa vụ công bố thông tin:
Điều 29.1 của Hiệp định TRIPS đặt ra yêu cầu đối với các Thành viên rằng,
người nộp đơn phải cung cấp thông tin kỹ thuật về sáng chế để những người khác
có thể ứng dụng những gì mà người nộp đơn tuyên bố trong đơn xin cấp bằng sáng
chế của mình.
“1. Thành viên có trách nhiệm yêu cầu người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế
trình bày sáng chế một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức căn cứ vào đó một chuyên
gia trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện sáng chế và có thể yêu cầu
người nộp đơn chỉ ra cách thức tối ưu trong số cách thức thực hiện sáng chế mà tác
giả sáng chế biết tính đến ngày nộp đơn hoặc cho đến ngày ưu tiên của đơn nếu có
yêu cầu hưởng quyền ưu tiên ...”[31].
Mặc dù việc cấp quyền độc quyền sáng chế, trong đó có sáng chế dược
phẩm, được coi là sự khuyến khích đầu tư vào các hoạt động sáng tạo, yêu cầu công
bố thông tin là cần thiết để cân bằng lợi ích của các bên và giảm thiểu sự thiếu hiệu
quả của sức mạnh thị trường do việc lạm dụng độc quyền. Yêu cầu về tính công
47
khai có thể đáp ứng được mục tiêu xã hội về chia sẻ lợi ích vì nó cho phép công bố
những kỹ thuật hữu ích và quan trọng ngay trong thời hạn bảo hộ, và đảm bảo rằng
sáng chế thực sự phục vụ cho cộng đồng sau khi hết thời hạn bằng sáng chế.
Công bố thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật sáng
chế. Quy định nói trên của Hiệp định TRIPS bao hàm nghĩa vụ về cung cấp thông
tin sáng chế, nhưng trao quyền cho các nước Thành viên tự do xác định việc áp
dụng các nghĩa vụ này. Điều 29.1 của Hiệp định đặt ra hai yêu cầu bắt buộc. Thứ
nhất, điều khoản này yêu cầu nước Thành viên công bố thông tin về sáng chế một
cách đầy đủ và rõ ràng để sáng chế có thể được thực hiện bởi người có kỹ năng
trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Yêu cầu này nhằm đảm bảo các sáng chế thực
hiện được chức năng thông tin của mình thông qua việc đòi hỏi bản ghi chi tiết kỹ
thuật của sáng chế có thể cho phép những chuyên gia có kỹ năng trong lĩnh vực kỹ
thuật tương ứng có thể sản xuất và sử dụng đầy đủ sáng chế mà không cần phải thử
nghiệm. Thứ hai, Điều 29.1 đòi hỏi về “cách thức tối ưu” tương tự như quy định của
pháp luật Hoa Kỳ về sáng chế. Yêu cầu này nhằm ngăn chặn việc nhà sáng chế
nhận được bảo hộ trong khi che giấu công chúng thông tin cụ thể về sáng chế của
mình. Không giống như yêu cầu thứ nhất vốn đòi hỏi một sự xem xét khách quan,
yêu cầu về “cách thức tối ưu” mang tính chủ quan do việc đánh giá thế nào được coi
là cách thức tối ưu để thực hiện sáng chế phụ thuộc vào những gì mà nhà sáng chế
biết và cho là cách tốt nhất để thực hiện sáng chế của mình tại thời điểm nộp đơn
xin cấp bằng bảo hộ hoặc vào ngày ưu tiên. Trên thực tế, thông tin nói trên hiếm khi
bao gồm bí quyết cụ thể (know-how) để thực hiện sáng chế vì tại thời điểm nộp
đơn, kinh nghiệm sản xuất là chưa có.
Ngoài ra, Điều 29.2 cho phép các nước Thành viên yêu cầu thông tin liên
quan đến đơn và bằng bảo hộ tương ứng của người nộp đơn ở nước ngoài. Những
thông tin này có thể rất quan trọng đặc biệt với các văn phòng sáng chế ở các nước
đang phát triển nhằm cải thiện và đẩy nhanh quy trình kiểm tra. Tuy nhiên yêu cầu
này không ảnh hưởng đến nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của đơn xin cấp bằng
sáng chế, Hiệp định không đề cập đến hệ quả của việc không thực hiện yêu cầu này.
Song, vì yêu cầu này có thể được áp dụng như một điều kiện cấp bằng, nên một đơn
xin cấp bằng có thể bị từ chối nếu người nộp đơn không cung cấp những thông tin
48
được yêu cầu nói trên.
Hiệp định dành không gian đáng kể cho các nước Thành viên áp dụng các
tiêu chuẩn của Điều 29, theo đó các nước có thể áp dụng theo hướng thắt chặt các
tiêu chuẩn này để thúc đẩy sự sáng tạo và cạnh tranh. Ngoài ra, các nước Thành
viên được quyết định mức độ nghĩa vụ cung cấp thông tin của người nộp đơn đến
đâu, nếu sáng chế bao gồm nhiều phần được xin cấp bằng. Hơn nữa, nước Thành
viên cũng có thể yêu cầu bản mô tả sáng chế dưới dạng văn bản, và xác định cách
thức đánh giá mối tương quan giữa bản mô tả với yêu cầu cấp bằng cũng như
phương pháp để xem xét nội dung yêu cầu cấp bằng.
2.2.4 Ngoại lệ của cấp bằng độc quyền sáng chế dƣợc phẩm
Điều 5A của Công ước Paris, như là một phần của Hiệp định TRIPS, quy
định rằng mỗi thành viên WTO có quyền áp dụng các biện pháp pháp lý quy định
về cấp giấy phép bắt buộc để ngăn chặn việc lạm dụng có thể dẫn đến hình thành
việc thực hiện độc quyền. Điều này được lặp lại tại Điều 30, 31 của Hiệp định
TRIPS quy định cụ thể một số trường hợp theo đó một quốc gia có quyền cấp giấy
phép bắt buộc vì lợi ích công cộng. Cụ thể là, Điều 30 của Hiệp định TRIPS cho
phép sử dụng mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế trong các trường
hợp có điều kiện:
"Các thành viên có thể cung cấp một số ngoại lệ đối với độc quyền theo bằng
sáng chế, với điều kiện ngoại lệ đó không xung đột bất hợp lý với việc khai thác
bình thường sáng chế và không gây phương hại bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của
chủ sở hữu bằng sáng chế, có tính đến lợi ích hợp pháp của bên thứ ba" [31].
Điều 31 của Hiệp định TRIPS quy định chi tiết một danh sách các yêu cầu về
thủ tục cho sự hạn chế độc quyền, cung cấp cơ sở cho nước thành viên cấp giấy
phép bắt buộc nếu tất cả các yêu cầu về thủ tục này được đáp ứng, chẳng hạn như
việc sử dụng không được phép phải được xem xét trong từng trường hợp cụ thể, bị
giới hạn về "phạm vi và thời gian" và được rà soát, đồng thời người sử dụng trái
phép phải có những nỗ lực trước đó để được chuyển nhượng công nghệ sáng chế
trước khi được phép sử dụng mà không không cần sự đồng ý của chủ sở hữu.
Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế là một sự chuyển nhượng của chính
phủ cho phép chính mình hoặc một bên thứ ba để thực hiện các sáng chế mà không
49
có sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế. Nó là một công cụ cần thiết và quan trọng
của chính phủ để can thiệp vào thị trường và giới hạn quyền sáng chế nếu chủ sở
hữu lạm dụng quyền này bằng cách từ chối đưa sáng chế ra thị trường hoặc chào
bán nó với giá cao bất thường mà khách hàng tiềm năng không thể mua được. Ví
dụ, Điều 69 của Luật Sở hữu công nghiệp năm 1996 của Brazil cho phép chính phủ
cấp giấy phép bắt buộc nếu chủ sở hữu sáng chế không sản xuất các công nghệ
được cấp bằng tại địa phương trong vòng ba năm kể từ ngày cấp.
Mỗi quốc gia sẽ có những ưu tiên riêng của mình để áp dụng chuyển giao bắt
buộc. Tại Hoa Kỳ và Châu Âu, có nhiều lợi ích trong việc cấp phép bắt buộc đối với
các bằng sáng chế công nghệ sinh học chung, các công cụ nghiên cứu, sáng chế phụ
thuộc, và cấp phép bắt buộc cũng là một biện pháp khắc phục cho giá cả bất hợp lý.
Ví dụ, tại Hoa Kỳ, Viện Y tế quốc gia cấp giấy phép bắt buộc để tạo điều kiện phổ
biến rộng hơn về "công cụ nghiên cứu" trong công nghệ sinh học. Ở các nước phát
triển chuyển giao bắt buộc được sử dụng để có được mức giá thấp hơn đối với thuốc
phòng chống AIDS, các bệnh nhiệt đới, các loại vắc-xin khác nhau và thuốc thiết
yếu khác. Ví dụ, chính phủ Thái Lan công bố vào năm 2006 rằng nước này dự kiến
cấp chuyển giao bắt buộc đối với một bằng sáng chế bao gồm thuốc điều trị AIDS.
Chính phủ Brazil đã sử dụng thành công trong việc cảnh báo chuyển giao bắt buộc
để thuyết phục các công ty dược đàm phán giảm giá các loại thuốc HIV mới.
Mặt khác, Điều 31 Hiệp định TRIPS cũng quy định việc sử dụng các chuyển
giao bắt buộc khi có những lý do quan trọng nhất định cho phép việc sử dụng không
cần sự đồng ý của chủ sở hữu. Căn cứ để cấp chuyển giao bắt buộc mà không cần
nỗ lực trước đó để được chuyển nhượng trong hai trường hợp sau: khi có một lợi ích
công cộng quan trọng với mức độ "tình trạng khẩn cấp quốc gia hoặc hoàn cảnh
khác cực kỳ khẩn cấp", hoặc khi chuyển giao bắt buộc được sử dụng để khắc phục
các hành vi phi cạnh tranh như giá quá cao do sự thống trị thị trường và thất bại
trong việc cung cấp sản phẩm cần thiết bao gồm thuốc ở giá cả phải chăng.
Thông thường, trong trường hợp có hành vi phi cạnh tranh, việc đàm phán
trước là không cần thiết, nhưng việc sản xuất ban đầu sẽ nhận được chi phí bồi
thường cho lợi ích bị mất. Tuy nhiên, thỏa thuận Doha năm 2001 quy định rằng một
50
quốc gia có thể cấp chuyển giao bắt buộc đối với một loại thuốc mà không cần bồi
thường trong trường hợp có một căn bệnh đe dọa gây ra tình trạng nguy hại khẩn
cấp cho sức khỏe tại nước đó.
Cấp giấy phép bắt buộc theo Hiệp định TRIPS là một vấn đề phức tạp do sự
không chắc chắn và rủi ro pháp lý :
- Thứ nhất, Điều 31 không nêu rõ "bên thứ ba" được chính phủ cho phép
phải là nhà sản xuất địa phương hoặc nước ngoài, hay một thành viên WTO có
nghĩa vụ phải công nhận hiệu lực của chuyển giao bắt buộc nước ngoài. Quyền cấp
chuyển giao bắt buộc sẽ là vô nghĩa, đặc biệt là cho các nước đang phát triển, nếu
nó không được cấp cho nhà sản xuất nước ngoài.
- Thứ hai, theo Điều 5B của Công ước Paris, thiếu lao động địa phương hoặc
thiếu sản xuất công nghiệp địa phương, và sử dụng thương mại (bán và nhập khẩu
sản phẩm sáng chế) được quy định rõ ràng như một căn cứ để cấp chuyển giao bắt
buộc. Tuy nhiên, Điều 31 của Hiệp định TRIPS không đề cập đến cũng không loại
trừ trường hợp nói trên. Trong trường hợp này, người ta có thể lập luận rằng TRIPS
cho phép chuyển giao bắt buộc do thiếu lao động địa phương.
- Điều 31(f) quy định rằng chuyển giao bắt buộc được ban hành "chủ yếu để
cung cấp cho thị trường trong nước", nhưng nó không ngăn việc xuất khẩu những
sản phẩm được sản xuất theo giấy phép bắt buộc. Do đó, có khả năng những sản
phẩm sản xuất trong nước theo chuyển giao bắt buộc sẽ dồn đến thị trường các nước
thứ ba, nơi chúng có thể cạnh tranh với các sản phẩm tương tự được bảo hộ tại thị
trường nước thứ ba.
- Đối với những nước đang phát triển mà các nhà sản xuất địa phương không
có khả năng sản xuất thuốc đủ số lượng và chất lượng theo chuyển giao bắt buộc,
quyền trao cho nước này theo Điều 31 sẽ không có hiệu lực trong thực tế, trừ khi nó
đã có thể ủy thác việc sản xuất cho một nhà sản xuất nước ngoài.
Mặc dù Hiệp định TRIPS cho phép và luật pháp của các nước đang phát triển
đều có quy định về việc cấp li-xăng bắt buộc đối với sáng chế nhưng việc áp dụng
quy định này vào thực tế không dễ dàng, điển hình là trong lĩnh vực sáng chế dược
phẩm. Trên thực tế, li-xăng cưỡng bức thường được cấp để sử dụng sáng chế dược
phẩm thuộc sở hữu của các công ty dược phẩm đa quốc gia. Tuy nhiên, năng lực
51
công nghệ hạn chế của các doanh nghiệp dược phẩm ở các nước đang phát triển trở
thành rào cản cho việc áp dụng quy định về li-xăng bắt buộc. Chính phủ của các
nước đang phát triển có thể cho phép các công ty dược phẩm trong nước sử dụng
sáng chế dược phẩm của các công ty nước ngoài nhưng các công ty này không đủ
trình độ công nghệ để tiến hành sản xuất. Thực tế này đã dẫn đến việc ra đời của
Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS, trong đó cho phép xuất khẩu sản phẩm
được sản xuất theo li-xăng bắt buộc sang các nước khác cũng có nhu cầu cấp li-
xăng bắt buộc nhưng không có khả năng công nghệ để sản xuất sản phẩm theo li-
xăng đó (với những điều kiện bổ sung nhất định được quy định cụ thể trong Nghị
định thư này).
Ví dụ dưới đây cho thấy thực tế không đơn giản của việc cấp giấy phép
chuyển giao bắt buộc sáng chế dược phẩm tại các quốc gia hiện nay. Vào tháng Ba
năm 2012, một quyết định của Cục Sáng chế Ấn Độ đã thu hút sự chú ý của các chủ
. Lần đầu tiên tại Ấn sở hữu bằng đô ̣c quyền sáng chế dược phẩm trên toàn thế giới
Độ, một nhà sản xuất thuốc generic đã được cấp một li xăng bắt buộc để sản xuất và
c quyền sáng bán một phiên bản generic của một dược phẩm đã được cấp bằng đô ̣
chế. Mặc dù Công ty Bayer, nhà sản xuất thuốc danh tiếng đang nộp đơn khiếu nại
nhưng quyết định này có thể tạo ra một tiền lệ cho việc cấp li xăng cưỡng bức tại
Ấn Độ. Nội dung cụ thể của vụ việc như sau.
Thuốc được cấp Bằng đô ̣c quyền sáng chế tại Ấn Độ của Bayer
Bayer nắm giữ Bằng đô ̣c quyền sáng chế đối với hợp chất Sorafenib
Tosylate. Dưới nhãn hiệu Nexavar , thuốc Sorafenib được sử dụng để điều trị bệnh
ung thư gan và thận. Thuốc không phải để chữa khỏi bệnh mà nhằm kéo dài thêm
sự sống của bệnh nhân ung thư gan , thận giai đoạn cuối . Bayer được cấp Bằng đô ̣c
quyền sáng chế cho thuốc Nexavar tại Ấn Độ năm 2008. Giá liều dùng một tháng
cho bệnh nhân Ấn Độ khoảng 5.600 USD tương đương 3,5 năm lương của một viên
chức Ấn Độ ở bậc thấp nhất. Lượng bán Nexavar tại Ấn Độ khoảng 200 liều/một
tháng cho mỗi năm, thống kê cho thấy may lắm số lượng trên chỉ đáp ứng khoảng
2% số bệnh nhân ung thư cần dùng. Cipla là nhà sản xuất thuốc generic của Ấn Độ
đã sản xuất và bán Sorafenib tại Ấn Độ từ giữa năm 2010. Giá bán một liều /một
tháng của Cipla chỉ 550 USD. Bayer đã nộp đơn khởi kiện Cipla xâm phạm đô ̣c
52
quyền của mình và vụ kiê ̣n đang trong quá trình giải quyết .
Ấn Độ không cấp Bằng đô ̣c quyền sáng chế cho thuốc chữa bệnh cho đến
năm 2005 và chỉ bắt đầu mở rộng việc bảo hộ sáng chế cho thuốc vào năm 2005
trong nỗ lực nhằm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) bao gồm việc
thừa nhận Hiệp định TRIPs. TRIPs đòi hỏi các thành viên WTO phải tạo điều kiện
bảo hộ cho “bất kỳ sáng chế nào, dù là một sản phẩm hay một quy trình trong mọi
lĩnh vực của sáng chế” . TRIPs cũng cho phép các thành viên ban hành luật pháp
nhằm chống lại sự lạm dụng đô ̣c quyền đối với sáng chế mà có thể là áp dụng hình
thức Li xăng cưỡng bức như một phương tiện để tránh việc lạm dụng nêu trên. Luật
Sáng chế của Ấn Độ đã cho phép cấp Li xăng cưỡng bức từ năm 1970.
Diễn biến việc Công ty sản xuất thuốc generic yêu cầu cấp Li xăng
cưỡng bức.
Natco Pharma Ltd. là công ty sản xuất thuốc generic nổi tiếng của Ấn Độ.
Natco đã phát triển được quy trình sản xuất thuốc generic Sorafenib và được Chính
phủ cho phép sản xuất với số lượng lớn. Natco đã tiếp xúc với Bayer để đề nghị cấp
một li xăng tự nguyện. Tuy nhiên, Bayer đã từ chối. Natco sau đó đã nộp đơn yêu
cầu được cấp Li xăng cưỡng bức dựa theo Điều 84 của Luật Sáng chế của Ấn Độ
đang có hiệu lực. Việc cấp một Li xăng cưỡng bức theo Điều 84 cho một dược
phẩm đang được bảo hộ là sự kiện gây ấn tượng hàng đầu tại Ấn Độ.
Điều 84 nêu ra những điều kiện để có thể được cấp một Li xăng cưỡng bức.
Theo Điều này thì cơ sở để cấp một Li xăng cưỡng bức là việc chủ sở hữu Bằng đô ̣c
quyền sáng chế không thực hiện được các điều sau :
- Đáp ứng “đòi hỏi hợp lý” của công chúng đối với sản phẩm được cấp Bằng
đô ̣c quyền sáng chế.
- Làm cho sản phẩm tiếp cận được do giá phải chăng một cách hợp lý.
(Work the patented item) trên - Thực hiê ̣n sản phẩm được bảo hô ̣ sáng chế
lãnh thổ Ấn Độ.
Natco đã thuyết phục được cơ quan chức năng là mình đủ điều kiện để nhận
một Li xăng cưỡng bức dựa trên từng cơ sở nêu trên, cụ thể như sau.
Đáp ứng nhu cầu công chúng
Natco đưa ra lý lẽ qua các con số về việc sử dụng thuốc Nexavar và nhu cầu
53
thực tế để chứng minh rằng Bayer đã không đáp ứng được đòi hỏi hợp lý của dân
chúng Ấn Độ cho loại thuốc này, đặc biệt là do giá quá cao. Cơ quan chức năng đã
đồng ý với lý do này. Lưu ý bằng chứng về việc thuốc được bán rất mạnh ngoài
lãnh thổ Ấn Độ và lực lượng bán hàng được Bayer thiết lập rất tốt tại Ấn Độ, cơ
quan thẩm quyền nhận thấy Bayer không thể biện hộ cho việc thuốc Nexavar không
dễ dàng tiếp cận cho công chúng Ấn Độ.
Cơ quan chức năng cũng phản bác lý lẽ của Bayer là việc cung cấp thuốc
generic do Cipla sản xuất phải được xem xét tới trong việc xác định việc Bayer có
đáp ứng nhu cầu công chúng hay không. Cơ quan chức năng đã nhấn mạnh tính “hai
mặt” của Bayer, một mặt thì kiện Cipla xâm phạm quyền còn mặt khác thì sử dụng
việc sản xuất thuốc của Cipla để nhằm tránh Li xăng cưỡng bức.
Giá phải chăng
Natco và Bayer bất đồng sâu sắc về vấn đề giá bán hợp lý. Natco cho rằng
thuật ngữ “giá hợp lý” được áp dụng trước tiên cho công chúng người tiêu dùng.
Bayer lại cho rằng khái niệm trên phải áp dụng hợp lý cho nhà sản xuất, giá đó phải
trang trải cho các nỗ lực nghiên cứu và phát triển thành công lẫn thất bại cho đến
khi các loại thuốc đó thực tế được bán trên thị trường.
Bayer cũng khiếu nại là Li xăng cưỡng bức sẽ làm tổn thất cho mình vì như
vậy những người giàu Ấn Độ sẽ được mua thuốc với giá rẻ chỉ ưu tiên dành cho
người nghèo. Tuy vậy, Bayer lại không thể giải thích được việc tại sao không áp
dụng sơ đồ giá bậc thang của riêng mình.
Cuối cùng Cơ quan chức năng nhận thấy “giá hợp lý” phải được hiểu cùng
với sự tham khảo đối với công chúng sử dụng. Bayer đã không phủ nhận được bằng
chứng là giá của Nexavar đã làm cho thuốc vượt khỏi khả năng tiếp cận của đa số
đông đảo bệnh nhân ung thư Ấn Độ.
Được thực hiện tại Ấn Độ
Điều 84 không định nghĩa thuật ngữ “được thực hiện tại Ấn Độ” là như thế
nào. Natco tuyên bố rằng “được thực hiện” nghĩa là “được sản xuất”. Bayer chống
lại và cho rằng sự loại bỏ thuật ngữ “sản xuất” từ một Điều khác của Luật Sáng chế
có nghĩa là thuật ngữ trên không thể được giải thích là thuốc phải được sản xuất tại
54
Ấn Độ.
Khi diễn giải ngôn ngữ của Điều 84, cơ quan có thẩm quyền đã dựa vào
nhiều điều ước qu ốc tế trước khi kết luận rằng thuật ngữ “được thực hiện” chính là
sản xuất. Cơ quan có thẩm quyền đã khước từ lập luận của Bayer là thuật ngữ
“được thực hiện” có thể bao gồm cả việc sử dụng sản phẩm được nhập khẩu để bán
trong kinh doanh thương mại tại Ấn Độ. Kết quả là Cơ quan chức năng vẫn giữ ý
kiến là để tránh Li xăng cưỡng bức chủ sở hữu Bằng đô ̣c quyền sáng chế phải sản
xuất sản phẩm tại Ấn Độ hoặc cấp li xăng cho người khác sản xuất.
Các điều khoản của Li xăng cưỡng bức
Kết luận là Natco đã chứng minh được những yêu cầu cần thiết nêu tại Điều
84 Cơ quan chức năng đã cấp cho Công ty này một Li xăng cưỡng bức. Theo các
điều khoản của li xăng thì Natco phải bán thuốc với giá 160 USD 1 liều/một tháng,
cũng như phải cung cấp miễn phí cho 600 bệnh nhân mỗi năm. Natco phải trả phí li
xăng là 6% cho Bayer và không được bán thuốc ra ngoài phạm vi Ấn Độ, cũng như
không được cấp bất kỳ li xăng thứ cấp nào.
Đã có những ý kiến khác nhau về tác động dài hạn của Li xăng cưỡng bức
cấp cho Natco - đặc biệt vì vụ việc có thể bị thay đổi do còn bị khiếu kiện. Tổ chức
Y tế thế giới (WHO) đã hoan nghênh cách tiếp cận rộng hơn đối với thuốc chữa
bệnh mà quyết định của cơ quan chức năng Ấn Độ sẽ mang lại. Còn các tập đoàn
dược phẩm và công nghệ sinh học thì lo lắng về các hiệu ứng phụ mà các Li xăng
cưỡng bức có thể gây ra cho việc nghiên cứu và phát triển, họ cho rằng Li xăng
cưỡng bức đối với dược phẩm phải được giới hạn cụ thể chỉ cho các tình huống như
khủng hoảng sức khỏe quốc gia hoặc giá thuốc thực tế không thể tiếp cận được. Rốt
cuộc, chỉ có thời gian sẽ trả lời liệu vụ Natco chống Bayer sẽ kết thúc chỉ như một
vụ việc đơn lẻ và giới hạn trong những tình huống cụ thể của một thị trường dược
phẩm duy nhất – hay đây chỉ là trường hợp đầu tiên trong chuỗi các vụ việc thúc
đẩy các nước đang phát triển sử dụng Li xăng cưỡng bức nhằm làm cho một loại
thuốc quá đắt trở nên có thể tiếp cận được tới dân chúng của họ [74].
Ví dụ thứ 2, áp dụng tại Việt Nam cho thấy việc cấp giấy phép chuyển giao
bắt buộc sáng chế dược phẩm trên thực tế là không đơn giản: Tamiflu (Oseltarmivir
Phosphate) là một dược phẩm đã được cấp bằng độc quyền sáng chế tại một số quốc
55
gia và được sử dụng cho việc điều trị và phòng ngừa một số loại cúm tại nhiều nước
trong đó có Việt Nam. Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế là công ty Gilead
Sciences nhưng F.Hoffman - La Roche (công ty dược phẩm của Thụy Sỹ) được độc
quyền sản xuất và bán sản phẩm Tamiflu trên toàn thế giới theo hợp đồng ký kết với
chủ sở hữu sáng chế.
Ngày 26 tháng 12 năm 2003, trường hợp mắc cúm A (Avian influenza) đầu
tiên được phát hiện tại Việt Nam và sau đó bệnh dịch này phát triển nhanh chóng và
lây lan không chỉ tại Việt Nam mà còn tại nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới, đặc
biệt ở các nước Đông và Đông Nam Á. Riêng tại Việt Nam, tính từ thời điểm phát
hiện ra trường hợp mắc cúm A đầu tiên đến ngày 30 tháng 11/2005, cơ quan chức
năng Việt Nam đã ghi nhận 3 đợt dịch với 91 trường hợp mắc bệnh, trong đó 42
trường hợp tử vong tại 32 tỉnh/thành phố. Theo cảnh báo của WHO, nếu dịch cúm
xảy ra, khoảng 10% dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và 1% trong số đó sẽ chết vì
căn bệnh này. Vì vậy, Việt Nam sẽ cần một số lượng lớn Tamiflu. Tuy nhiên, La
Roche đã không thể đáp ứng được nhu cầu trên.
Ngày 26/10/2005, Cục quản lý Dược Việt Nam đã trình lên Bộ trưởng Bộ Y
tế 4 đề nghị, trong đó có nội dung Cục Quản lý Dược Việt Nam thương lượng
quyền với F.Hoffmann La Roche Ltd để triển khai ngay kế hoạch sản xuất nhượng
quyền hoặc sản xuất cưỡng chế nhượng quyền Tamiflu tại Việt Nam. Ngay ngày
hôm sau, ngày 27/10/2005 các đề nghị trên đều được Bộ trưởng Bộ Y tế đồng ý về
cơ bản. Nhưng quá trình thương lượng giữa Cục quản lý Dược Việt Nam và La
Roche để La Roche chuyển giao quyền sản xuất thuốc cho Việt Nam đã không
thành công. Bộ y tế Việt Nam dự định cấp quyết định BBCGQSDSC buộc La
Roche chuyển giao qyền sử dụng sáng chế nhằm sản xuất Tamiflu. Phía Việt Nam
khẳng định, nếu Roche không cấp phép cho Việt Nan sản xuất thuốc, trong trưởng
hợp có tuyên bố về tình trạng khẩn cấp quốc gia, Việt Nam có thể sản xuất thuốc
mà không cần sự đồng ý của Roche.
Trong trường hợp này, Chính phủ Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý và cơ sở
thực tiễn để cấp quyết định BBCGQSDCS. Vì:
Thứ nhất, trên thực tế, Việt Nam có nhu cầu rất lớn về Tamiflu để đối phó
với dịch cúm gia cầm. Cục trưởng Cục quản lý dược Cao Minh Quang khẳng định
56
“Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu nghêm trọng thuốc Tamiflu nếu đại dịch
cúm xảy ra. Trong trường hợp đó, khoảng 10% dân số mắc bệnh, trương đương với
8,2 triệu người. Mỗi bệnh nhân cần 10 viên Tamiflu thì số thuốc cần có cho điều trị
ở Việt Nam là 82 triệu viên, chưa kể thuốc dự phòng cho nhân viên y tế trực tiếp
chăm sóc bệnh nhân và cho những người dân có nguy cơ mắc bệnh. Trong khi đó,
tại Việt Nam vào thời điểm đó “chỉ có 599.000 viên Tamiflu do Đài Loan viện trợ
và con số này mới chỉ đủ cho khoảng 60.000 người bệnh. Kho dự trữ thuốc này của
WHO lúc đó cũng chỉ có 30 triệu viên. Nếu dịch bệnh xảy tại Việt Nam, chắc chắn
số thuốc này không thể được viên trợ hết cho Việt Nam. Vì thế, Việt Nam cần chủ
động tìm các nguồn cung cấp thuốc Tamiflu khác ngoài số thuốc có thể nhận được
viện trợ từ WHO.
Thứ hai, người nắm độc quyền sử dụng sáng chế (La Roche) không thể đáp
ứng nhu cầu cấp bách của Việt Nam. La Roche đã có văn bản gửi WHO khẳng định
không thể đáp ứng nổi nhu cầu thuốc trước những đơn đặc hàng khổng lồ không chỉ
của Việt Nam mà còn các quốc gia khác trên thế giới.
Thứ ba, quá trình thương lượng để hãng La Roche tự nguyện chuyển giao
quyền sử dụng sáng chế nhằm sản xuất Tamiflu tại Việt Nam đã không thành công.
Thứ tư, Pháp luật Việt Nam, có quy định về việc BBCGQSDSC trong trường
hợp: “việc sử dụng đối tượng SHCN nhằm đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh
quốc gia, phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân và các nhu cầu cần thiết khác của xã
hội” và “Người có nhu cầu sử dụng đã cố gắng dùng nhiều hình thức để thỏa thuận
với chủ sở hữu mặc dù đã đưa ra mức giá hợp lý, nhưng chủ sở hữu vẫn từ chối ký
kết hợp đồng chuyển giao sử dụng đối tượng SHCN”.
Dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam, căn cứ trên tình hình thực tiễn tại Việt
Nam, Chính phủ Việt Nam hoàn toàn có quyền BBCGQSDSC mà không cần
thương lượng với người nắm độc quyền sáng chế. Tuy nhiên, cơ quan chức năng
Việt Nam đã chủ động đàm phán với Luận án Roche để có thể đạt được một số thỏa
thuận hợp lý trước khi quyết định BBCGQSD. Ngày 7/11/2005, Việt Nam tiếp tục
đàm phán với La Roche. Mặc dù cả hai bên đều có thiện chí nhưng một số vấn đề
liên quan vẫn chưa được thống nhất. Tuy nhiên Laroche cũng đồng ý khi Việt Nam
công bố tình trạng khẩn cấp mức quốc gia thì Việt Nam có thể áp dụng quyền tự sản
57
xuất thuốc mà không cần sự đồng ý của Roche. Ngày 8/11/2005, La Roche chính
thức đồng ý với Bộ tế Việt Nam về nhượng quyền sản xuất thuốc Tamiflu và cam
kết chuyển giao công nghệ cần thiết để việc sản xuất thuốc này sẽ được tiến hành
sau hai tháng. Kết quả, một hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng tự nguyện đã
được ký kết. Tamiflu là trường hợp đầu tiên mà chính phủ Việt Nam vận dụng các
quy định của pháp luật về BBCGQSDSC. Mặc dù đây chưa phải là trường hợp cấp
quyết định BBCGQSDSC, nhưng thông qua việc dự định áp dụng BBCGQSDSC đã
mang lại những kết quả khả quan. Không chỉ tại Việt Nam, Chính phủ các quốc gia
đang phát triển cũng thường có một quá trình thương lượng với người nắm độc
quyền sáng chế trong những trường hợp tương tự như Việt Nam. Mặc dù Hiệp định
TRIPS cho phép các thành viên được bỏ qua gia đoạn thương lượng với người nắm
độc quyền sáng chế trong trường hợp sử dụng sáng chế vì “mục đích công cộng, phi
thương mại” và “trường hợp khẩn cấp quốc gia hoặc đặc biệt khẩn cấp” nhưng trên
thực tiễn, các quốc gia đang phát triển vì nhiều lý do khác nhau vẫn tiến hành đàm
phán với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế.
Tại Việt Nam, không có sự giải thích chính thức tại sao Việt Nam cần
thương lượng với La Roche mà không quyết định BBCGQSDSC như Đài Loan.
Trong trường hợp tương tự như Việt Nam, ngày 25/11/2005 cơ quan sáng chế Đài
Looan đã cấp quyết định BBCGQSDSC để sản xuất thuốc Tamiflu nhằm đối phó
với dịch cúm gia cầm. Theo tác giả, có thể giải thích vấn đề trên qua các lý do cơ
bản sau: Thứ nhất, vào thời điểm này Việt Nam đang tiến hành đàm phán gia nhập
WTO, Việt Nam cần sự ủng hộ của các quốc gia, đặc biệt các quốc gia đang phát
triển như Hoa Kỳ, EU, Thụy Sỹ. BBCGQSDSC là vấn đề thường có sự phản ứng
không chỉ các chủ sở hữu sáng chế mà còn chính phủ các quốc gia, nếu
BBCGQSDSC có thể bất lợi cho Việt Nam trong quá trình đàm phán này. Thứ 2,
việc sử dụng hiệu quả các quy định về BBCGQSDSC đòi hỏi phải đáp ứng một số
điều kiện như điều kiện về công nghệ, pháp luật, về nguồn nhân lực…Để có thể sử
dụng hiệu quả BBCGQSDSC trên thực tế không phải là vấn đề đơn giản. Tại thời
điểm này, ngành công nghiệp dược phẩm của Việt Nam vẫn còn non trẻ, trình độ
công nghệ chưa cao, còn phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu nhâp khẩu. Ngay cả trong
trường hợp này, để sản xuất thuốc Tamiflu, các công ty sản xuất dược phẩm của
58
Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu từ nước ngoài. Nếu thông qua
thương lượng mà có một hợp đồng chuyển giao tự ngyện thì sẽ tốt hơn việc
BBCGQSDSC, ít nhất là từ việc chuyển giao công nghệ. Thứ 3, mặc dù đã có quy
định pháp luật về BBCGQSDSC nhưng pháp luật Việt Nam vào thời điểm này vẫn
còn thiếu một số quy định để cỏ thể áp dụng trên thực tế như quy định về mức đền
bù, về cách tính mức đền bù, thủ tục BBCGQSDSC cũng chưa được quy định chặt
chẽ. Hơn nữa, BBCGQSDSC là vấn đề rất mới với Việt Nam nên việc thận trọng
của cơ quan có thẩm quyền trong việc ra quyết định BBCGQSDSC là điều dễ hiểu.
Thứ tư, trong thời gian này, dưới tác động của việc cấp quyết định BBCGQSDSC
bởi cơ quan sáng chế Đài Loan đối với Tamiflu, La Roche cũng đã tự nguyện
chuyển giao quyền sử dụng sáng chế Đài Loan cho một số nhà sản xuất tại Trung
Quốc, Ấn Độ và Nam Phi. Thực tiễn này cho tác giả cũng tác động đến tình huống
tại Việt Nam.
Một số nhận xét có thể rút ra từ vụ Tamiflu: (i) nhu cầu sử dụng
BBCGQSDSC nhằm mục đích công cộng, phi thương mại là nhu cầu thực tiễn tại
Việt Nam do đó việc quy định BBCGQSDSC trong pháp luật Việt Nam là cần thiết;
(ii) vai trò của BBCGQSDSC không chỉ thể hiện trong thực tiễn sử dụng mà còn thể
hiện như một biện pháp mang tính “ngăn ngừa”, nghĩa là việc đe dọa sử dụng
BBCGQSDSC có thể thúc đẩy việc chuyển giao tự nguyện quyền sử dụng sáng chế.
Do đó trong điều kiện của các nước đang phát triển như Việt Nam, với trình độ phát
triển công nghệ còn chưa cao, với mục đích thu hút đầu tư nước ngoài, với kinh
nghiệm sử dụng BBCGQSDSC còn hạn chế, việc thương lượng với người nắm độc
quyền sử dụng sáng chế trước khi cấp quyết định BBCGQSDSC là việc làm cần
thiết [17, tr.148-152].
2.2.5 Nhập khẩu song song:
Nhập khẩu song song (Parallel Import – PI), còn gọi là thị trường „nhập khẩu
xám‟ (gray market import), là hiện tượng những hàng hoá được sản xuất dưới sự
bảo hộ đầy đủ của các luật thương hiệu, bằng sáng chế, hoặc bản quyền, chúng
được đưa vào lưu thông trong một thị trường, và sau đó được nhập khẩu vào một thị
trường thứ hai mà không được phép của các chủ sở hữu tài sản trí tuệ trong địa bàn
đó. Các chủ sở hữu này thường là một đại lý địa phương được các nhà sản xuất cấp
59
phép phân phối cho sản phẩm của mình.
Ví dụ, nó là hợp lệ khi một công ty kinh doanh mua một lượng thuốc kê toa
ở Tây Ban Nha, sau đó nhập khẩu vào Thụy Điển hay Đức mà không có sự chấp
thuận của nhà phân phối địa phương sở hữu quyền sáng chế tại 2 nước đó. Trong
thực tế, các quy tắc của thị trường nội bộ trong Liên minh châu Âu cho phép thương
mại song song giữa những quốc gia thành viên trong hầu hết tất cả các hàng hoá.
Lưu ý rằng các hàng hóa nhập khẩu song song là hàng hóa hợp pháp tại thị
trường ban đầu, chúng không phải là hàng giả mạo, hàng lậu hay hàng hóa ăn cắp.
Như vậy, hàng hóa nhập khẩu song song hoàn toàn giống với các sản phẩm
chính thức của nước sở tại, ngoại trừ rằng chúng có thể được đóng gói khác nhau và
có thể không có bảo hành của nhà sản xuất gốc.
Nguyên nhân của nhập khẩu song song thường là các công ty, hoặc là nhà
sản xuất hoặc nhà phân phối, do nhiều nguyên nhân đã thiết lập mức giá khác nhau
cho cùng một sản phẩm của mình tại các thị trường khác nhau. Vì thế, các nhà nhập
khẩu song song thường mua sản phẩm tại một quốc gia có mức giá (P1) rẻ hơn giá
mà chúng được bán chính thức ở một nước thứ hai (P2), sau đó họ nhập khẩu các
sản phẩm này vào nước thứ hai, và bán các sản phẩm ở nước này tại một mức giá
mà thường nằm giữa P1 và P2.
Về vấn đề này, thực sự đã có nhiều tranh cãi giữa những người ủng hộ và
phản đối xung quanh tính hợp pháp của việc nhập khẩu song song, nó liên quan đến
một học thuyết gọi là “Học thuyết hết quyền – Exhaustion doctrine” hay còn gọi là
học thuyết “bán lần đầu – first sale doctrine”. Theo học thuyết đó, lợi nhuận có
60
được từ việc các công ty bán sản phẩm của mình lần đầu tiên ra thị trường là đã đủ
để đền đáp cho công ty đó trong việc nghiên cứu ra sản phẩm. Kể từ đấy họ sẽ
không còn quyền hạn gì về sở hữu trí tuệ với sản phẩm đó nữa, nói cách khác họ
không thể can thiệp vào những gì xảy đến tiếp theo đối với các sản phẩm đã bán ra
trên thị trường. Tuy nhiên, quan niệm về tính đúng đắn của học thuyết đó là khác
nhau giữa các quốc gia. Những nước phản đối sẽ ban hành các luật lệ cấm việc nhập
khẩu song song, trong khi các nước ủng hộ thì sẽ xem việc nhập khẩu như thế là
hợp pháp.
Trong thị trường dược phẩm, quy định về nhập khẩu song song đã trở thành
một vấn đề quan trọng trong hệ thống thương mại toàn cầu. Những người ủng hộ
một hệ thống quốc tế để bảo vệ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ thì mong muốn một
lệnh cấm nhập khẩu song song được ban hành trên phạm vi toàn thế giới. Họ lý luận
rằng nếu như loại hình này được cho phép rộng rãi, nó sẽ làm giảm đáng kể lợi
nhuận trong lĩnh vực nghiên cứu những dược phẩm đặc trị, và hậu quả là sẽ không
thể khuyến khích và làm suy tàn công việc R&D để sáng tạo ra những loại thuốc
tiên tiến. Hơn nữa, nhập khẩu song song sẽ làm các cơ quan y tế khó khăn hơn trong
việc kiểm soát giá thuốc và ban hành các chính sách về thuốc của mình. Thế nhưng,
cơ quan quản lý y tế ở các nước nghèo thì lại cho rằng khả năng tiếp cận được
những nguồn cung ứng rẻ là rất quan trọng, vì vậy họ ủng hộ việc nhập khẩu song
song. Cho dù không ủng hộ, họ cũng muốn dùng việc nhập khẩu song song để đe
dọa và tạo sức ép để các nhà phân phối chính phải giảm giá thành sản phẩm của
mình. Rõ ràng là những người hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển đặc
biệt xem trọng việc tiếp cận những nguồn thuốc giá rẻ cho quốc gia mình hơn là
việc ủng hộ việc đầu tư nghiên cứu R&D ở nước ngoài.
Nhập khẩu song song được cho phép trong Hiệp định TRIPS, nhưng Hiệp
định TRIPS không quy định vấn đề này một cách rõ ràng. Mặc dù Điều 28 của Hiệp
định TRIPS cấp độc quyền nhập khẩu cho chủ bằng sáng chế, Điều 6 của Hiệp định
TRIPS cho phép thành viên hạn chế quyền của chủ sở hữu sáng chế của theo
nguyên tắc của học thuyết hết quyền, và quy định rằng vấn đề hết quyền không bị
áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp; do đó cho phép các quốc gia tự do để xác
61
định chính sách riêng của họ để hợp pháp hóa nhập khẩu song song về mặt này.
Trong quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định TRIPS, các nước đã không
thể thống nhất được với nhau về vấn đề khai thác hết quyền sở hữu trí tuệ. Có quá
nhiều cách tiếp cận và quan điểm về vấn này và pháp luật của các nước cũng rất
khác nhau, quyền lợi của các nước phát triển và đang phát triển cũng khác nhau làm
cho các nước không thể đi đến thỏa thuận được với nhau. Đây là vấn đề có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong mối tương quan về quan hệ lợi ích giữa các nước phát
triển và các nước đang phát triển cũng như tương quan lợi ích giữa chủ sở hữu trí
tuệ với lợi ích của xã hội. Vấn đề mấu chốt đặt ra là phạm vi quyền của chủ sở hữu
sẽ được mở rộng đến mức nào hay nói cách khác là chủ sở hữu trí tuệ được kiểm
soát sản phẩm mang đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ của mình đến giai đoạn
nào của quá trình lưu thông sản phẩm. Chính vì vậy, Điều 6 của Hiệp định đã quy
định theo hướng các thành viên có quyền tự quyết định về việc xác định quyền sở
hữu trí tuệ chấm dứt ở phạm vi quốc gia, khu vực hay quốc tế. Tuyên bố Doha về
Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng đồng một lần nữa khẳng định việc quy định
hiệu lực của các quy định trong hiệp định TRIPS liên quan tới trạng thái đã khai
thác hết quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền của mỗi thành viên. Các thành viên được
quyền đặt ra quy định của mình về trạng thái đã khai thác hết quyền sở hữu trí tuệ
mà không làm ảnh hưởng đến quy định về chế độ đối xử quốc gia và đối xử tối huệ
quốc quy định tại Điều 3 và Điều 4 của Hiệp định TRIPS. Trên thực tế, liên quan
đến quyền ngăn cấm của chủ sở hữu sáng chế, hầu hết các quốc gia hiện nay áp
dụng học thuyết chấm dứt quyền sau lần bán đầu tiên trên phạm vi quốc tế.
Vào tháng 12 năm 1997, chính phủ Nam Phi đã thông qua một điều luật cho
phép thực thi hai chính sách gây nhiều tranh cãi. Một là, việc nhập khẩu song song
cho phép những nhà nhập khẩu Nam Phi được mua các loại thuốc từ nguồn rẻ nhất
sẵn có, bất kể những người giữ bản quyền có cho phép hay không. Nam Phi đã
khẳng định quyền nhập khẩu “những phiên bản giá rẻ” của các loại thuốc có bản
quyền. Chính phủ làm điều này bởi họ không đủ khả năng để chi trả cho các loại
thuốc có bản quyền giá cao. Hai là, việc cấp phép bắt buộc, cho phép chính phủ
Nam Phi cấp phép cho các công ty nội địa sản xuất những phiên bản giá rẻ của các
loại thuốc mà các công ty nước ngoài đang giữ bản quyền, bất kể họ có đồng ý hay
62
không. Các nhà sản xuất thuốc nước ngoài nhận thấy điều luật này đã vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ của họ, và 39 công ty nước ngoài nhanh chóng đâm đơn kiện
nhằm ngăn chặn việc thực thi điều luật này. Trong khi pháp luật quốc tế đứng về
phía các công ty dược thì họ vấp phải sự phản ứng gay gắt từ phía công chúng. Một
số nhà sản xuất thuốc trị bệnh AIDS hàng đầu, trong khi vẫn phản đối điều luật của
Nam Phi, đã bắt đầu thay đổi chính sách của họ. Vào tháng 5/2000, năm nhà sản
xuất thuốc trị bệnh AIDS lớn - Merck, Bristol-Myers Squibb, Roche, Glaxo, và
Boehringer Ingelhiem - tuyên bố rằng họ sẽ thương lượng bán thuốc trị bệnh AIDS
với giá thấp hơn tại những nước đang phát triển, đầu tiên tại vùng Saharan châu Phi.
Tuy nhiên làn sóng phản đối vẫn tiếp diễn. Vào tháng 2/2001, một công ty dược Ấn
Độ, Cipla, chào bán một hỗn hợp 3 loại thuốc trị bệnh AIDS cho các nước nghèo ở
châu Phi với mức giá 600 USD/ năm cho một bệnh nhân, và 350 USD cho Tổ chức
các Bác sĩ không Biên giới (thông thường bệnh AIDS được điều trị với một hỗn hợp
kết hợp 10 loại thuốc kháng virút khác nhau). Bản quyền của các loại thuốc này
được sở hữu bởi những công ty phương Tây, nhưng luật Ấn Độ cho phép các công
ty nội địa sản xuất những phiên bản giá rẻ của các loại thuốc có bản quyền. Tuyên
bố của Cipla dường như đã tác động mạnh đến những công ty dược phương Tây.
Vào tháng 3 năm 2001, Merck thông báo họ sẽ giảm giá hai loại thuốc trị bệnh
AIDS, Crixivan và Stocrin. Crixivan, được bán với giá 6.016 USD/năm tại Mỹ, sẽ
được bán chỉ 600 USD/năm cho các nước đang phát triển. Stocrin, được bán với già
4.730 USD/năm tại Mỹ, sẽ được bán chỉ 500 USD/năm. Vài ngày sau đó, Bristol-
Myers Squibb đưa ra giá thấp hơn, tuyên bố sẽ bán thuốc trị bệnh AIDS Zerit đến
các nước nghèo khổ tại châu Phi với giá chỉ 0,15 USD/ngày hoặc 54 USD/năm cho
một bệnh nhân, thấp hơn chi phí sản xuất Zerit. Tại Mỹ và châu Âu, Zerit đang
được bán cho bệnh nhân với giá 3.589 USD/năm. Bước đi này tiếp theo sau một
tuyên bố từ phòng thí nghiệm Abbott sẽ bán hai trong số các loại thuốc trị bệnh
AIDS với mức giá “không lợi nhuận” tại vùng Saharan châu Phi. Tuy nhiên, không
có bước đi ở trên nào đủ sức xoa dịu làn sóng chỉ trích. Vào tháng 4/2001, các công
ty dược dường như đầu hàng trong cuộc chiến với công chúng và họ đồng ý ngừng
vụ kiện chống lại chính phủ Nam Phi. Điều này mở ra hướng đi cho Nam Phi trong
việc bắt đầu nhập khẩu những phiên bản giá rẻ của các loại thuốc có bản quyền từ
63
các nhà sản xuất như Cipla của Ấn Độ. Cùng lúc đó, các công ty dược cũng có được
sự đảm bảo của Nam Phi rằng những phiên bản giá rẻ của các loại thuốc có bản
quyền sẽ chỉ được bán tại vùng Saharan châu Phi và không được xuất khẩu sang các
khu vực khác trên thế giới.
2.2.6 Thời hạn bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm
Thời hạn của bằng sáng chế là khoảng thời gian tối đa mà bằng sáng chế có
hiệu lực. Thời gian này thường được bắt đầu tính từ ngày nộp đơn xin cấp bằng
hoặc từ ngày bằng bảo hộ được cấp. Thời hạn bảo hộ sáng chế nói chung và sáng
chế dược phẩm nói riêng không được ngắn hơn 20 năm tính từ ngày nộp đơn theo
quy định tại Điều 33 Hiệp định TRIPS. Kết quả là hầu hết các hệ thống pháp luật
sáng chế hiện nay quy định thời hạn bảo hộ sáng chế là 20 năm kể từ ngày nộp đơn.
Tuy nhiên, quy định này của WTO không cấm các nước Thành viên ghi nhận trong
pháp luật nội địa quyền khác tương tự quyền sáng chế với thời hạn ngắn hơn. Một
ví dụ cho loại quyền này là quyền đối với giải pháp hữu ích (utility models) với thời
hạn bảo hộ thường là 6 hoặc 10 năm.
Trong khuôn khổ WTO đã từng có một số tranh chấp giữa các nước Thành
viên về quy định trong pháp luật quốc gia liên quan đến thời hạn bảo hộ sáng chế.
Một trong số đó là vụ kiện nổi tiếng Canada-Term of Patent Protection [64], theo
đó ngày 06/05/1999, Hoa Kỳ yêu cầu tham vấn với Canada về điều khoản bảo hộ
đối với các sáng chế được cấp trước ngày 01/10/1989. Hoa Kỳ cho rằng Hiệp định
TRIPS quy định các thành viên phải bảo hộ các sáng chế trong vòng ít nhất 20 năm
kể từ ngày cấp bằng sáng chế và yêu cầu các thành viên áp dụng điều khoản tối
thiểu này cho tất cả các sáng chế kể từ ngày thực thi hiệp định của các thành viên.
Hoa Kỳ cáo buộc, theo Bộ luật sáng chế Canada, điều khoản quy định về bảo hộ
sáng chế với các sáng chế cấp trước ngày 01/0/1989 là 17 năm kể từ ngày cấp bằng
sáng chế. Hoa Kỳ cáo buộc Canada vi phạm Điều 33,65 và 70 của Hiệp định
TRIPS. Ngày 15/07/1999, Hoa Kỳ yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm. Ngày
22/10/1999, Ban Hội thẩm chính thức được thành lập. Ngày 05/05/2000, Ban Hội
thẩm công bố báo cáo. Báo cáo nêu rõ:
- Theo Điều 70.2 của Hiệp định TRIPS, Canada cấp bằng bảo hộ sáng chế
cho các sáng chế có hiệu lực ngày 01/01/1996, ngày hiệu lực Canada thực thi Hiệp
64
định TRIPS.
- Mục 45 của Luật sáng chế Canada không nêu điều khoản bảo hộ đối với
các sáng chế kết thúc trước 20 năm kể từ ngày được cấp theo điều 33 của Hiệp định
TRIPS và do vậy bác bỏ lập luận của Canada rằng thời hạn bảo hộ 17 năm nêu
trong Luật sáng chế tương ứng với thời hạn 20 năm của Hiệp định TRIPS do tồn
đọng, trì hoãn theo luật hoặc tạm dừng không chính thức…
Ngày 19/06/2000, Canada thông báo kháng án. Ngày 18/09/2000, Cơ quan
Phúc thẩm công bố báo cáo, trong đó tán đồng tất cả các kết luận của Ban Hội thẩm.
Ngày 12/10/2000, DSB thông qua báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo của
Ban Hội thẩm được Cơ quan Phúc thẩm tán thành. Cơ quan phúc thẩm kết luận
rằng: thời hạn bảo hộ sáng chế là 17 năm (tính từ ngày cấp văn bằng bảo hộ) cho
những đơn đăng ký sáng chế được nộp trước ngày 01 tháng 10 năm 1989 và thường
kết thúc trước 20 năm tính từ ngày nộp đơn theo quy định tại Phần 45 Đạo luật
Sáng chế Canada không phù hợp với quy định tại Điều 33 Hiệp định TRIPS [67].
2.2.7 Quy định về bảo vệ quyền đối với sáng chế dƣợc phẩm
Liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ, ngoài việc quy định những biện
pháp đầy đủ và thỏa đáng mà các thành viên phải có để bảo vệ quyền đối với sáng
chế, Hiệp định TRIPS cũng có những giới hạn nhất định nhằm bảo đảm cân bằng
với lợi ích của xã hội. Cụ thể trong các thủ tục thực thi quyền, Hiệp định TRIPS thể
hiện rất rõ ràng quan điểm coi quyền đối với sáng chế, bao gồm sáng chế dược
phẩm là một quyền dân sự và có thể nói các thủ tục dân sự sẽ được áp dụng đối với
các hành vi xâm phạm quyền sáng chế. Hơn nữa, quy định về việc kiểm soát biên
giới cũng không bắt buộc phải áp dụng đối với đối tượng này. Luật pháp của hầu
hết các nước trên thế giới cũng quy định việc thực thi quyền đối với sáng chế được
áp dụng theo thủ tục dân sự. Rất ít nước có hệ thống thực thi quyền đối với sáng chế
bằng biện pháp hành chính như Trung Quốc, Việt Nam, theo đó các cơ quan hành
chính Nhà nước chủ động thực hiện các biện pháp bảo về quyền cho chủ sở hữu
sáng chế bất kể chủ sở hữu sáng chế có yêu cầu hay không.
2.2.8. Quy định về việc thực thi sáng chế dƣợc phẩm
2.2.8.1. Những quy định chung:
Hiệp định TRIPS là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên điều chỉnh cơ chế
65
pháp lý và hành chính nội bộ của các quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ, theo
đó Phần III Hiệp định TRIPS yêu cầu các nước thành viên thiết lập cơ chế hành
chính và tư pháp để người nắm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và chủ sở hữu sáng
chế dược phẩm nói riêng có thể tìm kiếm sự bảo vệ lợi ích của họ một cách hiệu
quả. Nghĩa vụ chung của các thành viên là thiết lập các thủ tục thực thi được ghi
nhận trong pháp luật quốc gia để ngăn chặn và xử lý bất kỳ hành vi xâm phạm sở
hữu trí tuệ quyền nào bao gồm cả hành vi xâm phạm sở hữu sáng chế dược. Các thủ
tục này phải "công bằng và hợp lý", và "không quá phức tạp hoặc tốn kém, đòi hỏi
thời gian không hợp lý hoặc giới hạn hoặc chậm trễ không chính đáng" (Điều 41
Hiệp định TRIPS). Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 41 Hiệp định TRIPS thiết lập hai
nguyên tắc quan trọng là: các thành viên không cần phải thiết lập hệ thống tư pháp
riêng biệt cho việc thực thi nói trên, và không có "nghĩa vụ đối với việc phân phối
các nguồn lực giữa thực thi quyền sở hữu trí tuệ với thực thi pháp luật nói chung".
2.2.8.2. Các thủ tục và biện pháp dân sự và hành chính
Điều 42 đến 49 của Hiệp định TRIPS thiết lập các nguyên tắc cơ bản để tiến
hành các thủ tục tố tụng dân sự để thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền
sở hữu sáng chế dược phẩm. Các quy định này là giống nhau giữa các hệ thống
pháp lý, bao gồm các quyền lợi của bị đơn và nguyên đơn, các bên có cơ hội để đưa
ra chứng cứ, các biện pháp phòng ngừa...Có sự linh hoạt trong các quy định này ví
dụ như trong việc tính toán thiệt hại đối với hành vi vi phạm không theo cách thức
thông thường trong các lĩnh vực khác.
Một quy định đáng lưu ý là Điều 44.2 của Hiệp định TRIPS cho phép thành
viên loại trừ việc ra lệnh cấm trong những trường hợp liên quan đến giấy phép bắt
buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế dược và các trường hợp sử dụng sáng
chế dược khác của chính phủ.
2.2.8.3. Biện pháp tạm thời
Điều 50: 1 của Hiệp định TRIPS bắt buộc các Thành viên phải thiết lập các
biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn việc đưa hàng hoá xâm phạm sáng chế
dược vào các kênh thương mại và để bảo vệ chứng cứ. Điều 50.2 yêu cầu các cơ
quan tư pháp có quyền áp dụng biện pháp tạm thời đơn phương bên ngoài phiên
điều trần của bên kia nếu sự chậm trễ có thể gây ra thiệt hại không thể khắc phục
66
được. Điều này có nghĩa là chủ sở hữu sáng chế dược có quyền xin áp dụng biện
pháp này bất kể bị đơn có được thông báo trước và có cơ hội được bào chữa hay
không.
2.2.8.4. Các biện pháp kiểm soát tại biên giới
Điều 51 đến Điều 60 Hiệp định TRIPS ghi nhận các biện pháp mà một
Thành viên phải áp dụng để ngăn chặn việc đưa hàng hoá xâm phạm sáng chế dược
vào lưu thông. Theo Điều 51.1 của Hiệp định TRIPS các thủ tục này chỉ cần được
áp dụng đối với hàng hóa bị nghi ngờ "giả mạo nhãn hiệu hoặc vi phạm bản quyền",
và đặc biệt không bao gồm hàng hóa nhập khẩu song song.
Như vậy, chủ sở hữu sáng chế dược phẩm có thể nộp đơn đến các cơ quan
chức năng trình bày đầy đủ về việc hàng hóa vi phạm sáng chế cùng với các thông
tin liên quan. Nguyên đơn có thể phải thực hiện biện pháp bảo đảm bồi thời thiệt hại
có thể xảy ra cho nhà nhập khẩu trong trườn hợp không có hành vi vi phạm sáng
chế dược. Ngoài ra, Hiệp định còn bao gồm các điều khoản thông báo cho nhà nhập
khẩu về việc tạm giữ hoặc trả lại hàng hóa bị tạm giữ của các cơ quan có thẩm
quyền; chủ sở hữu sáng chế dược có quyền kiểm tra hàng hóa vi phạm mặc dù cơ
quan có thẩm quyền vẫn có thể đảm bảo bí mật thông tin; cơ quan chức năng có
quyền tiêu hủy, tịch thu hoặc cấm tái xuất hàng hóa vi phạm.
Ngoài ra, Hiệp định TRIPS còn bao gồm một phần riêng biệt liên quan đến
việc "cấp và duy trì quyền sở hữu trí tuệ và các thủ tục liên quan giữa các thành
viên". Phần này chỉ bao gồm Điều 62 quy định các Thành viên có thể áp dụng quy
trình và thủ tục hợp lý liên quan đến việc cấp hoặc duy trì quyền sở hữu trí tuệ bao
gồm quyền sở hữu sáng chế dược phẩm. Điều này cũng quy định thủ tục tố tụng
hành chính và giữa các bên liên quan đến việc cấp hoặc thu hồi quyền sẽ phụ thuộc
vào các biện pháp bảo vệ tương tự như đối với thủ tục thực thi. Cuối cùng, thủ tục
rà soát tư pháp hoặc "bán tư pháp" đối với việc cấp và thu hồi sáng chế dược phẩm
cũng được quy định.
2.2.8.5 Hệ thống giải quyết tranh chấp của Hiệp định TRIPS:
- Minh bạch hóa:
Điều 63 của Hiệp định TRIPS thiết lập các yêu cầu minh bạch hóa, trong đó
bao gồm nghĩa vụ công bố các văn bản quy phạm pháp luật như các luật và quyết
67
định tư pháp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và sáng chế dược phẩm nói
riêng. Điều này thiết lập một nghĩa vụ thông báo các luật và quy định cho Hội đồng
TRIPS hoặc WIPO. Thành viên có nghĩa vụ cung cấp tóm tắt hoặc chi tiết hóa đầy
đủ các quy định hoặc quyết định được áp dụng theo yêu cầu của các Thành viên có
lí do tin rằng các quyền của họ có thể bị ảnh hưởng. Các thông tin mật sẽ được bảo
vệ.
- Giải quyết tranh chấp:
Điều 64.1 của Hiệp định TRIPS quy định rằng các quy định của Điều XXII
và XIII của GATT 1994, được chi tiết trong Diễn giải về giải quyết tranh chấp
(DSU) sẽ được áp dụng cho việc tham vấn và giải quyết tranh chấp theo Hiệp định
TRIPS, trừ trường hợp được quy định rõ trong Hiệp định. Đáng chú ý là Điều 64.2
và 64.3 Hiệp định TRIPS ghi nhận các khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình
huống. Khiếu kiện không vi phạm là loại khiếu kiện chống lại một nước Thành viên
áp dụng biện pháp tuy không vi phạm nghĩa vụ của nước đó theo WTO nhưng lại
gây thiệt hại cho nước Thành viên khác. Khiếu nại tình huống thực tế chưa từng
được đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO cho đến nay. Điều 64.2 của Hiệp
định TRIPS quy định khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình huống không
được đưa ra trong vòng năm năm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Điều 64: 3 quy
định Hội đồng TRIPS xem xét các khiếu kiện này và đưa ra khuyến nghị cho Hội
nghị Bộ trưởng.
Về thủ tục giải quyết tranh chấp, Hiệp định TRIPS kết hợp cơ chế tham vấn
và giải quyết tranh chấp chung tại các Điều XXII và XIIII của GATT 1994 và DSU
để từ đó áp dụng các thủ tục tương tự như trong GATT và GATS. Các thủ tục này
bao gồm yêu cầu tham vấn, tham vấn, yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm, sự tham gia
của bên thứ ba, thành lập Ban Hội thẩm, xây dựng các điều khoản tham chiếu, nộp
các bản bào chữa và chứng cứ, thủ tục xét xử của Ban Hội thẩm, tư vấn của chuyên
gia .v.v.
Bên cạnh đó, cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định TRIPS có một số
khác biệt đáng kể về thủ tục so với các hiệp định khác của WTO. Chẳng hạn như
việc tham vấn các chuyên gia trong quá trình giải quyết tranh chấp, WIPO thường
được các bên trong tranh chấp hoặc ban hội thẩm xin ý kiến tư vấn về lịch sử đàm
68
phán và các nội dung của các công ước của WIPO chứa đựng trong Hiệp định
TRIPS. Ngoài ra, các hướng dẫn thực thi các công ước của WIPO và các tài liệu
liên quan cũng được ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm tham khảo trong quá trình
giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ, bao gồm tranh chấp về sáng chế dược phẩm.
Ví dụ thực tế cho thấy lịch sử đàm phán đóng vai trò quan trọng trong các quyết
định của các ban hội thẩm trong các vụ tranh chấp Canada - Bằng sáng chế dược
phẩm (do EU khởi kiện Canada, số hiệu WT/DS114), và Canada – Thời hạn bảo hộ
sáng chế (do Hoa Kỳ khởi kiện Canada, số hiệu WT/DS170).
Như vậy có thể thấy rằng so với các điều ước quốc tế khác trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ, tầm quan trọng của Hiệp định TRIPS được thể hiện ở chỗ đây là điều
ước quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ có những quy định cụ thể về trách nhiệm dân
sự, hình sự và bảo vệ biên giới và cũng là điều ước quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ
được áp dụng để giải quyết tranh chấp. Trên thực tế, TRIPS đặt nền tảng cho một hạ
tầng cơ sở vững chắc và hiện đại trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ nói chung và
sáng chế dược phẩm nói riêng cho cộng đồng quốc tế.
2.2.9 Thời gian chuyển tiếp:
Hiệp định TRIPS quan tâm đáng kể sự cần thiết phải tìm một sự cân bằng
giữa lợi ích của người có quyền sở hữu và người sử dụng, không chỉ được phản ánh
trong yêu cầu về công khai mà còn những giới hạn và ngoại lệ đối với quyền sáng
chế và các quy định về chuyển tiếp.
Tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế của các nước thành viên,
Hiệp định TRIPS quy định giai đoạn chuyển đổi để các nước đang phát triển và các
nước kém phát triển nhằm cho họ đủ thời gian để áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau
của TRIPS về quyền sở hữu trí tuệ ở cấp quốc gia. Theo Hiệp định TRIPS, tất cả
các nước phải cung cấp bảo hộ sáng chế sản phẩm từ ngày 01 tháng 1 năm 1995,
nhưng đối với các nước đang phát triển hiện không bảo hộ bằng sáng chế sản phẩm,
giai đoạn chuyển đổi cho phép các nước này thêm thời gian để điều chỉnh pháp luật
và thực tiễn của mình phù hợp với các điều khoản của TRIPS đến năm 2005. Giai
đoạn chuyển đổi có thể được kéo dài thêm bởi Hội đồng TRIPS trên cơ sở yêu cầu
của các nước kém phát triển đến năm 2016 đối với các sáng chế về dược phẩm và
các độc quyền về tiếp thị trong Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và Y tế công
69
cộng. Giai đoạn chuyển tiếp có nghĩa rằng dược phẩm hoặc thuốc cấp bằng sáng
chế trước khi nước đang phát triển thực hiện nghĩa vụ của TRIPS sẽ không được
bảo hộ bằng sáng chế.
2.3 Tuyên bố Doha năm 2001 về Hiệp định TRIPS và Y tế công cộng
(Tuyên bố Doha)
Năm 2001, các thành viên WTO đã thông qua một Tuyên bố Bộ trưởng đặc
biệt - "Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và Y tế công cộng", tại Hội nghị Bộ
trưởng WTO tại Doha để làm rõ sự thiếu rõ ràng giữa nhu cầu chính phủ áp dụng
các nguyên tắc của y tế công cộng và các điều khoản của Hiệp định TRIPS, với mối
quan tâm đặc biệt về các quy tắc bằng sáng chế có thể hạn chế việc tiếp cận thuốc
giá cả phải chăng cho các nước đang phát triển [59].
Đoạn 3-4 của Tuyên bố Doha ghi nhận:
"Chúng tôi thừa nhận rằng bảo vệ sở hữu trí tuệ là quan trọng đối với sự
phát triển của các loại thuốc mới. Chúng tôi cũng công nhận những lo ngại về ảnh
hưởng của nó đối với giá thuốc” [32].
"Chúng tôi đồng ý rằng Hiệp định TRIPS không và không nên ngăn chặn các
thành viên áp dụng các biện pháp để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Theo đó, trong khi
nhắc lại cam kết của chúng tôi đối với Hiệp định TRIPS, chúng tôi khẳng định rằng
Hiệp định có thể và nên được hiểu và thực hiện một cách hỗ trợ quyền thành viên
WTO để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và đặc biệt, để thúc đẩy tiếp cận thuốc cho tất
cả mọi người " [32].
Tuyên bố Doha thừa nhận rằng các loại thuốc và các quyền sở hữu trí tuệ
đóng vai trò quan trọng trong các cuộc thảo luận về các vấn đề công cộng, nhưng
bảo vệ IP cũng gây ra tác động tiêu cực, đặc biệt là về giá thuốc.
Một mặt, các thành viên nhắc lại cam kết của họ thực hiện Hiệp định TRIPS
để hỗ trợ y tế công cộng, và mặt khác, Tuyên bố Doha khẳng định quyền của các
thành viên được sử dụng các linh hoạt trong Hiệp định TRIPS để đạt được các mục
tiêu thúc đẩy tiếp cận thuốc , cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của những diễn
giải về nội dung của các vấn đề sau:
Thứ nhất, quyền của từng quốc gia cấp giấy phép bắt buộc của trường hợp
khẩn cấp được làm rõ và nhấn mạnh trong Tuyên bố Doha năm 2001 về việc Hiệp
70
định TRIPS. Tuyên bố Doha nói rằng mỗi thành viên có quyền tự do để xác định
căn cứ cấp giấy phép bắt buộc và xác định thế nào là một trường hợp khẩn cấp quốc
gia hoặc các tình huống khác cực kỳ khẩn cấp. Nó đề cập đến những vấn đề các
nước phải đối mặt khi muốn thông báo HIV/AIDS là trường hợp khẩn cấp quốc gia.
Thứ hai, Tuyên bố khẳng định rằng "các điều khoản trong Hiệp định TRIPS
có liên quan đến việc sử dụng hết quyền sở hữu trí tuệ cho phép mỗi thành viên tự
do thiết lập cơ chế riêng của mình cho vấn đề hết quyền mà không bị kiện" [29].
Thứ ba, đối với giai đoạn chuyển tiếp dành cho các nước kém phát triển,
Tuyên bố Doha đã gia hạn thời gian cho những nước này không phải thực hiện
nghĩa vụ liên quan đến các sản phẩm dược phẩm như thực thi hoặc cấp các bằng
sáng chế hoặc công bố thông tin theo Hiệp định TRIPS cho đến Tháng 1 năm 2016
[32].
Thứ tư, Tuyên bố năm 2001 không đề xuất một cách rõ ràng các loại sản
phẩm thuốc cần được thúc đẩy, tức là thuốc cấp bằng sáng chế, hoặc các thành phần
hoạt động hoặc sản phẩm trung gian và quy trình sản xuất được cấp bằng sáng chế.
Nhìn chung, các nước đang phát triển muốn quy định một phạm vi rộng các sản
phẩm y tế liên quan đến công chúng, nhưng hầu hết các nước công nghiệp muốn
giới hạn phạm vi sản phẩm dược phẩm và quy trình cấp bằng sáng chế. Vì vậy một
giải pháp dung hòa đã được đề xuất trong quyết định ngày 01 tháng 9 năm 2003
"thực thi đoạn 6 của Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng đồng"
trong đó định nghĩa "sản phẩm dược phẩm" như sau [59]:
"Dược phẩm" là bất kỳ sản phẩm cấp bằng sáng chế, hoặc sản phẩm được
sản xuất thông qua quá trình cấp bằng sáng chế, trong lĩnh vực dược phẩm cần
thiết để giải quyết các vấn đề y tế công cộng như công nhận tại khoản 1 của Tuyên
bố. Điều này được hiểu rằng các thành phần hoạt động cần thiết để sản xuất và bộ
dụng cụ chẩn đoán cần thiết cho việc sử dụng nó sẽ được bao gồm.
Thứ năm, trong Hiệp định TRIPS, Điều 31 (f) quy định rằng việc sử dụng
các giấy phép bắt buộc "phải chủ yếu nhằm cung cấp cho thị trường trong nước của
Thành viên cho phép việc sử dụng đó. Tuyên bố Doha ghi nhận vấn đề này trong
đoạn 6 rằng đối với những nước không có khả năng công nghệ để thay đổi hoàn
toàn kỹ sư và việc sản xuất thuốc tại địa phương, rất khó để sử dụng hiệu quả giấy
71
phép bắt buộc, mà đó là một thách thức để thúc đẩy tiếp cận thuốc [32].
Chúng tôi nhận ra rằng các thành viên WTO với năng lực sản xuất không
đầy đủ hoặc không có trong lĩnh vực dược phẩm có thể phải đối mặt với khó khăn
trong việc sử dụng hiệu quả cấp phép bắt buộc theo Hiệp định TRIPS. Chúng tôi
hướng dẫn các Hội đồng TRIPS để tìm một giải pháp nhanh chóng cho vấn đề này
và báo cáo cho Đại Hội đồng trước khi kết thúc năm 2002.
Vào năm 2003, Hội đồng TRIPS trả lời thông qua quyết định cho phép các
nước thành viên với năng lực sản xuất dược phẩm không đủ từ bỏ tạm thời tại Điều
31 (f) theo TRIPS [32]. Các quốc gia có năng lực sản xuất có thể xuất thuốc thiết
yếu sang các nước không có hoặc không đủ năng lực sản xuất.
Tuy nhiên quyết định này tạo thêm rào cản cho vấn đề tại khoản 6. Một nước
đang phát triển có nhu cầu nhập khẩu các loại thuốc và các thành viên xuất khẩu
phải thông báo cho Hội đồng TRIPS về việc cấp các li-xăng [59]. Yêu cầu thông
báo sẽ gây ra một số chậm trễ trong trường hợp có nhu cầu cấp thiết về các loại
thuốc. Một hạn chế cũng được đặt ra về số lượng thuốc có thể được sản xuất để xuất
khẩu theo một li-xăng bắt buộc [59]. Một vấn đề quan trọng khác là đối với những
quốc gia kém phát triển nhất mà không đủ năng lực thì dịch vụ y tế của họ sẽ dựa
vào ngành công nghiệp y tế và dược phẩm của các nước phát triển và đang phát
triển đã có hệ thống bằng sáng chế đối với một số lĩnh vực. Trong điều kiện như
vậy những ngoại lệ của Tuyên bố Doha không thể giúp nước kém phát triển tạo ra
khả năng tiếp cận thuốc cho người nghèo. Do đó, nhiệm vụ quan trọng hơn là phải
nghiên cứu về việc thực hiện hiệu quả Tuyên bố Doha đối với các nước kém phát
triển.
Như vậy, Tuyên bố Doha nhấn mạnh sự cần thiết của Hiệp định TRIPS là
một phần của giải pháp trong việc giải quyết những thách thức về y tế công cộng,
và khẳng định rằng các biện pháp bảo vệ có trong TRIPS nên được sử dụng để vượt
qua rào cản sở hữu trí tuệ tạo ra cho việc tiếp cận thuốc. Tuyên bố Doha đề cập đến
một số khía cạnh, trong đó có quyền cấp giấy phép bắt buộc và tự do để xác định
căn cứ cấp giấy phép, quyền quyết định thế nào là một trường hợp khẩn cấp quốc
gia và hoàn cảnh cực kỳ khẩn cấp, và sự tự do để thiết lập các quy định về hết
72
quyền sở hữu trí tuệ mà không bị kiện theo bất kỳ Hiệp định nào của WTO.
Mặc dù Tuyên bố Doha đã đề xuất một cơ chế hiệu quả hơn để cân đối giữa
bảo vệ quyền SHTT và y tế công cộng so với Hiệp định TRIPS, các nước đang phát
triển vẫn phải đối mặt với khó khăn trong việc thực hiện các linh hoạt trong Hiệp
định TRIPS, đặc biệt là làm thế nào để giải quyết vấn đề trong đoạn 6. Việc thực
hiện khoản 6 tạo gánh nặng hành chính và chi phí, ngăn chặn hơn là thúc đẩy việc
73
tiếp cận thuốc chữa bệnh cho người dân ở các nước đang phát triển.
Chƣơng III
THỰC TRẠNG BẢO HỘ SÁNG CHẾ DƢỢC PHẨM TRÊN THẾ
GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.1. Thực trạng bảo hộ sáng chế cho dƣợc phẩm trên thế giới:
3.1.1. Pháp luật sáng chế của Hoa Kỳ: dựa trên Luật Sáng chế 1952, được
pháp điển hóa trong Điều 35 Bộ luật Hoa Kỳ. Luật này cho phép nhà sáng chế được
cấp bằng sáng chế đối với quy trình, máy móc, sản xuất, và sản phẩm của vật chất
có tính mới, hữu ích, và không hiển nhiên. Sáng chế được cấp trao quyền để loại trừ
những người khác sản xuất, sử dụng, bán, chào bán, hoặc nhập khẩu vào Hoa Kỳ
các phát minh được bảo hộ sáng chế.
Luật Khôi phục thời hạn sáng chế và cạnh tranh giá thuốc 1984 thường được
biết đến với tên gọi Luật Hatch-Waxman đã tạo ra một số thay đổi quan trọng về
pháp luật sáng chế được thiết kế để khuyến khích sự cải tiến trong ngành công
nghiệp dược phẩm cũng như tạo thuận lợi cho việc giới thiệu nhanh chóng các loại
thuốc giá rẻ. Những thay đổi này bao gồm các quy định kéo dài thời hạn bảo hộ có
tính đến sự chậm trễ hành chính xảy ra trong quá trình xin phê duyệt bán hàng ra thị
trường của Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm (FDA); ngoại lệ về vi phạm sáng
chế cho các hoạt động liên quan đến phê duyệt việc bán hàng ra thị trường để điều
tiết; thành lập cơ chế khiếu nại hiệu lực pháp lý của sáng chế dược phẩm; và phán
quyết cho tranh chấp về hiệu lực pháp lý, khả năng áp dụng và sự vi phạm một loại
thuốc được bảo hộ. Luật 1984 cũng quy định FDA có thẩm quyền quyết định các
thời hạn độc quyền bán hàng cho một dược phẩm độc lập so với các quyền phát
sinh từ sáng chế.
Văn phòng Thương hiệu và Sáng chế (USPTO) và Cơ quan quản lý Thuốc
và Thực phẩm (FDA) đóng vai trò chính trong ngành công nghiệp dược. USPTO
cho phép sáng chế được cấp đối với dược phẩm và các phương pháp sản xuất hoặc
sử dụng chúng. Bằng sáng chế trao quyền ngăn cấm người khác không được sản
xuất, sử dụng, bán, chào bán hoặc nhập khẩu vào Hoa Kỳ các sáng chế được bảo hộ.
Tuy nhiên, việc cấp sáng chế không trao cho người sở hữu sáng chế quyền bán sản
74
phẩm ra thị trường mà đối với nhiều dược phẩm, FDA sẽ phê duyệt việc bán chúng
cho người tiêu dùng. Pháp luật liên bang yêu cầu chung là các nhà sản xuất dược
phẩm phải chứng minh sản phẩm của mình là an toàn và có hiệu quả để được phép
bán chúng ra thị trường. Như vậy, do tính tách biệt giữa quyền sở hữu sáng chế và
việc phê duyệt bán sản phẩm ra thị trường, nhà sản xuất dược phẩm phải xin cấp
phép cho cả hai quyền này.
So với pháp luật về sáng chế trước đó, Đạo luật 1984 quy định quy trình mới
rút gọn để phê duyệt bán dược phẩm ra thị trường với tên gọi Đơn xin phê duyệt
thuốc mới rút gọn (ABDA) được nộp tại FDA. Thông qua thủ tục này, nhà sản xuất
dược phẩm có thể bán sản phẩm ra thị trường ngay khi bằng sáng chế của sản phẩm
gốc hết hiệu lực. Bên cạnh đó, Đạo Luật 1984 cũng quy định gia hạn sáng chế.
Thông thường, thời hạn sáng chế là 20 năm từ ngày nộp đơn. Tuy nhiên, thời hạn
sáng chế có thể được gia hạn cho khoảng thời gian được dùng vào việc thử nghiệm.
Thời gian gia hạn không quá 5 năm và thời hạn còn lại của sáng chế được gia hạn
sau khi nhận được phê duyệt của FDA không được quá 14 năm. Việc gia hạn sáng
chế là không tự động mà nhà sở hữu sáng chế phải nộp đơn đến USPTO trong vòng
60 ngày từ khi nhận được cấp phép bán hàng của FDA.
Đạo luật 1984 cũng bao gồm các điều khoản về độc quyền thị trường cho
một số dược phẩm được FDA phê duyệt. Đó là trường hợp FDA cấp phép bán ra thị
trường một loại dược phẩm cho một tổ chức duy nhất. Cấp phép độc quyền bán
hàng không phụ thuộc vào sự tồn tại của bảo hộ sáng chế và hai quyền này thực tế
có thể mâu thuẫn nhau.
Ngoài ra, đạo luật 1984 quy định cơ chế để nhà sản xuất dược phẩm có thể
được cấp phép bán ra thị trường một loại thuốc đã được sáng tạo ra bởi một người
khác. Luật cho phép ngoại lệ cho việc vi phạm sáng chế theo đó việc sản xuất, sử
dụng, chào bán, bán một sáng chế được bảo hộ ở Hoa Kỳ sẽ không bị coi là vi phạm
nếu các hoạt động nói trên chỉ nhằm sử dụng hợp lý liên quan đến phát triển và
cung cấp thông tin theo một Luật Liên bang điều chỉnh việc sản xuất, sử dụng hoặc
bán thuốc [48], [49].
3.1.2. Thái Lan
Đến tháng 9 năm 1992, vấn đề bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm
75
mới được quy định trong hệ thống luật pháp của Thái Lan. Và cũng từ thời điểm
này, thời hạn bảo hộ sáng chế mới được kéo dài tới 20 năm như ở đa số các nước
phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, theo Luật về bảo hộ sáng chế năm 1992 thì
những loại thuốc được cấp bằng bảo hộ sáng chế và đã có mặt trên thị trường nước
ngoài nhưng chưa có được lưu hành tại Thái Lan, sẽ không nhận được bất kỳ sự bảo
hộ của nước này; và Chính phủ Thái Lan có thể ban hành những loại giấy phép bắt
buộc đối với những loại dược phẩm đã được bảo hộ nhưng chưa được sản xuất ở
Thái Lan. Đến năm 1993, Chính phủ Thái Lan đã ban hành một quy định dành cho
những loại thuốc không nhận được sự bảo hộ theo Luật năm 1992, theo đó thời hạn
tối đa để một loại thuốc được độc quyền bảo hộ trên thị trường chỉ khoảng 5 đến 6
năm. Quy định này là không phù hợp với xu thế của thế giới về bảo hộ sáng chế đối
với lĩnh vực dược phẩm. Điều này có thể được giải thích là vì vào thời điểm đó Thái
Lan vẫn đang trong quá trình hoàn thiện pháp luật để đáp ứng những yêu cầu khi
gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đặc biệt là đáp ứng yêu cầu của Hiệp
định TRIPS. Theo ước tính của Hiệp hội các nhà sản xuất và nghiên cứu dược phẩm
Hoa Kỳ năm 1994, với sự chưa hoàn thiện này của pháp luật Thái Lan, doanh thu
của các công dược phẩm của Hoa Kỳ đã giảm tới 70 triệu USD.
Luật về sáng chế của Thái Lan đã được sửa đổi vào tháng 10 năm 1998, và
chính thức có hiệu lực vào năm 1999. Nhìn chung, các doanh nghiệp ở Thái Lan hài
lòng với sự sửa đổi này. Tuy nhiên, họ vẫn có những quan ngại xung quanh điều
khoản mà theo đó Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ Thái Lan có quyền ban hành
những giấy phép bắt buộc nếu như những sáng chế, cho dù đã được cấp bằng bảo
hộ, không được áp dụng tại Thái Lan hoặc các công ty áp mức giá cao cho những
sản phẩm được sản xuất theo sáng chế được bảo hộ.
Đó không chỉ còn là những điều quan ngại. Đến tháng 10 năm 2002, Tòa án
Thái Lan về quyền sở hữu trí tuệ đã ra phán quyết không cho phép mở rộng phạm vi
bảo hộ đối với bằng độc quyền sáng chế của công ty dược phẩm Britol – Myer
Squibb (BMS) cho loại biệt dược didanosine (ddI). Điều đó cũng đồng nghĩa với
việc Công ty dược phẩm Thái Lan, một công ty của nhà nước, được phép sản xuất
các loại thuốc dưới dạng viên có chứa biệt dược didanosine với mức giá phù hợp
hơn cho những bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS. Trước đây công ty này chỉ sản xuất
76
ddI dưới dạng bột, nhưng với phán quyết của Tòa án, công ty có thể sản xuất thuốc
dưới dạng viên. Điều này sẽ thuận tiện hơn cho bệnh nhân trong việc sử dụng cũng
như có ít những tác dụng phụ hơn. Biệt dược didanosine có trong thuốc Videx được
công ty BMS bán với mức giá từ 2,56 USD đến 4,11 USD cho mỗi lần dùng; trong
khi đó, mức thu nhập bình quân một ngày có người dân Thái La chỉ là 3,84 USD.
Điều đó khiến cho chỉ một phần sáu só bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS cần điều trị
bằng thuốc có đủ khả năng sử dụng thuốc một cách thường xuyên. Ngày 16 tháng 2
năm 2004, BMS đã chính thức ký bản thỏa thuận chuyển giao Bằng độc quyền sáng
chế trong việc sản xuất thuốc ddI. Quyết định này của BMS đánh dấu thắng lợi
quan trọng của những nhà hoạt động phòng chống AIDS ở Thái Lan.
Liên tiếp trong tháng 11 năm 2006 và tháng 1 năm 2007, Chính phủ Thái
Lam đã ban hành các quyết định mà theo đó các công ty dược phẩm có thể sản xuất
các loại thuốc tương tự các loại thuốc đã được bảo hộ của các công ty dược phẩm
lớn của nước ngoài như: Stocrin – thuốc chữa bệnh AIDS của công ty Merck,
Kaletra – thuốc chữa bệnh AIDS của công ty Abbott và Plavix – một loại thuốc làm
loãng máu được sản xuất bởi một công ty có trụ sở tại Pháp là Sanofi-Aventis và
một hãng của Mỹ là BMS. Chính phủ có dự định sẽ tiếp tục dỡ bỏ Bằng bảo hộ sáng
chế của hơn 11 loại dược phẩm nữa. Có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau xung
quang vấn đề này. Từ phía Chính phủ Thái Lan, Bộ trưởng Bộ Y tế nước này cho
biết căn cứ vào các quy định về thương mại quốc tế trong các trường hợp khẩn cấp,
các trường hợp liên quan đến sức khỏe cộng đồng, thì quyết định của Thái Lan là
hoàn toàn được phép; và Chính phủ Thái Lan phải làm như vậy vì với mức giá hiện
tại (mức giá chưa dỡ bỏ Bằng độc quyền sáng chế) ngân sách Chính phủ Thái Lan
chỉ có khả năng cung cấp thuốc cho 1/5 trong tổng số 500000 người nhiễm HIV ở
Thái Lan. Đương nhiên quyết định này của chính phủ được các nhà hoạt dộng
phòng chống AIDS hoàn toàn ủng hộ. Họ cho rằng đây là quyết định hết sức dũng
cảm của Chính phủ. Tuy nhiên Quyết định này lại vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ
phương tây. Các công ty dược phẩm cho biết họ sẽ xem xét lại việc đầu tư tại Thái
Lan. Họ không thể yên tâm đầu tư khi mà tài sản của họ không được bảo vệ một
cách chính đáng. Chính phủ Hoa Kỳ đã chuyển Thái Lan từ danh sách các nước cần
quan tâm (Watch List) xuống các nước cần đặc biệt quan tâm (Priority Watch List).
77
Điều này hoàn toàn bất lợi cho Thái Lan vì họ rất dễ phải chịu những biện pháp
trừng phạt về kinh tế từ phía Mỹ như tăng thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng của
Thái Lan sang Mỹ. Trên thực tế, nhu cầu về loại thuốc Plavix cũng chưa đến mức
thuộc tình trạng khẩn cấp quốc gia, và loại thuốc Pravix cũng không phải là loại
thuốc đặc biệt thiết yếu đúng như định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Chưa đến 1% dân số Thái Lan (khoàng 300000 người) mắc phải căn bệnh nghẽn
động mạch vành mãn tính. Bởi vậy có thể thấy Quyết định này của Thái Lan để
thực hiện các mục tiêu về kinh tế và chính trị nhiêu hơn là đối phó với tình trạng
khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng. Và như để khẳng định hơn nữa chủ trương chính
sách của mình, Chính phủ Thái Lan đã lên tiếng ủng hộ Brazil sau khi nước này
cũng quyết định dỡ bỏ việc bảo hộ sáng chế đối với các loại thuốc điều trị Bệnh
AIDS, và rằng Thái Lan không còn đơn độc trong cuộc chiến chống lại các hãng
dược phẩm khổng lồ.
Mới đây nhất, vào cuối năm 2007, Thái Lan lại ra quyết định tương tự đối
với 3 loại dược phẩm: hai trong số các loại thuốc điều trị AIDS và loại còn lại là
thuốc điều trị bệnh tim mạch. Theo quyết định này các công ty dược phẩm được
phép sản xuất hoặc nhập khẩu các loại thuốc tương tự thuốc được bảo hộ sang chế
mà không phải được phép chủ sở hữu của những sáng chế đó. Theo tính toán của
của Chính phủ Thái Lan điều này sẽ giúp có thêm 20000 người nữa, so với mức giá
hiện tại được bảo hộ, được tiếp cận với các loại thuốc chữa những căn bệnh hiểm
nghèo.
Cho dù với mục tiêu kinh tế hay chính trị đi nữa, có thể thấy Chính phủ Thái
Lan rất quyết tâm trong việc tăng khả năng tiếp cận các loại thuốc chữa bệnh cho
người dân, đặc biệt là căn bệnh AIDS. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu vì Thái Lan
được biết đến nhiều với ngành công nghiệp tình dục - một điều kiện thuận lợi để
cho căn bệnh thế kỷ AIDS lây lan. Cho dù chưa phải là một nước phát triển, nhưng
rõ ràng Chính phủ Thái Lan đang nỗ lực để nâng cao mức sống của người dân nước
này, bất chấp việc trong ngắn hạn họ sẽ vấp phải sự phản đối gay gắt, thậm chí cả
sự trừng phạt về kinh tế [11], [46], [63].
3.1.3. Ấn Độ
Ngành công nghiệp dược phẩm của Ấn Độ đã thực sự thành công trong việc
78
tạo ra hàng triệu việc làm cũng như đảm bảo rằng những loại thuốc cần thiết đến với
đại đa số người dân ở một mức giá hợp lý. Sở dĩ đạt được điều này là vì năm 1970
dưới sức ép của các công ty chuyên sản xuất các loại thuốc tương tự các loại thuốc
được sản xuất ở phương tây, Chính phủ của Thủ tướng Indira Ghandi đã cấm việc
bảo hộ sáng chế đối với các sản phẩm dược phẩm. Suốt từ năm 1970 đến năm 2005,
Luật về Bảo hộ sáng chế của Ấn Độ chỉ bảo hộ cho các sáng chế là quy trình, và
cũng chỉ bảo hộ cho các công ty tiến hành đầu tư dài hạn trong lĩnh vực nghiên cứu
và phát triển thuốc ở đây. Kết quả là ngành công nghiệp sản xuất các loại thuốc
đồng dạng rất phát triển ở Ấn Độ. Ước tính hiện nay ở nước này có khoảng 22 ngàn
công ty tham gia vào lĩnh vực này. Năm 1995, với việc gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), Ấn Độ chính thức tham gia hiệp định TRIPs. Ngày 23 tháng 3
năm 2005, để hiện thực hóa các cam kết của mình khi tham gia Hiệp định TRIPs,
Quốc hội Ấn Độ đã thông qua đạo luật mới về bảo hộ sáng chế. Có hai điểm mới
nổi bật của Luật bảo hộ sáng chế năm 2005 của Ấn Độ so với Luật năm 1970 đó là:
thứ nhất, Luật năm 1970 chỉ bảo hộ cho các sáng chế là quy trình, còn Luật năm
2005 bảo hộ cho cả sáng chế là sản phẩm; thứ 2, Luật năm 1970 cho phép thời hạn
bảo hộ chỉ là 7 năm và không gia hạn, Luật 2005 cho phép thời hạn bảo hộ là 20
năm. Trước năm 2005, Ấn Độ là thị trường thứ 4 thế giới về khối lượng - chiếm 8%
ngành công nghiệp dược phẩm thế giới và đứng thứ 13 về giá trị - ước đạt 1% khối
lượng ngành công nghiệp dược phẩm thế giới. Sản phẩm của ngành dược phẩm Ấn
Độ được xuất khẩu sang 200 quốc gia trên thế giới, 50% khối lượng xuất khẩu là
sang các nước đang phát triển, số còn lại được xuất sang những thị trường dược
phẩm lớn của thế giới như Mỹ, Nhật và Liên minh Châu Âu. Đạt được thành công
như vậy là do chi phí sản xuất thuốc ở Ấn Độ thấp, chính sách kiểm soát giá của
Chính phủ và đặc biệt là do sự vắng mặt của các loại thuốc được bảo hộ tại đây.
Tuy nhiên điều này lại không thu hút các công ty dược phẩm đa quốc gia – những
công ty vốn sản xuất thuốc dựa trên việc nghiên cứu. Họ không tìm thấy sự bảo đảm
về lợi nhuận khi đầu tư nghiên cứu phát triển và sản xuất thuốc tại Ấn Độ. Mọi
chuyện đã hoàn toàn thay đổi sau khi Ấn Độ có những cải cách trong hệ thống Luật
pháp của mình. Với lợi thế về cơ sở vật chất của các công ty dược phẩm địa
phương, với lợi thế về đội ngũ lao động có kinh nghiệm trong ngành dược, với sự
79
thay đổi trong pháp luật về bảo hộ sáng chế, ngày càng có nhiều các công ty dược
phẩm nước ngoài đầu tư vào Ấn Độ. Điều này được minh chứng bởi những con số
thống kê rất ấn tượng. Trong năm 2006 và 2007, Ấn Độ là nước có tốc độ tăng
trưởng của ngành dược phẩm cao nhất thế giới, ở mức 17,5% và 13%, tổng giá trị
lần lượt đạt 7,3 và 8,2 tỷ USD.
Giống như Thái Lan, Ấn Độ cũng theo đuổi các mục tiêu xã hội, nhưng điều
tạo nên sự khác biệt giữa ngành dược phẩm của hai quốc gia này đó là do Ấn Độ có
một thời gian dài không tiến hành bảo hộ đối với các sản phẩm dược phẩm, điều
này tạo ra một nền tảng vững chắc về cơ sở vật chất và con người cho ngành công
nghiệp dược của nước này. Tất nhiên vào thời điểm hiện nay ngành dược Việt Nam
không thể làm những điều tương tự mà Ấn Độ đã làm trong suốt những năm 1970
đến 2005, nhưng chúng ta cũng cần tranh thủ khoảng thời gian khi chưa phải thực
hiện các cam kết hội nhập để cũng cố ngành dược phẩm nước nhà tạo nền tảng
vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngành dược khi thị trường có thêm sự
cạnh tranh khốc liệt từ những công ty dược phẩm nước ngoài [11], [40].
3.1.4. Trung Quốc
Trung Quốc thường được biết dến như một nước vi phạm quyền sở hữu trí
tuệ nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên ít người biết rằng từ những năm 80 của thế kỷ
trước, Trung Quốc đã ban hành và đưa vào thực thi rất nhiều các văn bản pháp luật,
các quy tắc, các văn bản hướng dẫn thực thi luật có liên quan đến các vấn đề chính
của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Cũng từ năm 1980, Trung Quốc đã có một cơ quan
chuyên trách về Bằng độc quyền sáng chế, và từ ngày 01 tháng 4 năm 1985 Luật về
bằng độc quyền sáng chế chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên các quy định liên quan
đến bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm mới chỉ được đưa vào thực thi kể từ
năm 1993.
Một trong những khía cạnh liên quan đến bảo hộ sáng chế dược phẩm mà
Trung Quốc đang nỗ lực hoàn thiện đó là bảo hộ sáng chế đối với các loại thuốc
truyền thống. Kể từ sửa đổi đầu tiên Luật về Bằng độc quyền sáng chế vào tháng
năm 1992, mỗi năm ở Trung Quốc có khoảng 1400 đơn xin cấp bằng độc quyền
sáng chế liên quan đến các loại thuốc truyền thống. Thông thường Bằng độc quyền
sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm sẽ bảo hộ cho sản phẩm, phương pháp và cách
80
sử dụng. Tuy nhiên, trước ngày 1 tháng 1 năm 1993, sản phẩm và cách sử dụng
không được bảo hộ mà chỉ có phương pháp điều chế thuốc là được cấp bằng bảo hộ.
Sau lần sửa đổi thứ nhất Luật về Bằng bảo hộ sáng chế, phạm vi bảo hộ đối với các
sản phẩm dược phẩm nói chung và các loại truyền thống nói riêng, đã được mở
rộng bao gồm cả sản phẩm, phương pháp và cách sử dụng. Phạm vi bảo hộ đối với
sản phẩm là thuốc truyền thống bao gồm: thành phần các loại thuốc; sự chuẩn bị,
điều chế thảo dược; các chất chiết xuất từ thảo dược hoặc từ thành phần các loại
thuốc; các nguyên liệu từ thảo dược;…v…v…Phạm vi bảo hộ đối với phương pháp
bao gồm: phương pháp chuẩn bị các loại thuốc, các thành phần của thuốc từ những
nguyên liệu tự nhiên; phương pháp điều chế các loại nguyên liệu đó và phương
pháp chữa trị khi sử dụng các loại thuốc truyền thống có nguồn gốc tự nhiên. Điều
25 Luật về Bằng sáng chế của Trung Quốc quy định phương pháp chẩn đoán hoặc
điều trị bệnh không được bảo hộ. Tuy nhiên, trong đơn xin cấp bằng bảo hộ sáng
chế để chữa một loại bệnh cụ thể thì cách sử dụng đó có thể sẽ được bảo hộ. Ví dụ
một loại thảo dược trước đây được điều chế bằng cách phơi khô rồi xao lên, kết hợp
với một số loại thảo dược khác, sắc lấy nước uống, có tác dụng chữa bệnh A.
Nhưng nay, cũng loại thảo dược đó, ép tươi, ép lấy nước uống có tác dụng chữa
bệnh B. Nếu trong đơn xin cấp Bằng độc quyền sáng chế, loại thảo dược đó được
mô tả như một phương pháp điều trị mới căn bệnh B thì nó sẽ không được chấp
nhận. Tuy nhiên nếu nó được mô tả như một cách sự dụng mới, như một cách điều
chế mới đễ chữa trị căn bệnh B thì nó hoàn toàn được chấp nhận và có thể được bảo
hộ độc quyền sáng chế [11], [56].
3.2.1. Thực trạng ngành dƣợc phẩm ở Việt Nam
3.2.1. Tổng quan về ngành dƣợc Việt Nam:
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng như khó
khăn cho ngành dược. Ngành dược đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh
nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển. Bên cạnh những thuận lợi về môi
trường đầu tư, tiếp cận công nghệ mới, đón nhận một lượng vốn đầu tư lớn, có cơ
hội lựa chọn nguồn nguyên liệu đa dạng với chi phí hợp lý,… ngành dược phải đối
đầu với không ít khó khăn như: Năng lực cạnh tranh còn yếu, thiếu hiểu biết các
quy định về sở hữu trí tuệ; thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ; đối mặt với các doanh
81
nghiệp dược phẩm nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng khi Chính phủ cam kết
giảm thuế suất thuế nhập khẩu; nới lỏng chính sách với các doanh nghiệp nước
ngoài.
Hiện nay, rất nhiều công ty dược phẩm nước ngoài muốn vào thị trường Việt
Nam thông qua việc hợp tác với công ty trong nước tham gia vào khâu nhập khẩu
và dịch vụ hậu cần trong ngành dược. Tính đến hết năm 2013, có 650 công ty sản
xuất và cung ứng thuốc của nước ngoài đăng ký hoạt động tại Việt Nam với hình
thức phổ biến nhất là văn phòng đại diện và chủ yếu tham gia vào khâu nhập khẩu
thuốc, chiếm tỷ lệ đến 70%. Trong khi đó, chỉ có 1/5 tổng số thuốc đang lưu hành
tại Việt Nam được sản xuất bởi các công ty này.
Ngành dược được coi là một ngành non trẻ nhưng hiện nay đã có những
bước tiến nhất định. Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy của WTO, tất cả mặt
hàng đều phải chịu sự cạnh tranh gay gắt. Dược phẩm là sản phẩm đặc biệt, do vậy
sự cạnh tranh trên thị trường dược phẩm cũng luôn quyết liệt và được sự quan tâm
của toàn xã hội.
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), công nghiệp dược Việt
Nam ở mức đang phát triển. Việt Nam đã có công nghiệp dược nội địa, nhưng đa số
phải nhập khẩu nguyên vật liệu, do đó nhìn nhận một cách khách quan có thể nói
rằng công nghiệp dược Việt Nam vẫn ở mức phát triển trung bình-thấp.
Các tổ chức quốc tế có những phân loại và xếp hạng khác nhau cho công
nghiệp dược: Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) chia công
nghiệp dược theo 5 mức phát triển, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hội nghị
Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD) xác định mức độ phát triển
công nghiệp dược của các quốc gia theo 4 cấp độ:
- Cấp độ 1: Nước đó hoàn toàn phải nhập khẩu thuốc.
- Cấp độ 2: Sản xuất được một số thuốc đồng dạng (generic); đa số thuốc
phải nhập khẩu.
- Cấp độ 3: Có công nghiệp dược nội địa; có sản xuất thuốc generic; xuất
khẩu được một số dược phẩm.
- Cấp độ 4: Sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốc mới.
Theo đánh giá, hiện nay công nghiệp dược Việt Nam mới ở gần cấp độ 3
82
theo thang phân loại của WHO. Còn nếu theo thang phân loại 5 mức phát triển của
UNIDO thì công nghiệp dược của ta mới chỉ ở mức 3, nghĩa là “công nghiệp dược
nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập”. Tuy vậy, cũng phải nhận
thấy ngành công nghiệp dược Việt Nam trong 10 năm gần đây đã tăng trưởng nhanh
chóng.
Theo báo cáo của BMI, năm 2008, Việt Nam đã chi khoảng 1,1 tỷ USD cho
dược phẩm. Trong năm 2009, con số này sẽ tăng lên khoảng 1,2 tỷ USD do chi phí
mua thuốc để phòng chống các dịch bệnh tăng lên.
Vào năm 2013, chi phí này sẽ tăng lên khoảng 1,7 tỷ USD. Giá trị thị trường
thuốc kê đơn ước đạt 1,45 tỷ USD vào năm 2013, chiếm khoảng 73,2% thị trường
dược phẩm; thuốc không kê đơn sẽ đạt khoảng 529 triệu đô la Mỹ, chiếm khoảng
26,8%.
Hiện nay, năng lực của ngành dược trong nước chỉ đáp ứng được gần 50% về
doanh thu, phần còn lại chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu. Vào năm 2013, kim
ngạch nhập khẩu thuốc sẽ vượt 1,37 tỷ USD so với con số 923 triệu USD trong năm
2008. Trong khi đó, xuất khẩu dược phẩm chỉ đạt 216 triệu USD. Hiện nay, doanh
nghiệp dược phẩm Việt Nam đang xuất khẩu thuốc sang một số thị trường như
Bangladesh, Pakistan, Lào, Campuchia, Singapore,...
BMI dự báo, trong 5 năm tới thị trường dược phẩm Việt Nam sẽ là mảnh đất
giàu tiềm năng cho các công ty nước ngoài do thị trường bắt đầu mở cửa rộng hơn
cho các doanh nghiệp này, và thị trường Việt Nam đạt $2 tỉ vào 2011 với tốc độ
tăng trưởng: 17%-19%/năm và tiền thuốc tăng gấp đôi sau 5 năm
Theo cam kết của WTO, các công ty dược phẩm nước ngoài có quyền mở
chi nhánh tại Việt Nam và được tham gia nhập khẩu trực tiếp dược phẩm, mặc dù
chưa được quyền phân phối. Thêm vào đó, Việt Nam sẽ phải giảm thuế cho sản
phẩm y tế là 5% và 2,5% cho thuốc nhập khẩu trong vòng 5 năm sau khi gia nhập
83
WTO [4].
Biểu đồ 1 Dự báo tiền thuốc sử dụng sau 5 năm tại Việt Nam
(Nguồn: Cục Quản lý dược) Biểu đồ 2 Dự báo thị trƣờng dƣợc phẩm Việt Nam
(Nguồn: Cục Quản lý dược)
3.2.2. Thực trạng bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm tại Việt Nam:
Từ đó đến nay (năm 2010), Cục Sở hữu trí tuệ đã nhận được 699 đơn đăng
ký sáng chế liên quan đến lĩnh vực dược phẩm (chiếm 20% tổng số đơn sáng chế
84
nộp tại Việt Nam), trong đó mới chỉ có khoảng 2% số đơn là do người Việt Nam
nộp; 9 đơn đăng ký giải pháp hữu ích liên quan đến lĩnh vực dược phẩm (chiếm 3%
tổng số đơn giải pháp hữu ích nộp tại Việt Nam), và các đơn này đều là đơn do
người Việt Nam nộp. Trong số này, Cục cũng cấp được 155 Bằng độc quyền sáng
chế (chiếm 20% tổng số Bằng độc quyền sáng chế cấp ra), và không có Bằng độc
quyền giải pháp hữu ích nào được cấp vào năm 2010. Sau đây, ta có thể thấy rõ hơn
sự phát triển của hoạt động bảo hộ sáng chế dược phẩm tại Việt Nam thông qua các
bảng số liệu và biểu đồ sau đây:
Bảng 1. Đơn sáng chế nộp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng số đơn nộp vào 1952 2173 2860 3200 2890 3582
Tổng số đơn của người nộp đơn 180 196 221 206 259 306
Việt Nam
Tổng số đơn nộp vào thuộc lĩnh 516 596 713 742 610 699
vực dược phẩm
Tổng số đơn của người nộp đơn 8 10 13 10 5 7
Việt Nam thuộc lĩnh vực dược
(Nguồn: Cục SHTT)
phẩm
Bảng 2. Đơn Giải pháp hữu ích nộp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010
2005 2006 2007 2008 2009 2010 Năm
Tổng số đơn nộp vào 249 238 220 284 253 299
Tổng số đơn của người nộp đơn 183 162 120 115 136 215
Việt Nam
Tổng số đơn nộp vào thuộc lĩnh 6 3 3 5 6 9
vực dược phẩm
Tổng số đơn của người nộp đơn 4 3 2 4 5 9
Việt Nam thuộc lĩnh vực dược
(Nguồn: Cục SHTT)
85
phẩm
Bảng 3. Bằng độc quyền sáng chế cấp tại Việt Nam từ năm 2005 tới 2010
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng số bằng được cấp 668 669 725 666 706 822
Tổng số bằng của người nộp đơn 28 44 34 39 29 29
Việt Nam
Tổng số bằng thuộc lĩnh vực dược 128 150 174 168 177 155
phẩm
Tổng số bằng của người nộp đơn 2 3 5 2 2 2
Việt Nam thuộc lĩnh vực dược
(Nguồn: Cục SHTT)
phẩm
Bảng 4. Bằng độc quyền Giải pháp hữu ích cấp tại Việt Nam từ năm
2005 tới 2010
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng số bằng được cấp 74 70 85 75 64 58
Tổng số bằng của người nộp đơn 41 45 49 48 45 35
Việt Nam
Tổng số bằng thuộc lĩnh vực dược 2 0 2 0 5 0
phẩm
Tổng số bằng của người nộp đơn 2 0 2 0 5 0
Việt Nam thuộc lĩnh vực dược
(Nguồn: Cục SHTT)
phẩm
Nhìn tổng quan các bảng số liệu trên đây cho ta thấy một số điểm đặc trưng sau
đây:
- Tổng số đơn sáng chế và giải pháp hữu ích trong lĩnh vực dược phẩm giao
động nhỏ qua các năm, về cơ bản là tăng chậm;
- Tổng số đơn sáng chế và giải pháp hữu ích trong lĩnh vực dược phẩm
86
chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 8% hàng năm) so với tổng số lượng đơn sáng chế nộp vào;
- Hầu hết qua các năm (từ năm 2005 tới 2010) số lượng đơn sáng chế thuộc
lĩnh vực dược phẩm nộp tại Việt Nam hầu hết (chiếm tới hơn 90%) là đơn của
người nước ngoài, còn lại hầu hết các đơn giải pháp hữu ích trong lĩnh vực này là
do người nộp đơn Việt Nam. Số lượng đơn giải pháp hữu ích chiếm một tỷ lệ rất
nhỏ so với lượng đơn sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm (chiếm khoảng 1%);
- Số lượng Bằng độc quyền sáng chế cấp trong lĩnh vực dược phẩm giao
động nhỏ qua các năm và chỉ chiếm khoảng 20% tới 30% tổng số đơn sáng chế đã
nộp trong lĩnh vực này.
Ta có thể thấy rõ sự phát triển của lượng đơn sáng chế/giải pháp hữu ích và
bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích tại Việt Nam khi cụ thể hóa thành các
biểu đồ sau đây:
Biểu đồ 3. Mối quan hệ giữa tổng số đơn sáng chế
và đơn sáng chế dƣợc phẩm nộp tại Việt Nam (từ 2005 tới 2010)
Qua biểu đồ này ta có thể thấy được các chính sách khuyến khích sáng tạo
trong lĩnh vực dược phẩm chưa có những tác động tích cực để tăng lượng đơn sáng
chế qua các năm. Tổng số đơn sáng chế nộp vào thuộc lĩnh vực dược phẩm chiếm
một tỷ lệ rất thấp so với tổng số đơn sáng chế nộp vào tại Việt Nam. Các chính sách
này đã không tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ qua 5 năm (từ 2005 tới 2010) bởi
lượng đơn sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm giao động không nhiều qua các năm,
87
có chiều hướng tăng từ năm 2005 tới 2008, nhưng lại giảm nhẹ vào năm 2009,
2010. Đây là thực tế khiến chúng ta cần nhìn nhận lại và có những điều chỉnh các
chính sách hỗ trợ nghiên cứu, triển khai trong lĩnh vực dược phẩm, giúp tăng tổng
số đơn sáng chế trong những năm tới (bao gồm cả lượng đơn sáng chế nộp bởi
người nộp đơn Việt Nam và nước ngoài).
Khi chúng ta tách riêng số lượng đơn sáng chế của người nộp đơn nước
ngoài ra khỏi số lượng đơn nộp trong lĩnh vực dược phẩm thì biểu đồ 3 càng cho
thấy tỷ lệ đơn sáng chế trong lĩnh vực này của người nộp đơn Việt Nam chiếm tỷ lệ
rất nhỏ so với tổng số đơn sáng chế của người nộp đơn Việt Nam nói chung.
Biểu đồ 4. Mối quan hệ giữa tổng số đơn sáng chế
và đơn sáng chế dƣợc phẩm nộp tại Việt Nam của ngƣời Việt Nam
(từ 2005 tới 2010)
88
Biểu đồ 5. Số lƣợng đơn sáng chế dƣợc phẩm nộp tại Việt Nam
(từ 2005 tới 2010)
Với biểu đồ số 4 lại cho thấy rõ hơn trình độ sáng tạo của các doanh nghiệp
Việt Nam trong lĩnh vực dược phẩm đang ở một mức rất thấp, thể hiện qua số lượng
đơn sáng chế người Việt Nam nộp vô cùng hạn chế. Số lượng đơn sáng chế nộp bởi
người Việt Nam cũng giao động nhẹ và không rõ chiều hướng tăng, trái lại còn có
xu hướng giảm từ 2007 tới 2010.
Biểu đồ 6. Số lƣợng Bằng độc quyền sáng chế dƣợc phẩm đƣợc cấp tại Việt
Nam (từ 2005 tới 2010)
89
Tổng số bằng của người nộp đơn Việt Nam gần như chúng ta khó nhận thấy
trên biểu đồ này vì nó chiếm một tỷ lệ quá nhỏ. Thông thường phải mất khoảng 36
tháng kể từ ngày nộp đơn tới lúc cấp văn bằng bảo hộ. Trong khoảng 5 năm đủ để
chúng ta so sánh tỷ lệ đơn nộp so với số bằng cấp ra trong lĩnh vực sáng chế. Và ở
đây, rõ ràng là tỷ lệ số bằng cấp ra/số đơn nộp vào thấp. Tỷ lệ này đối với đơn do
người nộp đơn Việt Nam nộp chỉ khoảng ¼. Điều này chứng tỏ số lượng đơn nộp
thành công (tức là đươc cấp văn bằng bảo hộ) của người nộp đơn Việt Nam thấp.
Đối với các đơn do người nộp đơn nước ngoài nộp thì tỷ lệ này cao hơn, bởi lẽ, hầu
hết đều là đơn PCT.
Ta có thể thấy rõ hơn mối tương quan này qua biểu đồ 6 sau đây:
Biểu đồ 7. Số đơn nộp và số bằng cấp ra trong lĩnh vực dƣợc phẩm tại Việt
Nam (Từ 2005 tới 2010)
3.3. Nguyên tắc và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
bảo hộ sáng chế dƣợc phẩm:
3.3.1. Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế
dƣợc phẩm:
Theo báo Thanh niên ngày 06/7/2010, một số loại thuốc tại Việt Nam hiện
nay có giá cao hón giá bán tại các nước trên thế giới khoảng 40% trong khi thu nhập
90
bình quân của người dân Việt Nam rất thấp, tiền chi cho y tế hàng năm tại Việt
Nam không cao (năm 2009, chi phí trung bình cho y tế (không chỉ cho riêng dược
phẩm) là 16.45 USD/đầu người. Giá thuốc cao vượt quá khả năng chi trả của người
dân Việt Nam có thể được giải thích bởi nhiều lý do, Báo cáo tác động của cơ chế
về quyền SHTT đối với giá thuốc tại Việt Nam do Viện khoa học xã hội Việt Nam
nghiên cứu năm 2006 chỉ ra năm yếu tố chính làm giá thuốc tại Việt Nam tăng cao,
bao gồm: Cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh; Tâm lý người tiêu dùng; Thông tin
về tình hình dược phẩm; Công nghệ sản xuất thuốc Việt Nam chưa phát triển; sự
độc quyền trong phân phối thuốc. Theo báo cáo trên, yếu tố bảo hộ quyền SHTT
không phải là yếu tố quyết định đến giá thuốc cao tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo tác
giả, quan điểm này là chưa hoàn toàn chính xác. Bên cạnh những yếu tố được chỉ ra
ở trên, các chi phí bất hợp lý trong việc phân phối thuốc và sự thiếu đạo đức của bác
sĩ kê toa thuốc và sự “độc quyền” đối với dược phẩm là những yếu tố làm tăng giá
thuốc. Ngoài tất cả các yếu tố trên, việc bảo hộ sáng chế dược phẩm cũng tác động
mạnh đến giá thuốc. Bên cạnh việc cộng vào giá thuốc các chi phí cho việc bảo hộ
sáng chế các dược phẩm, việc không có sản phẩm cạnh tranh trên thị trường trong
thời gian bảo hộ sáng chế đã tạo cơ hôi cho người nằm độc quyền sáng chế tăng giá
bán của dược phẩm. Giá thuốc quá cao, vượt quá khả năng chi trả của phẩn lớn
người dân đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến một trong những quyền cơ bản của con
người là quyền được chăm sóc sức khỏe. Không giống như các loại hàng hóa thông
thường, thuốc chữa bệnh là một hàng hóa đực biệt, khi đã bị bệnh, dù không đủ khả
năng trả tiền thuốc thì người bệnh và người thân của người bệnh cũng sẽ phải huy
động toàn bộ nguồn lực tài chính để chữa bệnh. Người tiêu dùng cũng có thể không
tìm được sản phẩm thay thế. Vì trong nhiều trường hợp người bệnh sẽ không có sự
lụa chọn dược phẩm giống như các hàng hóa thông thường. Một người bị bệnh ung
thư không thể mua thuốc chữa dạ dày thay thế thuốc chữa ung thư đã được bác sỹ
chỉ định chỉ vì lý do thuốc chữa dạ dày có giá rẽ hơn. Người bệnh cũng không thể tự
mình thay thuốc chữa ung thư này bằng một loại thuốc khác chống ung thư khác
nếu không có sự chỉ định của bác sỹ. Nhu vậy trong lĩnh vực dược phẩm rất cần nhà
nước có những hành động tích cực, đưa ra nhưng giải pháp quan trọng để dược
phẩm đến tay người tiêu dùng được giá cả hợp lý và chất lượng.
91
Để duy trì trùy cân bằng giữa việc bảo hộ sáng chế và quyền tiếp cận dược
phẩm Việt Nam cần đáp ứng những điều kiện cụ thể về pháp luật, về kinh tế, về
công nghệ, về chính sách…mặt khác chúng ta phát huy những mặt tích cực của việc
bảo hộ sáng chế tại Việt Nam cần có giải pháp tổng thể từ góc độ pháp lý, kinh tế,
công nghệ đến năng lưc quản lý hành chính và khả năng chuyên môn của đối ngũ
cán bộ, bên cạnh đó cũng cần nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về vấn đề
này. Trong đó việc hoàn thiện pháp luật về bảo hộ sáng chế dược phẩm phải được
xem là yếu tố quan trọng và cần tiến hành đồng thời cùng các giải pháp, tuy nhiên
trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả sẽ tập trung vào việc đưa ra các giải
pháp và kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế dược
phẩm theo hướng sau:
Thứ nhất, Việt Nam cần tuân thủ những cam kết quốc tế về SHTT đồng thời
nghiên cứu và khai thác hiệu quả các quy định về các ngoại lệ và hạn chế quyền
SHTT được quy định trong các ĐƯQT.
Bên cạnh việc thiết lập nhưng tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu và yêu cầu của các
thành viên WTO phải tuân thủ; bằng các quy định tùy nghi, Hiệp định TRIPS đã
trao quyền tự quyết cho các nước thành viên trong việc xây dựng hoàn thiên pháp
luật phù hợp với chính sách và điều kiện thực tế của mỗi quốc gia. Các quy định tùy
nghi bao gồm các quy đinh về thời hạn chuyển tiếp đối với các thành viên là quốc
gia đang phát triển, quy đinh về các trường hợp ngoại lệ trong bảo hộ các đối tượng
SHTT, quy định về các trường hợp hạn chế quyền SHTT, về nhập khẩu song song,
về các định trưởng hợp không bảo hộ một số đối tượng SHTT…đặc biệt áp dụng
đối với bảo hộ sáng chế dược phẩm.
Thứ 2, việc bảo hộ sáng chế cho dược phẩm cần xác rõ mục tiêu có ảnh
hưởng đến hệ thống sáng chế, đến các vấn đề kinh tế xã hội của Việt Nam và đến
lợi ích quốc gia cũng như quan hệ quốc tế trong trình hoàn thiện pháp luật về bảo hộ
sáng chế dược phẩm để xây dựng các quy phạp pháp luật cho phủ hợp. Việc hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế dược phẩm đòi hỏi phải phù hợp với
thực tiễn Việt Nam, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhằm
đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam
phải đảm bảo có các quy định nhằm trách lạm dụng quyền của các quốc gia đang
92
phát triển, áp dụng các ngoại lệ của TRIPS về bảo hộ sáng chế dược phẩm để gây
ảnh hưởng xấu đến lợi ích hợp pháp của người nắm độc quyền sáng chế, ảnh hưởng
đến môi trường đầu tư cũng như quan hệ hợp tác quốc tế.
Thứ 3, nghiên cứu, tham khảo học tập có chọn lọc kinh nghiệm của các nước
về bảo hộ sáng chế dược phẩm và vận dụng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.
Pháp luật về sáng chế nói chung và pháp luật về sáng chế dược phẩm nói riêng tại
một số quốc gia trên thế giới đã hình thành trước Việt Nam hàng thập kỷ. Việc học
tập kinh nghiệm của các nước, đặc biệt các nước phát triển sẽ hữu ích cho Việt Nam
trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về SHTT nói chung và pháp luật về bảo
hộ sáng chế dược phẩm nói riêng. Tuy nhiên, “không có một mô hinh pháp luật nào
phù hợp với tất cả các mô hình khác” dó đó việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
bảo hộ sáng chế dược phẩm phải dựa trên điều kiện cụ thể của đất nước.
Trên cơ sở phương hướng đã được được xác định, việc đề xuất các giải pháp
và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ sáng chế cho dược
phẩm phải tuân thủ các nguyên tắc:
Thứ nhất các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
bảo hộ sáng chế dược phẩm quán triệt đường lối của đảng và chinh sách của nhà
nước về chủ động hội nhập quốc tế và thực hiện cam kết quốc tế, phát triển khoa
học công nghệ, công nhận và tăng cường bảo hộ SHTT. Bên cạnh đó phải xuất phát
từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về xây
dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Thứ hai, đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế dược phẩm là
cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu sáng chế và lợi ích của xã hội, lợi ích quốc gia là
nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng như
thực thi pháp luật trên thực tế. Việc tăng cường bảo hộ mạnh quyền SHTT khi Việt
Nam hội nhập sâu vào quá trình toàn cầu hóa sẽ mang đến cho Việt Nam nhiều
thách thức hơn là cơ hội. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần đảm bảo được lợi ich
quốc gia, lợi ích xã hội và lợi ích của các tổ chức cá nhân trước sức ép của quá trình
hội nhập quốc tế trong bảo hộ sáng chế dược phẩm đồng thời cần tôn trọng và thực
hiện các cam kết quốc tế.
Thứ ba, việc hoàn thiện pháp luật về bảo hộ sáng chế cho dược phẩm cần
93
đảm bảo tính “đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch”. Tính đồng bộ
thể hiện sự thống nhất, không mâu thuẩn, không trùng lặp, chồng chéo trong mỗi
ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật vơi nhau. Cần
phải đảm bảo tính thống nhất trong các quy định pháp luật về bảo hộ sáng chế dược
phẩm không chỉ trong luật SHTT, giữa BLDS, Luật Dược, Luật Khám chữa bệnh,
Luật Hành chính, Pháp luật về cạnh tranh…mà còn trong chính sách của nhà nước
và bộ ban nghành liên quan như Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ.
3.3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ
sáng chế dƣợc phẩm:
3.3.2.1. Sửa đổi Điều 136 và Điều 142 Luật SHTT
Điều 136 Luật SHTT quy định: “Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất
sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu
quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các
nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Khi có các nhu cầu quy định tại khoản này mà
chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần
được phép của chủ sở hữu sáng chế theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của
Luật này”.
Điều 145 Luật SHTT quy định: ”Bên được chuyển quyền sử dụng sáng chế
theo hợp đồng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế như chủ sở hữu sáng chế
theo quy định tại khoản 1 Điều 136 của Luật này”.
Tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 136 và Điều 142 Luật SHTT ở hai nội dung:
Sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT theo hướng quy định chủ sở hữu sáng chế có
nghĩa vụ sử dụng sáng chế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt
Nam; đưa quy định tại điều 142 (5) Luật SHTT vào quy định tại Điều 136 Luật
SHTT.
a. Kiến nghị sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT gắn với nghĩa vụ sử dụng sáng
chế của sở hữu sáng chế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Thứ nhất quy định tại điều 136 (1) Luật SHTT gắn nghĩa vụ sử dụng sáng
chế của chủ sở hữu sáng chế với mục đích “đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh,
phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác
94
của xã hội” đã bộc lộ một số bất cập sau:
Một là, hạn chế khả năng sử dụng BBCGQSDSC trong trường hợp người
nắm độc quyền vi phạm nghĩa vụ sử dụng sáng chế. Điều này đặc biệt quan trọng
trong sáng chế dược phẩm, đây là loại hàng hóa đặc biệt, có ý nghĩa quan trọng đối
với mỗi quốc gia. Nghĩa vụ sử dụng của chủ sở hữu sáng chế không chỉ giới hạn ở
nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội bao gồm nhu cầu an ninh, quốc
phòng, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân như quy định tại Điều
136(1) Luật SHTT. Nếu chỉ có thể BBCGQSDSC trong trường hợp chủ sở hữu vi
phạm nghĩa sử dụng sáng chế mà ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu an ninh,
quốc phòng, mục đích công cộng mới là không hợp lý, hạn chế khả năng
BBCGQSDSC trong trường hợp người nắm độc quyền sử dụng vi phạm nghĩa vụ
sử dụng sáng chế, ảnh hưởng đến nhu cầu của xã hội, đến sự phát triển bình thường
của nền kinh tế hay trong trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ môi trường.
Hai là, có sự chồng chéo, mâu thuẩn trong quy định của Điều 136 (1) với
Điều 133, Điều 145 (1(a)) Luật SHTT. Điều 133 Luật quy định các trường hợp sử
dụng sáng chế nhân danh nhà nước nhằm phục vụ cho mục đích công cộng, phi
thương mại, an ninh, phục vụ quốc phòng, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho
nhân dân và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Theo Điều 133, khi xảy
ra trường hợp trên, Bộ, cơ quan ngang bộ có thể sử dụng hoặc phải sử dụng sáng
chế theo quy định bắt buộc chuyển giao quyền theo quy định tại Điều 145, 146 Luật
SHTT. Điều 145 (1(a)) quy định về BBCGQSDSC trong trường hợp sử dụng sáng
chế nhằm đáp ứng mục đích công cộng, phi thương mại, với sự liệt kê các trường
hợp giống như quy định tại Điều 133. Tuy nhiên không chỉ có các Bộ, cơ quan
ngang bộ mới có quyền yều cầu BBCGQSDSC theo các lý do được quy định tại
Điều 145 (1(a)) mà quyền yêu cầu còn thuộc về tổ chức, cá nhân bất kỳ.
- Đối với Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam cũng khẳng
định chủ sở hữu sáng chế hoặc bên nhận trong hợp đồng chuyển giao quyền sử
dụng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế phù hợp với yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam. Vì vậy, yêu cầu sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT như tác
giả kiến nghị hoàn toàn phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
- Trong quá trình nghiên cứu pháp luật các nước, việc sử dụng sáng chế vì lý
95
do “lợi ích công cộng” được quy định như những lý do độc lập, không phụ thuộc
vào việc người nắm độc quyền sáng chế có vi phạm nghĩa vụ sáng chế hay không.
Do đó, yêu cầu sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT như tác giả kiến nghị là phù hợp
với quy định của các nước.
Ví dụ, Trong lĩnh vực dược phẩm, nếu người nắm độc quyền sử dụng sáng
chế không cung cấp đủ số lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu hợp lý của xã hội
hoặc cung cấp với mức giá cao một cách bất hợp lý, sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của
bệnh nhân. Việc sử dụng sáng chế không phù hợp cũng có thể ảnh hưởng nghiêm
trọng tới sự phát triển bình thường của các lĩnh vực kinh tế quan trọng, đặc biệt
trong lĩnh vực công nghệ dược phẩm.
b. Kiến nghị sửa đổi Điều 136 (1) Luật SHTT theo hướng đưa quy đinh tại
Điều 142 (5) Luật SHTT vào quy định tại Điều 136 Luật SHTT. Kiến nghị này được
đưa ra là dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, nghĩa vụ sử dụng sáng chế được quy
định ở hai điều luật khác nhau trong một đạo luật: Điều 136 (quy định nghĩa vụ sử
dụng sáng chế của chủ sở hữu sáng chế); Điều 142 (quy định nghĩa vụ sử dụng sáng
chế của người nắm độc quyền sáng chế). Điều này chưa thực sự hợp lý vì nghĩa vụ
sử dụng sáng chế của chủ sở hữu sáng chế và bên nhận chyển giao trong hợp độc
độc quyền là như nhau; nghĩa vụ sử dụng sáng chế của bên nhận chuyển giao trong
hợp đồng chuyển giao độc quyền không phải là trường hợp hạn chế chuyển giao
quyền sử dụng đối tượng SHCN, do đó, không nên quy định trong Điều 142, đặc
biệt được quy định trên mối quan hệ tổng thể với các quy định khác trong Điều 142
Luật SHTT. Và như vậy tác giả kiến nghị sửa đổi Điều 136 như sau:
1. Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm đƣợc bảo hộ hoặc
áp dụng quy trình đƣợc bảo hộ phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
của đất nƣớc. Trong trƣờng hợp chủ sở hữu sáng chế không sử dụng hoặc sử
dụng sáng chế không phủ hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất
nƣớc thì cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền có thể chuyên giao quyền sử dụng
sáng chế cho ngƣời khác mà không cần đƣợc phép mà không cần đƣợc pháp
của chủ sở hữu sáng chế theo quy định tại Điều 145, 146,147 của Luật này.
2. Bên đƣợc chuyển quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền có
96
nghĩa vụ sử dụng sáng chế nhƣ chủ sở hữu sáng chế theo quy định tại khoản 1
Điều này.
3.3.2.2. Kiến nghị cần có quy định thống nhất trong Luật SHTT năm
2005 (sửa đổi năm 2009), Luật khám chữa bệnh năm 2009 và Luật dƣợc năm
2005.
Hiến pháp của Việt Nam thừa nhận các QCN nói chung và quyền SHTT,
quyền về sức khỏe nói riêng. Như vậy, quyền SHTT và quyền về sức khỏe đều được
công nhận là các QCN ở Việt Nam. Quyền SHTT đã được quy định cụ thể trong
Luật SHTT năm 2005, sửa đổi năm 2009. Mặc dù công nhận và bảo hộ quyền
SHTT, Luật SHTT khẳng định việc thực thi quyền SHTT không được trái với lợi
ích chung; trong trường hợp nhằm bảo đảm lợi ích chung như đáp ứng các mục tiêu
an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước và xã hội, chủ sở hữu quyền
SHTT có thể bị cấm hoặc hạn chế thực hiện quyền của mình hoặc phải cho phép
chủ thể khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù
hợp. Trong khi đó, quyền về sức khỏe được cụ thể hóa trong Luật Khám, chữa bệnh
năm 2009 và Luật Dược năm 2005. Tuy nhiên, rất tiếc là quyền tiếp cận dược phẩm
chưa được thừa nhận trực tiếp trong hai luật này. Điều này có thể khiến cho cơ quan
nhà nước có thẩm quyền gặp phải một số khó khăn khi thực hiện cân bằng hợp lý
quyền SHTT và việc tiếp cận dược phẩm trong các trường hợp cụ thể trên thực tế,
nhất là khi các văn bản pháp luật hướng dẫn việc cân bằng này còn chưa đầy đủ và
chi tiết. Vì vậy, việc ghi nhận quyền tiếp cận dược phẩm hay ít nhất là chính sách
của Nhà nước về vấn đề này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam khi
sửa đổi Luật Dược là cần thiết.
Dưới góc độ Luật SHTT và quyền tiếp cận dược phẩm, Việt Nam đã có các
quy định về việc áp dụng các quy định linh hoạt của Hiệp định TRIPS mặc dù còn
một số hạn chế.
Thứ nhất, khoản 2 Điều 125 Luật SHTT liệt kê các trường hợp chủ sở hữu
sáng chế không được phép ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế, trong đó cho
phép sử dụng sáng chế “nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương
mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm,
97
sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập
khẩu, lưu hành sản phẩm”. Tuy nhiên, việc liệt kê như vậy chưa làm rõ ba yêu cầu
về giới hạn quyền đối với sáng chế theo Điều 30 Hiệp định TRIPS.
Thứ hai, Điều 145-147 Luật SHTT quy định về bắt buộc chuyển giao quyền
sử dụng sáng chế. Một trong những cơ sở để bắt buộc chuyển giao có thể áp dụng
trong lĩnh vực dược phẩm là nhằm “mục đích công cộng, phi thương mại,… phòng
bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân”. Nhưng hiện nay, Việt Nam chưa tham
gia hệ thống thực thi đoạn 6 Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng
đồng với tư cách là nước xuất khẩu và/hoặc nước nhập khẩu, cũng như chưa phê
chuẩn Điều 31bis Hiệp định TRIPS. Sự chậm trễ này sẽ cản trở Việt Nam tận dụng
các cơ hội mà hệ thống này tạo ra nhằm khuyến khích việc tiếp cận dược phẩm ít
nhất dưới góc độ pháp lý trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Thứ ba, về vấn đề hết quyền SHTT, điểm b khoản 2 Điều 125 Luật SHTT
quy định việc lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm (được bảo
hộ sở hữu công nghiệp) được đưa ra thị trường một cách hợp pháp, kể cả thị trường
nước ngoài, bởi “chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu
nhãn hiệu” là không vi phạm pháp luật. Về quy định này, có thể còn có tranh cãi về
các trường hợp hết quyền, do nó quá nhấn mạnh vào yếu tố “nhãn hiệu”. Nhưng
xem xét quy định này trong mối tương quan với quy định tương tự về hết quyền đối
với giống cây trồng được thừa nhận tại khoản 2 Điều 190 Luật SHTT, có thể cho
phép giải thích rằng chế độ hết quyền đối với sáng chế mà Việt Nam đang áp dụng
là chế độ hết quyền quốc tế. Hiện nay, việc nhập khẩu song song dược phẩm đang
được cho phép theo Quyết định số 1906/2004/QĐ-BYT ngày 28/5/2004 của Bộ Y
tế. Việc quy định hết quyền quốc tế như vậy sẽ tăng khả năng tiếp cận dược phẩm
của người bệnh ở Việt Nam.
Dù chưa hoàn chỉnh, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành trong một
chừng mực nhất định đã góp phần đảm bảo việc cân bằng hợp lý giữa quyền SHTT
và quyền tiếp cận dược phẩm nhằm bảo vệ các QCN. Tuy nhiên vấn đề quan trọng
ở đây là thực thi việc cân bằng hợp lý đó trong thực tế và vận dụng của doanh
nghiệp Việt Nam về vấn đề này. Đây là một vấn đề còn khó khăn. Ví dụ điển hình
là tranh chấp xảy ra vào tháng 12/2010 giữa Công ty Nanogen (Việt Nam) và Công
98
ty F.Hoffmann-La Roche (Thụy Sỹ) về việc có hay không việc Nanogen vi phạm
sáng chế được bảo hộ ở Việt Nam của F.Hoffmann-La Roche khi Nanogen sản xuất
thuốc đặc trị viêm gan siêu vi C và B (dạng chích) có tên là Pegnano ở Việt Nam.
Các bên ủng hộ Nanogen, ngoài việc chứng minh Nanogen không vi phạm sáng
chế, đã đưa ra các lập luận ủng hộ Nanogen như thuốc Pegnano và thuốc do
F.Hoffmann-La Roche có chất lượng điều trị như nhau nhưng giá của Pegnano chỉ
bằng 25%, thuốc Pegnano do công ty Việt Nam sản xuất, chống được độc quyền…
Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, vấn đề quan trọng là phải xem xét việc sản xuất và
lưu hành thuốc Pegnano của Nanogen có vi phạm sáng chế của F.Hoffmann-La
Roche hay không. Nếu không vi phạm thì Nanogen có quyền tiếp tục sản xuất và
lưu hành, thậm chí Nanogen có thể nộp đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế đối
với hoạt chất sản xuất thuốc Pegnano. Ngược lại, nếu vi phạm, Nanogen cần nhanh
chóng nộp đơn yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định bắt buộc chuyển
giao quyền sử dụng sáng chế của F.Hoffmann-La Roche cho Nanogen theo Điều
145-147 Luật SHTT [1].
3.3.2.3 Kiến nghị về việc Việt Nam phê chuẩn Nghị định thƣ sửa đổi
Hiệp định TRIPS:
Nghị định thư sửa đổi TRIPs (sau đâu gọi tắt là Nghị định thư) được Đại Hội
đồng WTO ban hành vào ngày 06/12/2005. Nghị định thư đang được mở cho các
nước thành viên phê chuẩn đến ngày 31/12/2015. Tính đến ngày 01/8/2014 đã có 52
quốc gia thông báo chính thức phê chuẩn Nghị định thư này. Để có cơ sở kiến nghị
cho sự cần thiết phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi HIệp định TRIPS, cần đánh giá
đúng những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam dước góc độ thành viên nhập
khẩu và thành viên xuất khẩu.
Với tư cách là quốc gia nhập khẩu, việc phê chuẩn Nghị định thư sẽ mang lại
cho Việt Nam những cơ hội và thách thức sau:
Thứ nhất, BBCG QSDSC theo Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS chỉ
áp dụng cho lĩnh vực dược phẩm chứ không áp dụng cho tất cả các lĩnh vực công
nghệ được bảo hộ sáng chế. Nếu Việt Nam tham gia với tư cách là thành viên nhập
khẩu thì Việt Nam có thể áp dụng các quy định tại Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp
định TRIPS cho BBCG QSDSC nhằm nhập khẩu các dược phẩm để giải quyết các
99
vấn đề sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển
và là nước chịu rất nhiều các dịch bệnh như cúm gia cầm, cúm heo, HIV/AIDS, lao,
sốt rét cũng như các bệnh tiểu đường, ung thư… Việt Nam cũng là một trong mười
quốc gia trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của việc biến đổi khí hậu. Trên
thực tế, nhu cầu chữa bệnh của người dân là rất lớn, nhưng chi phí cho chữa bệnh
của người dân còn thấp. Trong năm 2009, tiền thuốc chi phí trung bình là 19,77
USD/đầu người (năm 2008 con số này là 16.45 USD/đầu người). Trong đó, chi phí
chủ yếu từ người dân chứ không phải từ Chính phủ. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế
thế giới, trong năm 2007, chi phí cho chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam, bao gồm cả
dược phẩm từ Chính phủ chỉ chiếm 39,3%, từ khu vực tư nhân là 60,7%. Thu nhập
bình quân tính trên đầu người tại Việt Nam còn thấp, nhưng giá dược phẩm còn cao
so với thế giới trong khi dược phẩm là một loại hàng hóa đặc biệt, có ý nghĩa quan
trong đến cuộc sống của con người. Điều này đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực từ
phía Chính phủ Việt Nam nhằm giúp người dân có thể tăng khả năng tiếp cận dược
phẩm, khả năng chữa bệnh, phòng bệnh. Hiện nay, tại Việt Nam, một số lượng lớn
thuốc chữa các bệnh lây nhiễm như HIV/AIDS, lao, sốt rét, cúm gia cầm, cúm
heo… là dựa vào nguồn cung cấp miễn phí của WHO và từ một số tổ chức nhân
đạo. Tuy nhiên, chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn thuốc viện trợ này. Hơn nữa,
số thuốc viện trợ thường không đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân khi có dịch bệnh.
Đối với những loại thuốc mà doanh nghiệp Việt Nam có thể sản xuất được, có thể
BBCG QSDSC theo quy định của Điều 31 Hiệp định TRIPS và Điều 5 Công ước
Paris nhằm tăng cường khả năng cung cấp thuốc cho nhu cầu của nhân dân. Tuy
nhiên, với những loại thuốc mà doanh nghiệp trong nước chưa thể sản xuất được,
cần nhập khẩu thì việc phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS sẽ là cơ
sở pháp lý cần thiết cho việc cấp quyết định BBCG QSDSC nhằm nhập khẩu các
dược phẩm đã được bảo hộ sáng chế vào Việt Nam với giá thấp hơn giá thị trường,
phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Thứ hai, muốn trở thành thành viên nhập khẩu, Việt Nam cần thực hiện một
số thủ tục hành chính như thủ tục thông báo đến Hội đồng TRIPS theo quy định tại
Đoạn 1(b) Phụ lục của Hiệp định TRIPS. Vì Việt Nam không phải là quốc gia kém
phát triển, do đó, cùng với việc thông báo, Việt Nam phải chứng minh là không có
100
năng lực sản xuất hoặc không có đủ năng lực sản xuất dược phẩm theo một trong
những cách thức được quy định trong Phụ lục của Hiệp định TRIPS. Khi đưa ra yêu
cầu trên, Phụ lục Hiệp định TRIPS đã không xác định và không đưa ra tiêu chí xác
định thế nào là “không đủ năng lực sản xuất”. Theo Ủy ban thương mại Thụy Điển,
năng lực sản xuất có thể hiểu là năng lực về kỹ thuật (thông qua kỹ thuật, bí quyết
kỹ thuật, trang thiết bị) hoặc tính khả thi về kinh tế của việc sản xuất (thông qua quy
mô sản xuất) hoặc cả hai. Việc giải thích sẽ ảnh hưởng đến chủ thể có thể sử dụng
hệ thống được quy định trong các Phụ lục kèm theo Nghị định thư sửa đổi Hiệp
định TRIPS. Tại Việt Nam, ngành công nghiệp dược phẩm đã có thể sản xuất được
sản phẩm cuối cùng, dù còn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Ngành công nghiệp dược phẩm cũng đã đáp ứng được khoảng trên 50% nhu cầu
trong nước. Như vậy, Việt Nam không phải là nước không có khả năng sản xuất
dược phẩm, mà chúng ta chỉ có thể chứng minh là nước “không có đủ năng lực sản
xuất dược phẩm”. Ngay cả trong trường hợp chúng ta chứng minh được thì khi
ngành công nghiệp dược phẩm của Việt Nam được xác định là có đủ khả năng sản
xuất dược phẩm thì tư cách thành viên nhập khẩu cũng tự động mất đi.
Thứ ba, ngay cả khi đã được thừa nhận là thành viên có đủ tư cách nhập
khẩu, trên thực tế, Việt Nam có thể nhập khẩu dược phẩm theo quyết định BBCG
QSDSC hay không cũng là vấn đề cần xem xét. Vì đối với BBCG QSDSC, theo
quy định của Hiệp định TRIPS hiện hành, các doanh nghiệp trong nước hoặc bản
thân Chính phủ sẽ là nhà sản xuất nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội trong
nội bộ của quốc gia. Trong trường hợp này, vấn đề lợi nhuận của doanh nghiệp
không được đặt ra vì lợi ích của cộng đồng được xem là lớn hơn “lợi ích tư” của
người nắm độc quyền sáng chế hoặc của nhà sản xuất. Tuy nhiên, vấn đề hoàn toàn
khác với việc BBCG QSDSC theo Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS vì nhà
sản xuất trong trường hợp này là doanh nghiệp của quốc gia nước ngoài. Họ không
có nghĩa vụ phải đáp ứng nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội của Chính phủ một
nước khác. Do đó, họ chỉ tham gia sản xuất nếu có lợi nhuận. Mặc dù mục đích mà
Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS đưa ra là nhằm mục đích nhân đạo, nhằm
giúp các quốc gia có thu nhập thấp hoặc thu nhập trung bình giải quyết các vấn đề
sức khỏe cộng đồng của mình. Tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ không tham gia sản xuất
101
nếu không thu được lợi nhuận, vì mục tiêu của doanh nghiệp là thu lợi nhuận chứ
không phải là hoạt động nhân đạo. Do đó, mức giá đối với dược phẩm được sản
xuất theo quyết định BBCGQSDSC phải là mức giá thấp hơn thị trường nhưng phải
đảm bảo được mức lợi nhuận tối thiểu cho nhà sản xuất. Đây không phải là vấn đề
đơn giản. Đặc biệt, đối với các loại bệnh nhiệt đới hoặc các loại bệnh chỉ có ở các
quốc gia nghèo hoặc các quốc gia có thu nhập trung bình, thường không thu hút
được sự quan tâm của các nhà sản xuất dược phẩm tại các nước phát triển. Trong
trường hợp này, có thể Việt Nam sẽ khó để tìm được nhà sản xuất sẵn sàng sản xuất
dược phẩm theo quyết định BBCG QSDSC để xuất khẩu sang thị trường Việt Nam.
Đặt giả thiết Việt Nam là nước xuất khẩu, việc phê chuẩn Nghị định thư là
cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc cấp quyết định BBCG QSDSC nhằm sản
xuất dược phẩm xuất khẩu sang thị trường các thành viên WTO không có hoặc
không có đủ năng lực sản xuất dược phẩm nhằm giúp các quốc gia này giải quyết
các vấn đề sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, để có thể sử dụng các quy định của Điều
31bis và Phụ lục của Hiệp định TRIPS với tư cách là thành viên xuất khẩu, ngành
công nghiệp dược phẩm của Việt Nam cần đạt được trình độ phát triển đến mức có
thể sản xuất được dược phẩm thiết yếu đủ tiêu chuẩn cho việc xuất khẩu sang thị
trường nước ngoài. Trên thực tế, tổng trị giá thuốc sản xuất trong nước hiện nay
tăng trưởng đều hàng năm. Số lượng các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất dược
phẩm tại Việt Nam cũng tăng đáng kể trong thời gian qua. Nếu trong năm 2001, cả
nước có 121 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm (trong đó có 30 doanh nghiệp nhà
nước; 13 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 78 doanh nghiệp tư nhân) thì
trong năm 2005 đã có 205 doanh nghiệp (trong đó có 19 doanh nghiệp nhà nước; 22
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 164 doanh nghiệp tư nhân). Trong năm
2009, theo báo cáo của Bộ Y tế, có 178 doanh nghiệp trực tiếp tham gia sản xuất
thuốc, trong đó 98 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược và 80 doanh nghiệp chỉ
sản xuất thuốc từ dược liệu. Trong năm 2009, có 98 doanh nghiệp đạt GMP (năm
2008 con số này là 77), đáp ứng khoảng 49,01% nhu cầu sử dụng thuốc trong nước.
Trị giá thuốc sản xuất trong nước trong năm 2009 là 831,205 triệu USD (tăng
16,18% so với năm 2008), đáp ứng 49,01% nhu cầu trong nước (năm 2008 con số
102
này là 52,86). Từ năm 2003 đến tháng 8/2008, tốc độ tăng trưởng của thị phần dược
phẩm tại Việt Nam là 24%. Dự báo tốc độ tăng trưởng của thị trường dược phẩm
Việt Nam là 17-19%.
Thuốc sản xuất trong nước không chỉ cung cấp cho thị trường Việt Nam mà
còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.Trong năm 2008, tổng trị giá tiền thuốc xuất
khẩu đạt 33,32 triệu USD. Trong năm 2009, tổng giá trị xuất khẩu thuốc đạt 39,96
triệu USD (tăng 19,93% so với năm 2008) Tuy nhiên, so với trị giá nhập khẩu thuốc
năm 2009 là 1.170,828 nghìn USD thì trị giá thuốc xuất khẩu còn quá ít.
Phân tích thực trạng sản xuất dược phẩm tại Việt Nam cho thấy, mặc dù tổng
trị giá thuốc xuất khẩu còn rất khiêm tốn, nhưng Việt Nam hoàn toàn có khả năng
sản xuất dược phẩm để xuất khẩu. Do đó, việc phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi
Hiệp định TRIPS là cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Việt Nam trong việc
BBCG QDSC nhằm mục đích xuất khẩu dược phẩm. Đây cũng là cơ hội cho Việt
Nam tiếp thu các công nghệ của nước ngoài, phát triển ngành công nghiệp dược
phẩm trong nước. Tuy nhiên, để có thể sử dụng hiệu quả các quy định của Điều
31bis và Phụ lục Hiệp định TRIPS với tư cách là thành viên xuất khẩu, ngành công
nghiệp dược phẩm Việt Nam cần phát triển hơn nữa, đặc biệt tăng cường đầu tư và
phát triển sản xuất các dược phẩm thiết yếu như nhóm thuốc kháng sinh, thuốc chữa
ung thư… Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao trình độ công nghệ
và phải có năng lực tài chính để có thể sử dụng hiệu quả BBCG QSDSC. Vì một
trong những điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng hiệu quả BBCG QSDSC chính là
khả năng công nghệ để có thể sản xuất được sản phẩm theo quyết định bắt buộc
chuyển giao.
Cũng cần nhấn mạnh, trong thời điểm hiện nay, khi mà Việt Nam chưa phê
chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS thì Việt Nam cũng như các thành
viên khác của WTO vẫn có thể sử dụng tư cách thành viên nhập khẩu hoặc thành
viên xuất khẩu theo Quyết định ngày 30/8/2003. Tuy nhiên, Quyết định ngày
30/8/2003 chỉ có hiệu lực đến khi Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS có hiệu
lực. Điều đó đòi hỏi về lâu dài, Việt Nam cần phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp
định TRIPS.
Các phân tích trên cho thấy, có thể trước mắt, việc phê chuẩn Nghị định thư
103
sửa đổi Hiệp định TRIPS chưa mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam kể cả với tư
cách là thành viên nhập khẩu hay xuất khẩu. Hơn nữa, việc sửa đổi Hiệp định
TRIPS thực sự mang lại lợi ích cho các quốc gia có nền công nghiệp dược phẩm
phát triển, thường là các quốc gia phát triển hơn là các nước đang phát triển và kém
phát triển. Tuy nhiên, việc phê chuẩn Nghị định thư này sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam
trong tương lai. Chính vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần phê chuẩn Nghị định thư
sửa đổi Hiệp định TRIPS.
Cùng với việc phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS, Việt Nam
cần sửa đổi pháp luật trong nước theo hướng cho phép BBCG QSDSC nhằm mục
đích xuất khẩu dược phẩm và ban hành văn bản pháp luật “nội luật hóa” các quy
định của Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp định TRIPS. Vì pháp luật Việt Nam hiện
hành cho phép BBCG QSDSC nhằm cung cấp “chủ yếu cho thị trường trong nước”.
Mặc dù thuật ngữ “chủ yếu” được sử dụng ở đây (theo đúng thuật ngữ được dùng
trong Điều 31 Khoản f Hiệp định TRIPS) nhưng điều này không tạo cơ sở pháp lý
vững chắc cho việc xuất khẩu sản phẩm được sản xuất theo quyết định BBCG
QSDSC. Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS không yêu cầu các thành viên phải
sửa đổi pháp luật trong nước nhưng hầu hết các quốc gia quy định BBCG QSDSC
“chủ yếu cung cấp cho thị trường trong nước” nên một số thành viên, sau khi phê
chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS, đã tiến hành sửa đổi pháp luật trong
nước cho phù hợp. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần ban hành văn bản pháp luật
quy định chi tiết các quy định của Điều 31bis và Phụ lục Hiệp định TRIPS. Vì một
số quy định tại Điều 31bis và Phụ lục mang tính tùy nghi, dành quyền quyết định
cho quốc gia thành viên, một số quy định còn là quy định khung chưa thể áp dụng
trực tiếp tại quốc gia thành viên.
Thực tiễn pháp lý tại các nước cho thấy, một số quốc gia đã quy định chi tiết
về BBCG QSDSC theo Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS theo hướng sửa đổi
Luật Sáng chế của mình như Thụy Sỹ, Canada, Pháp, Hàn Quốc, Ấn Độ, NaUy,…
hoặc ban hành một văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này như EU… Một số quốc
gia khác như Trung Quốc vừa sửa đổi Luật Sáng chế của mình theo hướng cho phép
BBCG QSDSC nhằm mục đích xuất khẩu dược phẩm vừa ban hành một văn bản
pháp luật cụ thể hóa các quy định của Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp định TRIPS.
104
[15], [16], [34].
3.3.2.4. Các giải pháp khác nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo
hộ sáng chế dƣợc phẩm:
1. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng
sáng chế nhằm mục đích xuất khẩu dược phẩm:
Pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép BBCGQSDSC nhằm cung cấp chủ
yếu cho thị trường trong nước”. Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS không yêu
cầu các thành viên phải sửa đổi pháp luật trong nước nhưng hầu hết các quốc gia
quy định BBCGQSDSC “chủ yếu cung cấp cho thị trường trong nước” cho nên một
số thành viên khi phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hệp định TRIPS sẽ tiến hành sửa
đổi pháp luật trong nước nhằm cho phép xuất khẩu dược phẩm theo quy đinh của
Nghị định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS. Do đó, cùng với việc phê chuẩn Nghị định
thư sủa đổi Hiệp định TRIPS, Việt Nam cần ban hành văn bản phẩm luật quy định
chi tiết về việc thi hành vấn đề này. Trong văn bản này một mặt quy định cho phép
xuất khẩu dược phẩm được sản xuất theo quyết định BBCGQSDSC đến thị trường
các quốc gia thành viên WTO không có hoặc không có đủ năng lực sản xuất dược
phẩm nhằm giúp các nước này giải quyết các vấn đề sức khỏe cộng đồng. Mặt khác
cấn hướng dẫn cụ thể việc thực hiện quy định tại Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp
định TRIPS. Vì một số quy định tại Điều 31bis và Phụ lục mang tính tùy nghi, dành
quyền quyết định cho quốc gia thành viên, một số quy định còn là quy định khung
chưa thể áp dụng trực tiếp tại quốc gia thành viên.
Thực tiễn pháp lý tại các nước cho thấy, một số quốc gia đã quy định chi tiết
về BBCGQSDSC theo Nghị đinh thư sửa đổi Hiệp định TRIPS theo hướng sửa đổi
Luật sáng chế của mình như Thụy Sỹ, Canada, Pháp, Hàn Quốc, Ấn độ…hoặc ban
hành văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này như EU. Một số quốc gia khác như
Trung Quốc vừa sửa đổi Luật sáng chế của mình theo hướng cho phép
BBCGQSDSC nhằm mục đích xuất khẩu dược phẩm vừa ban hành một văn bản
pháp luật cụ thể hóa các quy định của Điều 31bis và Phụ lục của Hiệp định TRIPS.
2. Nâng cao năng lực chuyên môn và ý thưc trách nhiệm của cơ quan có
thẩm quyền trong lĩnh vực sáng chế dược phẩm: Trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế
dược phẩm đòi hỏi đội ngũ cán bộ áp dạng pháp luật cần có kiên thức sâu rộng
105
không chỉ về SHTT mà còn kiến thưc về pháp luật dược, pháp luật cạnh tranh, pháp
luật hợp đồng, thậm chỉ cả kiến thức về kinh tế, tài chính. Vì vậy, các cơ quan xây
dựng và thực thi pháp luật trong lĩnh vực này cần được trang bị không chỉ chuyên
môn, kinh nghiệm pháp luật mà còn là chuyên môn, kinh nghiệm kinh tế, chính trị
và xã hội.
3. Phát triển các ngành công nghiệp trong nước, nâng cao năng lực công
nghệ của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là công nghiệp dược phẩm. Trong
ngành công nghiệp dược phẩm tạo Việt Nam phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa,
trình độ công nghệ thấp, tiềm lực kinh tế chưa cao, sự đầu tư và R&D sản phẩm
mới còn hạn chế. Chính vì vậy rất cần Chính phủ VIệt Nam có chương trình hỗ trợ
cho doanh nghiệp, ví dụ như chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ, nhưng
quan trong nhất vẫn là nỗ lực của mỗi doanh nghiệp, để nâng cao năng lực công
nghệ. Bên cạnh đó cũng rất cần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về pháp luật
SHTT, Pháp luật cạnh tranh, Pháp luật về dược phẩm…
4. Thiết lập mạng lưới hợp tác quốc tế và thông tin về các sản phẩm dược
phẩm giá ré: Dược phẩm là một loại hàng hóa đặc biệt, có ý nghĩa quan trong đối
với con người do đó cần có những giải pháp tổng thể nhằm tăng cường khả năng
tiếp cấp với thuốc chữa bệnh cho người dân, đặc biệt với nhóm dược phẩm thiết
yếu. Chính vì vậy vai trò quan trọng của hợp tác quốc tế trong thiết lập mạng lưới
thông tin dược phẩm giá rẻ là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa
hiện nay nhằm tạo cơ hội cho người dân tại các quốc gia nghèo có khả năng tiếp cận
dược phẩm với giá rẻ.
3.3.2.5 Kiến nghị về sáng chế cho dƣợc phẩm và khuyến nghị đối với
Việt Nam trong đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP)
Đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 11 nước
trong khu vực APEC nhằm thiết lập một khu vực thương mại tự do hai bờ Thái
Bình Dương bắt đầu cuối năm 2009, đến nay đã qua 18 vòng đàm phán chính thức
và nhiều phiên đàm phán giữa kỳ. Việt Nam là thành viên chính thức từ tháng 11
năm 2010. Theo dự kiến đầy tham vọng của các nước thành viên TPP về việc sớm
kết thúc đàm phán, các cuộc thảo, trao đổi và thương lượng đang được thực hiện rất
106
khẩn trương trong tất cả các lĩnh vực.
Bảo hộ quyền SHTT là một trong những lĩnh vực đàm phán quan trọng trong
khuôn khổ các đàm phán FTA thế hệ mới thời gian gần đây và là lĩnh vực được đặc
biệt nhấn mạnh bởi các đối tác phát triển trong đàm phán TPP. Bản dự thảo chương
IP của Hoa Kỳ trong đàm phán TPP được tiết lộ lần gần đây nhất vào tháng 5 năm
2012 cho thấy nước này nhấn mạnh yêu cầu áp dụng TRIPS+, tức là yêu cầu điều
chỉnh các biện pháp SHTT theo hướng tăng quyền của chủ sở hữu, giảm các điều
kiện đối với đăng ký bảo hộ và áp dụng các biện pháp nhằm tăng cường khả năng
thi hành các quyền SHTT so với mức hiện tại của WTO. Nhiều vấn đề đàm phán
trong Chương Sở hữu trí tuệ này, trong đó có sáng chế cho dược phẩm được dự
đoán là sẽ có tác động trực tiếp, tức thì và nghiêm trọng tới các lợi ích của Việt
Nam, đặc biệt là khu vực y tế.
Sáng chế là một trong những chủ đề gây tranh cãi trong các đàm phán FTA
của Hoa Kỳ nói chung và đàm phán TPP nói riêng. Điều này xuất phát từ các lợi ích
trái ngược nhau giữa Hoa Kỳ và các nước đang phát triển như Việt Nam trong vấn
đề này. Điều 8 Dự thảo Chương Sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ trong TPP đề xuất mở
rộng đối tượng độc quyền sáng chế cho các loại sau đây:
- Các hình thức mới hay cách sử dụng mới của các loại thuốc cũ và các
phương pháp điều trị (và quy trình phẫu thuật mới);
- Các phương pháp chẩn đoán và chữa trị cho người và động vật.
Mọi đề xuất mở rộng đối tượng có thể bảo hộ thông qua bằng sáng chế đều
sẽ làm giảm khả năng tiếp cận và sử dụng của công chúng đối với những đối tượng
được bảo hộ mới đó. Nhưng đối với đề xuất cụ thể này của Hoa Kỳ, vấn đề trở nên
nghiêm trọng hơn, ít nhất đối với Việt Nam bởi các đối tượng được đề xuất mở rộng
gắn với việc sử dụng, sức khỏe và thu nhập của những nhóm dân cư đặc biệt nhạy
cảm. Cụ thể là:
Từ phân tích nêu trên, có thể thấy đề xuất này của Hoa Kỳ rất bất lợi cho
Việt Nam, đặc biệt cho những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và cần được bảo
vệ đặc biệt. Do đó Việt Nam có lý do và cơ sở để kiên quyết phản đối đề xuất này
của Hoa Kỳ.
Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng có các đề xuất khiến việc đăng ký độc quyền sáng
107
chế đơn giản và nhanh chóng hơn. Điều 8.6 và 8.7 Dự thảo Chương Sở hữu trí
tuệ của Hoa Kỳ trong TPP yêu cầu các nước thành viên TPP không cho phép các
hình thức phản đối việc cấp chứng nhận độc quyền trước khi chứng nhận này được
cấp; và phải gia hạn bằng sáng chế để tính cả thời gian xem xét cấp bằng. Đề xuất
này của Hoa Kỳ khiến cho quá trình cấp bằng đơn giản và dễ dàng hơn nó vốn
phải thế (theo TRIPS) và vì vậy có thể gây ra thiệt hại đáng kể cho những người có
lợi ích đối lập với người xin cấp bằng sáng chế. Đề xuất này tước đi một quyền
quan trọng của các chủ thể có lợi ích đối lập với chủ thể muốn được cấp bằng
độc quyền sáng chế theo quy định hiện tại của Việt Nam. Theo Điều 112 Luật Sở
hữu trí tuệ 2005, bất kỳ ai, nếu có bằng chứng cụ thể, cũng có thể phản đối việc
cấp đăng ký chứng nhận độc quyền đối với một sản phẩm nhất định tại Việt Nam
và việc phản đối này có thể được thực hiện bằng cách gửi phản đối tới Cơ quan
có thẩm quyền cấp bằng sáng chế. Và khi có một phản đối như vậy, cơ quan có
thẩm quyền sẽ phải xem xét và chỉ chấp nhận cho đăng ký khi đã có kết luận cuối
cùng về việc yêu cầu đăng ký đó là phù hợp. Quy định này góp phần hạn chế
quyền đăng ký chứng nhận độc quyền của các chủ sở hữu và tạo điều kiện để các
bên có lợi ích liên quan (ví dụ các nhóm bệnh nhân, đại diện của những người
nông dân bị “đánh cắp” loại giống cây trồng/vật nuôi, các nhà sản xuất nội địa¼)
được có thêm kênh hữu hiệu nhằm bảo về lợi ích hợp pháp và chính đáng của
mình. Mặt khác, đề xuất này đi ngược cách thức truyền thống đã được ghi nhận
trong TRIPS theo đó thời gian xem xét cấp bằng sáng chế được tính vào thời hạn
bảo hộ độc quyền của bằng này (một thỏa hiệp trong TRIPS) và mang lại một sự
bảo đảm lớn về lợi ích cho tổ chức, cá nhân được cấp bằng.
Điều 9.5 Dự thảo của Hoa Kỳ còn nêu nghĩa vụ của các quốc gia về liên
kết sáng chế, theo đó với mỗi đơn yêu cầu cho phép một sản phẩm thuốc cho
người hoặc động thực vật (mà chủ yếu là thuốc generic) tiếp cận thị trường (đăng
ký lưu hành), cơ quan có thẩm quyền phải rà soát tất cả các bằng sáng chế liên
quan đang có hiệu lực, phải thông báo cho chủ sở hữu các bằng sáng chế đó biết
về yêu cầu này và trường hợp có khiếu nại thì phải dừng việc cấp phép lưu hành
cho đến khi nào khiếu nại được giải quyết xong. Liên kết sáng chế đặt lên vai cơ
quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành những gánh nặng trách nhiệm rất lớn và
108
bảo vệ các chủ sở hữu sáng chế đang có hiệu lực một cách quá mức. Hơn nữa,
quy định này còn chuyển toàn bộ rủi ro sang người có yêu cầu đăng ký lưu hành
thuốc generic bởi cơ quan có thẩm quyền sẽ tự động hoãn việc cấp phép lưu
hành trong trường hợp có khiếu nại từ các chủ sở hữu bằng sáng chế đang có
hiệu lực. Và việc dừng lại này sẽ kéo dài cho đến khi nào khiếu nại được giải quyết
xong. Với những yêu cầu như thế này, việc cho phép thuốc generic được lưu
hành sẽ gặp khó khăn hơn nhiều.
Bên cạnh những đề xuất áp dụng đối với tất cả các đối tượng liên quan,
Hoa Kỳ còn đưa ra đề xuất về độc quyền dữ liệu chỉ áp dụng đối với một số
loại sản phẩm nhất định, trong đó có dược phẩm. Điều 9 Dự thảo của Hoa Kỳ
trong TPP nêu nghĩa vụ của các quốc gia về độc quyền dữ liệu theo đó cơ quan
có thẩm quyền không được dựa trên dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của dược
phẩm tương tự đã đăng ký bảo hộ trước đó để cấp đăng ký lưu hành cho thuốc
generic. Độc quyền dữ liệu khiến các đơn vị muốn đăng ký lưu hành một sản
phẩm tương tự phải thực hiện lại tất cả các thử nghiệm, phải tập hợp các dữ liệu
tương tự để xuất trình khi yêu cầu cấp phép lưu hành. Điều này đòi hỏi người nộp
đơn đăng ký mới phải có một nguồn lực đáng kể để chứng minh lại những gì đã
được chứng minh. Không phải ai cũng có tiềm lực để đáp ứng được yêu cầu này.
Ngoài ra, ngay cả khi làm được điều này, giá bán sản phẩm cũng sẽ bị đội lên do
phải cõng thêm chi phí thử nghiệm, đặt thêm gánh nặng lên vai người tiêu dùng.
Sự tốn kém, lãng phí bất hợp lý như vậy là rất khó chấp nhận trong hoàn cảnh Việt
Nam.
Tuyên bố Doha 2001 về việc áp dụng linh hoạt TRIPS đối với dược
phẩm là một văn bản ghi nhận tầm quan trọng, sự cần thiết và phù hợp đạo đức
của việc áp dụng linh hoạt các quy định của TRIPS nhằm bảo vệ sức khỏe cộng
đồng. Tuyên bố này đã nhận được sự đồng thuận của tất cả các thành viên WTO,
trong đó có các nước TPP. Trên thực tế, dù ngắn gọn và với nhiều nội dung
chung, Tuyên bố Doha là một công cụ hữu hiệu để nhiều nước đang phát triển
bảo vệ lợi ích công cộng quan trọng về sức khỏe cộng đồng của mình trước các
yêu cầu bảo hộ IP. Pháp luật và thực tiễn Việt Nam cũng đã và đang áp dụng
những biện pháp linh hoạt (ngoại lệ so với TRIPS) theo “sự cho phép” trong
109
Tuyên bố Doha này (đặc biệt trong các nội dung liên quan đến giấy phép bắt
buộc). Do đó, về mặt nội dung, việc đưa nội dung của Tuyên bố Doha vào văn
bản chính thức của TPP là rất có ý nghĩa đối với Việt Nam. Việc đưa Tuyên bố
này thành nội dung chính thức của TPP cũng hoàn toàn khả thi bởi trong Bản
khung (Broad Outline) của TPP công bố tháng 11/2011, với sự chấp thuận của
nguyên thủ tất cả các nước thành viên TPP, Tuyên bố Doha cũng đã được ghi
110
nhận như là một “định hướng tiếp cận” cho đàm phán TPP [20].
KẾT LUẬN
Quyền sở hữu trí tuệ là động lực quan trọng cho hoạt động nghiên cứu và
triển khai, thương mại hóa các sáng tạo trong lĩnh vực dược phẩm, nhằm cung cấp
các dược phẩm mới phòng chống bệnh tật. Trong khi đó, người bệnh cần phải được
sử dụng các dược phẩm mới này với giá hợp lý, có thể chấp nhận được so với thu
nhập của họ. Đây là một nghịch lý mà các quốc gia và các tổ chức quốc tế đang
phải đối mặt. Độc quyền sáng chế dẫn đến hạn chế khả năng chi trả và tiếp cận đối
với những dược phẩm đã được cấp bằng sáng chế. Cộng đồng quốc tế đã thừa nhận
rằng cần phải đặt ra giới hạn cho bảo hộ sáng chế, đặc biệt là khi liên quan đến sức
khỏe và đời sống con người. Cuộc khủng hoảng y tế công cộng trên thế giới và thực
tế tiếp cận với các loại thuốc hiện nay của người dân cần được các cơ quan quản lý
nhà nước đặc biệt chú ý trong xây dựng và thực thi luật sở hữu trí tuệ.
Việc cân bằng quyền và lợi ích giữa các công ty dược phẩm và người bệnh
trong vấn đề tiếp cận dược phẩm được bảo hộ theo pháp luật sáng chế nhằm đảm
bảo chất lượng, số lượng và giá cả hợp lý của dược phẩm, qua đó duy trì và bảo vệ
các quyền con người nói chung là một vấn đề không dễ dàng, phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia. Luận văn đã phân tích mối quan hệ giữa
quyền sáng chế liên quan đến dược phẩm và quyền tiếp cận dược phẩm với quyền
con người; cân bằng quyền sở hữu trí tuệ và quyền tiếp cận dược phẩm về mặt lý
thuyết và thực tiễn qua việc phân tích các quy định của Hiệp định TRIPS; thực tiễn
pháp luật về bảo hộ sáng chế dược phẩm ở một số nước và ở Việt Nam cũng như
các khuyến nghị về xây dựng và sửa đổi pháp luật nhằm đảm bảo cân bằng giữa hai
quyền này.
Yêu cầu bảo hộ sáng chế về sản phẩm dược thường liên quan đến hoạt chất
ở dạng độc lập hoặc cùng với chế phẩm, muối, tiền dược chất, chất đồng phân, v.v.,
hoặc bao gồm một đối tượng riêng rẽ bất kỳ trong số các đối tượng này. Yêu cầu
bảo hộ có thể chỉ bao gồm quy trình sản xuất hoặc cả quy trình sản xuất lẫn sản
phẩm. Ở một số nước, yêu cầu bảo hộ dạng sử dụng có thể được chấp nhận. Đối
với mỗi loại sáng chế dược phẩm cụ thể, các nước yêu cầu khác nhau tùy theo đặc
111
thù của dược phẩm đó.
Hiệp định liên quan đến các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
(TRIPS), một thỏa thuận đa phương rất quan trọng được trong khuôn khổ Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) ra đời nhằm tăng cường và thống nhất một số khía
cạnh của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại cấp độ toàn cầu. Những bất cập của
việc bảo hộ và các quy định liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong các
văn bản pháp luật quốc tế trước đó đã được cải thiện đáng kể trong Hiệp định
TRIPS. Hiệp định đòi hỏi các nước thành viên phải đảm bảo các tiêu chuẩn bảo hộ
tối thiểu đối với các quyền sáng chế dược phẩm thông qua, và trao quyền quyết định
cách thức thực hiện mục tiêu này cho các nước Thành viên. Hiệp định TRIPS cũng
cung cấp các quy tắc cho việc thực thi quyền sáng chế dược phẩm ở các nước thành
viên như "khách quan và công bằng", "không phức tạp hoặc tốn kém quá mức cần
thiết, hoặc đòi hỏi giới hạn thời gian bất hợp lý hoặc chậm trễ một cách tùy tiện".
Ngoài ra, Hiệp định quy định việc giải quyết tranh chấp liên quan đến Hiệp định
theo thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO và các yêu cầu minh bạch trong đó
buộc các nước thành viên đăng tải, công bố văn bản pháp luật và thông báo các luật
và quy định cho Hội đồng TRIPS hoặc WIPO. Hiệp định TRIPS không phải là một
đạo luật thống nhất, thay vào đó là một thỏa thuận tiêu chuẩn tối thiểu cho phép
thành viên cung cấp bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với sáng chế nói chung và sáng chế
dược phẩm nói riêng ở mức độ cao hơn và cũng để các thành viên tự do xác định
phương pháp thích hợp trong việc thực hiện các quy định của Hiệp định này trong
phạm vi hệ thống pháp luật và thực thi của mình. Hiệp định TRIPS cũng cho phép
các quốc gia giới hạn các bằng sáng chế ở một số khía cạnh bằng các quy định linh
hoạt. Ví dụ, Hiệp định TRIPS tuyên bố một cách rõ ràng rằng nó không giải quyết
vấn đề nhập khẩu song song, do đó các nước được tự do quyết định chính sách của
mình trong lĩnh vực này. Những linh hoạt mà TRIPS quy định có thể được sử dụng
để kéo dài thời gian cho các nước thực hiện chính sách y tế công cộng và sản xuất
các loại thuốc giá cả phải chăng hơn.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã điều chỉnh vấn đề bảo hộ sáng chế dược
phẩm trong pháp luật nội địa của mình từ rất sớm và dần hoàn thiện theo thời gian.
Tại Hoa Kỳ, Luật Khôi phục thời hạn sáng chế và cạnh tranh giá thuốc 1984 thường
112
được biết đến với tên gọi Luật Hatch-Waxman đã tạo ra một số thay đổi quan trọng
về pháp luật sáng chế được thiết kế để khuyến khích sự cải tiến trong ngành công
nghiệp dược phẩm cũng như tạo thuận lợi cho việc giới thiệu nhanh chóng các loại
thuốc giá rẻ. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Luật về bảo hộ
sáng chế ra đời muộn hơn, cụ thể là vào năm 1992. Ở Ấn Độ, ngành công nghiệp
dược phẩm đã thực sự thành công trong việc đảm bảo rằng những loại thuốc cần
thiết đến với đại đa số người dân ở một mức giá hợp lý bằng cách Chính phủ đã
cấm việc bảo hộ sáng chế đối với các sản phẩm dược phẩm trong một thời gian dài
từ năm 1970 đến năm 2005. Kết quả là ngành công nghiệp sản xuất các loại thuốc
đồng dạng rất phát triển ở Ấn Độ. Tại Trung Quốc, Luật về bằng độc quyền sáng
chế chính thức có hiệu lực từ năm 1985, tuy nhiên các quy định liên quan đến bảo
hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm mới chỉ được đưa vào thực thi kể từ năm
1993. Hiện nay, một trong những khía cạnh liên quan đến bảo hộ sáng chế dược
phẩm mà Trung Quốc đang nỗ lực hoàn thiện đó là bảo hộ sáng chế đối với các loại
thuốc truyền thống. Nhìn chung, pháp luật của các nước, đặc biệt là các nước đang
phát triển đều chú trọng tạo điều kiện nâng cao khả năng tiếp cận thuốc cho người
dân bằng các quy định cụ thể, bên cạnh việc đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với
dược phẩm thông qua hệ thống bằng sáng chế.
Ngành dược Việt Nam hiện nay đang phải đối đầu với nhiều khó khăn, thách
thức như doanh nghiệp trong nước có năng lực cạnh tranh còn yếu, thiếu hiểu biết
các quy định về sở hữu trí tu, thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ nhưng phải đối mặt với
các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng khi Chính
phủ cam kết giảm thuế suất thuế nhập khẩu, nới lỏng chính sách với các doanh
nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, số lượng đơn đăng ký cấp bằng sáng chế dược
phẩm do người nộp đơn Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1,6%) trong tổng số đơn xin
cấp bằng sáng chế dược phẩm được nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ. Kết quả là số lượng
bằng sáng chế dược phẩm được cấp cho người nộp đơn Việt Nam rất thấp, vào
khoảng 1,5% trong giai đoạn 2005-2010. Bên cạnh đó, một số loại thuốc tại Việt
Nam hiện nay có giá cao hơn giá bán tại các nước trên thế giới khoảng 40% trong
khi thu nhập bình quân của người dân Việt Nam rất thấp. Các yếu tố chính làm giá
thuốc tại Việt Nam tăng cao bao gồm: cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh; tâm lý
113
người tiêu dùng; thông tin về dược phẩm; công nghệ sản xuất thuốc Việt Nam chưa
phát triển; sự độc quyền trong phân phối thuốc; và bảo hộ sáng chế dược phẩm. Để
duy trì trì cân bằng giữa việc bảo hộ sáng chế và quyền tiếp cận dược phẩm Việt
Nam cần đáp ứng những điều kiện cụ thể về pháp luật, về kinh tế, về công nghệ, về
chính sách… trong đó việc hoàn thiện pháp luật về bảo hộ sáng chế dược phẩm phải
được xem là yếu tố quan trọng và cần tiến hành đồng thời cùng các giải pháp khác.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật sáng chế của Việt Nam đã được đưa ra
như quy định chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sử dụng sáng chế phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam; thống nhất quy định về quyền tiếp cận
dược phẩm trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Dược 2005 và Luật Khám,
chữa bệnh năm 2009… Việt Nam cũng được khuyến nghị cần sớm phê chuẩn Nghị
định thư sửa đổi Hiệp định TRIPS và lựa chọn phương án đàm phán phù hợp dựa
trên các cam kết quốc tế đa phương hiện hành (như Tuyên bố Doha về Hiệp định
TRIPs và sức khỏe cộng đồng năm 2001) đối với nội dung về bảo hộ sáng chế dược
phẩm khi tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do, ví dụ Hiệp định Đối
tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Mâu thuẫn giữa quyền sở hữu trí tuệ (bằng sáng chế) và nhân quyền (quyền
tiếp cận dược phẩm) phần lớn được giải quyết nếu chính phủ quốc gia và cộng đồng
quốc tế thực hiện một cam kết chung. Làm thế nào để thúc đẩy phát triển bền vững
ở các nước đang phát triển hoặc các nước kém phát triển, cũng như làm thế nào để
đảm bảo thực thi các cam kết quốc tế là những thách thức lớn và dài hạn để phổ
114
biến rộng rãi các loại thuốc với giá cả phải chăng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt 1. Lan Anh (2010), “Thuốc đặc trị viêm gan siêu vi được sản xuất tại VN: Vừa
được cấp phép đã bị khiếu nại”.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007
hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công
nghiệp.
3. Bộ Khoa học và công nghệ, Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN ngày 20 tháng 02
năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày
14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi,
bổ sung theo Thông tư 13/2010/TT-BKHCN ngày 30/07/2010 và Thông tư
18/2011/TT-BKHCN ngày 22/07/2011.
4. Bộ Y tế (2010), Đề án Quy hoạch chi tiết phát triển công nghiệp dược Việt Nam
giai đoạn đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.
5. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2013), Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí
tuệ 2012, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
6. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2003), Bảo hộ sáng chế - Cẩm nang dành cho
doanh nhân, được dịch từ tài liệu của Japan Patent Office, Asia-Pasific Industrial
Property Center, JIII, “Patent protection, handbook for business persons”.
7. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2008), Cẩm nang về sở hữu trí tuệ: Chính sách,
pháp luật và áp dụng, được dịch từ tác phẩm của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
(WIPO) (2001) “WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use”.
8. Cục Sở hữu trí tuệ (2007), Hội thảo khoa học về “Bảo hộ sáng chế về dược phẩm và bảo vệ dữ liệu thử nghiệm”, phối hợp với Viện Sở hữu trí tuệ Thụy Sỹ tổ chức tại Hà Nội ngày 06/8/2007.
9. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2008), Sáng tạo tương lai (tài liệu giới thiệu về
sáng chế dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ), quyền tác giả đối với bản tiếng
Anh thuộc về Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), tài liệu được phát hành
bằng nguồn tài trợ của Quỹ tín thác WIPO/Nhật Bản và Dự án Việt Nam - Thuỵ
115
Sĩ về sở hữu trí tuệ (SVIP).
10. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Sở hữu trí tuệ - Một công cụ đắc lực để
phát triển kinh tế, được dịch từ tài liệu của ông Kamil Idris, quyền tác giả bản
tiếng Anh thuộc Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Tài liệu được phát
hành bằng nguồn tài trợ của Chương trình Hợp tác đặc biệt Việt Nam - Thụy Sĩ
về sở hữu trí tuệ, NXB Bản đồ, Hà Nội.
11. Lê Việt Dũng (2008), Bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm ở Việt Nam,
Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Ngoại Thương.
12. Dự án ECC-Việt Nam về Sở hữu trí tuệ (2000), Thông tin sáng chế và bí mật
thương mại.
13. Lê Thị Nam Giang (2009), “Cân bằng lợi ích của xã hội và lợi ích của chủ sở
hữu trong bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế”, Tạp chí Khoa học
pháp lý.
14. Lê Thị Nam Giang (2009), “Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ
và lợi ích của xã hội trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Khoa học pháp
lý.
15. Lê Thị Nam Giang (2011), “Việt Nam với việc phê chuẩn Nghị định thư sửa
đổi Hiệp định TRIPS - phần 1”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
16. Lê Thị Nam Giang (2011), “Việt Nam với việc phê chuẩn Nghị định thư sửa
đổi Hiệp định TRIPS - phần 2”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
17. Lê Thị Nam Giang (2011), “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển
giao quyền sử dụng sáng chế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án
Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
18. Nguyễn Thái Mai và Vũ Thị Phương Lan (2013), Giáo trình Pháp luật quốc tế
về sở hữu trí tuệ, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội.
19. Lê Nết (2005), Quyền sở hữu trí tuệ, Tài liệu bài giảng, NXB. ĐHQG TP. Hồ
Chí Minh.
20. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012), Khuyến nghị phương án
đàm phán Chương Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình
Dương.
21. Quốc hội (2005), Luật Sở hữu trí tuệ.
116
22. Quốc hội (2009), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
23. Quốc hội (2005), Luật Dược.
24. Quốc hội (2004), Luật Canh tranh.
25. Quốc hội (2010), Luật Bảo hộ quyền lợi người tiêu dùng.
26. Quốc hội (2009), Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
27. Quy chế thẩm định sáng chế trong lĩnh vực dược: Triển vọng phát triển y tế
cộng đồng.
28. Kiều Thị Thanh (2013), Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam, NXB Chính trị-Hành chính, Hà Nội.
29. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách,
pháp luật và áp dụng.
30. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (1883), Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công
nghiệp.
31. Tổ chức Thương mại thế giới (1994), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS).
32. Tổ chức Thương mại thế giới (2001), Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPs và
sức khỏe cộng đồng.
33. Điêu Ngọc Tuấn (2004), Bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
theo pháp luật Việt Nam và Cộng hoà Pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội.
34. Nguyễn Thanh Tú - Khoa Luật, Đại học Lund, Thụy Điển và Phan Huy Hồng -
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2011), “Quyền sở hữu trí tuệ và quyền
tiếp cận dược phẩm, quyền con người”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 202
ngày 10/09/2011.
35. Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế và Ủy ban Thương mại quốc gia
Thụy Điển (2005), Tác động của các Hiệp định của WTO đối với các quốc gia
đang phát triển.
36. Văn phòng WHO tại Việt Nam (2010), Báo cáo “Giá thuốc khiến người dân ốm
yếu hơn và nghèo hơn”.
Tiếng Anh 37. Frederick M. Abbott (2002), “The Doha Declaration on The TRIPS Agreement
117
and Public Health: Lightening a Dark Corner in WTO”, Journal of International
Economic Law, Vol.5, issue 2, pp. 480-489.
38. Freddeick M. Abbot (2002), WTO TRIPS agreement and its and its implications
for access to medicines in developing countries, Commision on intellectual
property right.
39. Caidan Cao (2010), “Patent Right and Access to Medicine”, Master
thesis, Faculty of Law Lund University.
40. Central Government of India (1970), The Patents Act, as amended up to Patents
(Amendment) Act, 2005.
41. Grubb, Philip (1999), “Patents for Chemicals, Pharmaceuticals and
Biotechnology: Fundamentals of Global Law, Practice and Strategy”, Oxford
University Press.
42. Japanese Diet (1959), Japan Patent Act, as amended on 2011.
43. Li, Xuan (2008): The impact of higher standards in patent protection for pharmaceutical industries under the TRIPS Agreement: A comparative study of
China and India, Research paper / UNU-WIDER, No. 2008.36.
44. Meeting of the General Counsels‟ Committee, BIO (Biotechnology Industry Association) (2003), Presentation: “TRIPs, Doha, Cancun and Access to Medicines, Boston, MA.
45. Mexican Congress (1991), Mexico Industrial Property Law, as amended up to
January 25, 2006.
46. National Legislative Assembly of Thailand (1979), Patent Act, as amended by
the Patent Act (No. 2) B.E 2535 (1992) and the Patent Act (No. 3) B.E. 2542
(1999).
47. Tu Thanh Nguyen (2009), Competition Law in Technology Transfer under the
TRIPS Agreement Implications for Developing Countries, Lund University.
48. Office of the Federal Register of the United States (2013), “Consolidated Patent
Rules”, Title 37 of Code of Federal Regulations - Patents, Trademarks, and
Copyrights.
49. Office of the Law Revision Counsel of the U.S. House of Representatives
(2013), “Consolidated Patent Laws”, United States Code Title 35 – Patent.
50. Oh C. TRIPS and pharmaceuticals: A Case of Corporate Profits Over Public
118
Health. Editorial. Third World Network.
51. Parliament of the European Union (1973), Convention on the Grant of uropean
Patents (European Patent Convention).
52. Roundtable Participant: “Intellectual Property Protection for Pharmaceuticals: Emerging Issues in the Global Economy,” The Pfizer Journal, Global Edition Volume 1, Number 2 (2000).
53. Wendy H. Schacht, John R. Thomas (2005), Patent Law and Its Application to
the Pharmaceutical Industry: An Examination of the Drug Price Competition
and Patent Term Restoration Act of 1984 (“The Hatch-Waxman Act”), The
Library of Congress, United States.
54. “Secretary-General proposes global fund for the fight against HIV/AIDS and
other infectious diseases at African leaders summit”, SG/SM/7779/Rev.1,
AFR/313/Rev.1-AIDS/7/Rev.1, 26/4/2001.
55. K.R. Sirinivas (2003), “Interpreting Paragraph 6: Deal on Patents and Access
to Drugs”, Economic and Political Weekly, Vol.38, Issue 38.
56. Standing Committee of the National People's Congress of the People‟s Republic
of China (1984), Patent Law, as amended up to the Decision of December 27,
2008, regarding the Revision of the Patent Law of the People‟s Republic of
China.
57. United Nations (2001), Commission on Human Rights Resolution 2001/33,
Access to medication in the context of pandemics such as HIV/AIDS,
58. US State Department Program for Latin American Intellectual Property Specialists (2005), Presentation: “Intellectual Property Issues Facing the
Pharmaceutical Industry,” Protecting Intellectual Property Rights in the Global
Marketplace, Washington, DC.
59. WIPO (2003), “Implementation of paragraph 6 of the Doha Declaration on the
TRIPS Agreement and public health”, General Council, WT/L/540 and Corr.1.
60. World Intellectual Property Organization (1883), Paris Convention for the
Protection of Industrial Property, as amended on September 28, 1979.
61. World Intellectual Property Organization (1970), Patent Cooperation Trearty
119
(PCT), as modified on February 3, 1984, and on October 3, 2001.
62. World Intellectual Property Organization (2014), Regulation under the Patent
Cooperation Treaty, as in force from July 1, 2014.
63. World Health Organisation (2008), Improving access to Medicines in Thailand:
The use of TRIPS flexibilities, Report of a WHO Mission, Bangkok.
64. World Intellectual Property Organization (2008), “World patent report”, A
Satictiscal Review, P.18, p.24.
65. World Health Organisation and World Trade Organisation (2002), “WTO
Agreements and Public Health - A Joint study by the WHO and WTO
Secretariat”, Geneva, Switzerland.
66. World Trade Organisation (2001), Statement by South Africa in Council for
Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights, Special discussion on
Intellectual Property and Access to Medicines, IP/C/M/31.
67. World Trade Organization (2000), the Report of the Appeallate Body, Canada-
The term of Patent Protection, WT/DS170/AB/R.
68. World Trade Organisation (2005), The Protocol Amending TRIPs Agreement.
Website
69. http://www.aripo.wipo.net/.
70. http://www.eapo.org/.
71. http://www.epo.org/.
72. http://www.gulf-patent-office.org.sa.
73. http://www.ictsd.org/downloads/2010/01/patentability-criteria-rev.pdf
74. http://www.noip.gov.vn/noip/cms_vn.nsf/vwDisplayContentNews/5D674E61E0
BDF16B47257B4700102234?OpenDocument
75. http://www.jpo.go.jp
76. http://www.oapi.wipo.net/.
77. http://patentscope.wipo.int/search/en/structuredSearch.jsf
78. http://patft.uspto.gov/netahtml/PTO/search-bool.html.
79. http:/www.uspto.gov.
120
80. http://www.wipo.int/

