TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
721TCNCYH 197 (12) - 2025
BẠO LỰC TÂM LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
CỦA SINH VIÊN KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH
Nguyễn Trà My, Lê Thị Dung
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Từ khoá: Bạo lực tâm lý trên không gian mạng, sinh viên.
Nghiên cứu mô tả thực trạng và xác định tỷ lệ bạo lực tâm lý trên không gian mạng của sinh viên khoa Y tế
công cộng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm học 2024 - 2025. Nghiên cứu cắt ngang được thực
hiện tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ tháng 3/2025 đến tháng 5/2025 với 263 sinh viên tham
gia. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi tự điền, đánh giá bằng thang đo Thang đo Nạn nhân bị bắt nạt
trực tuyến (Cyberbulling Victimization Scale - CVS). Kết quả cho thấy thời gian sử dụng Internet phần lớn
trên 5 giờ/ngày. Tỷ lệ sinh viên bị bạo lực tâm lý trên không gian mạng khá cao, chiếm 60,5% sinh viên đã từng
trải qua ít nhất một hình thức bạo lực tâm lý trên không gian mạng trong 3 tháng gần nhất. Nghiên cứu khuyến
nghị cần các chương trình giáo dục và hỗ trợ tâm phù hợp để nâng cao kỹ năng ứng phó cho sinh viên.
Tác giả liên hệ: Nguyễn Trà My
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Email: mymy291103@gmail.com
Ngày nhận: 03/10/2025
Ngày được chấp nhận: 02/11/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại phát triển của kinh tế sự
bùng nổ của các công cụ kỹ thuật số, mọi lứa
tuổi đang chạy đua theo công nghệ. Mạng
hội không chỉ là nơi giao tiếp, chia sẻ kiến thức
phát triển các mối quan hệ hội còn
không gian học tập giải trí.1 Song đây
cũng hội thuận lợi cho sự xuất hiện của
các hành vi tiêu cực, trong đó nổi bật hiện
tượng bạo lực tâm trên không gian mạng.
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF)
định nghĩa hành vi này “bắt nạt khi sử dụng
những công nghệ kỹ thuật số” thể “diễn
ra trên mạng hội, nền tảng nhắn tin, nền tảng
trò chơi và điện thoại di động. Đó là hành vi lặp
đi lặp lại, nhằm mục đích gây sợ hãi, tức giận
hoặc làm xấu hổ những người bị nhắm tới”. Bài
viết này thống được hơn 1/3 thanh thiếu niên
30 quốc gia đã từng nạn nhân của bạo
lực tâm trên không gian mạng.2 Báo cáo
các quốc gia ASEAN (2019) cho biết tỷ lệ nạn
nhân của bạo lực tâm trên không gian mạng
đối tượng thanh thiếu niên đã tăng lên đáng
kể trong những năm gần đây.3 Ở Việt Nam, các
nghiên cứu cắt ngang về bạo lực tâm trên
không gian mạng sinh viên y chưa phổ biến,
phần lớn các nghiên cứu đều hướng về đối
tượng học sinh trung học sở trung học
phổ thông (Trần Văn Công cộng sự (2015),
Phạm Thị Thu Ba Trần Quỳnh Anh (2016),
Trần Văn Công và cộng sự (2018), Nguyễn Thị
Bích Thuỷ (2022), Thái Thanh Trúc và cộng sự
(2022), Hồ Thị Trúc Quỳnh (2023), Nguyễn Thị
Ngọc Lâm Văn Minh (2024)).3-9 Nhưng số
liệu từ một số khảo sát cho thấy không ít thanh
thiếu niên đã từng trải qua hoặc chứng kiến các
hành vi bạo lực tâm trên không gian mạng.
Một nghiên cứu tại trường Đại học Y tế Công
cộng (2024) cho biết đến 84,9% sinh viên
là nạn nhân của bạo lực tâm lý trên không gian
mạng.10 Đối với sinh viên khoa Y tế công cộng
tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch,
đây là một nhóm đối tượng đặc biệt, không chỉ
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
722 TCNCYH 197 (12) - 2025
vì tính chất học tập và chuyên môn mà đây còn
chính là những người sẽ trực tiếp tham gia vào
các hoạt động hỗ trợ, bảo vệ nâng cao sức
khỏe cộng đồng trong tương lai. Do đó, nghiên
cứu được tiến hành với mục tiêu: Xác định tỷ
lệ sinh viên khoa Y tế công cộng Trường Đại
học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch năm học 2024
- 2025 bị bạo lực tâm lý trên không gian mạng.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Sinh viên Khoa Y tế công cộng (chuyên
ngành Cử nhân Y tế công cộng chuyên
ngành Cử nhân Dinh dưỡng) từ năm 1 đến năm
4 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
năm học 2024 - 2025.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2024 đến
07/2025.
Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 03/2025
đến 05/2025.
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Y
khoa Phạm Ngọc Thạch.
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
một trong những trường đại học thuộc khối
ngành sức khỏe với qui đào tạo 8 Khoa
chính 17 chuyên ngành khác nhau. 11Sứ
mệnh của trường đào tạo cung cấp đội
ngũ cán bộ y tế đủ năng lực chuyên môn,
phẩm chất đạo đức, và khả năng thích nghi với
những thách thức trong hệ thống y tế hiện đại.
Khoa Y tế công cộng được thành lập vào
ngày 30/9/2017, gồm 2 chuyên ngành với tổng
368 sinh viên. Sinh viên Khoa không chỉ trang
bị kiến thức về khoa học y tế mà còn phát triển
các kỹ năng phân tích, quản lý can thiệp vào
các vấn đề sức khỏe cộng đồng thực tiễn.
Cỡ mẫu và chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ gồm 263/368 sinh
viên tham gia. Lập danh sách sinh viên khoa
Y tế công cộng từ năm 1 đến năm 4 năm học
2024 - 2025, được cung cấp từ sở dữ liệu
của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.
Sau đó, sắp xếp theo thứ tự năm học từ năm
1 đến năm 4 xếp theo số sinh viên tăng
dần trong từng năm.
Biến số nghiên cứu
Các biến số chính bao gồm yếu tố Thông tin
chung của đối tượng (Giới, Năm học, Ngành
học, Mức độ sử dụng Internet, Có biết/có nghe
qua bạo lực tâm lý trên không gian mạng, Mức
độ khó chịu khi chứng kiến/ trải qua bạo lực tâm
lý trên không gian mạng, Sự hỗ trợ từ gia đình/
bạn bè) và Tình trạng bạo lực tâm trên không
gian mạng.
Bạo lực tâm trên không gian mạng được
đánh giá dựa trên Thang đo Nạn nhân bị bắt nạt
trực tuyến (Cyberbullying victimization Scale -
CVS), với hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,85.5
Thang đo gồm có 6 câu hỏi, mỗi câu hỏi sẽ ứng
với lựa chọn tần suất bạo lực tâm lý trên không
gian mạng cụ thể trong vòng 3 tháng trước thời
điểm khảo sát (1 = Chưa bao giờ/3 tháng; 2 =
1 - 2 lần/3 tháng; 3 = Hơn 2 lần/3 tháng; 4 =
Nhiều lần/3 tháng; 5 = Mỗi ngày/3 tháng).
Sinh viên được xác định là có bị bạo lực tâm
trên không gian mạng khi tần suất trải nghiệm
bạo lực từ mức 2 (1 - 2 lần/3 tháng) trở lên trên
tổng 6 câu hỏi.
Sinh viên được xác định không bị bạo
lực tâm trên không gian mạng khi tần suất
trải nghiệm bạo lực mức 1 (Chưa bao giờ/3
tháng) trên tổng 6 câu hỏi.
Kỹ thuật, công cụ quy trình thu thập
số liệu
Số liệu thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền
thông qua Google Forms được tự động cập nhật
vào Google Sheet được xuất thành file Excel.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
723TCNCYH 197 (12) - 2025
Quy trình tiến hành nghiên cứu:
Bước 1: Làm đơn xin sự đồng ý của Trường
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Phòng
Công tác sinh viên của Trường, đồng thời xin
được cung cấp danh sách sinh viên khoa Y tế
công cộng để triển khai và thu thập số liệu.
Bước 2: Lập danh sách toàn bộ sinh viên
khoa Y tế công cộng được cung cấp từ sở
dữ liệu của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc
Thạch theo tứ tự từ năm 1 đến năm 4, sau đó
xếp theo số sinh viên tăng dần trong từng
năm.
Bước 3: Sinh viên nhận được lời mời tham
gia nghiên cứu bản câu hỏi trên Google Form
thông qua tài khoản email trường của sinh viên.
Xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu được mã hóa thành các biến số, các
giá trị khuyết được giữ nguyên, kiểm tra việc
lựa chọn đáp án cho các câu hỏi với mỗi câu
hỏi chọn một đáp án.
Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 20.0
để phân tích số liệu: tả bằng bảng tần suất
tỷ lệ đối với các biến định tính (Các biến số về
yếu tố thông tin chung của đối tượng; Biến số về
tình trạng bạo lực tâm lý trên không gian mạng).
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự chấp thuận xét
duyệt của Hội đồng Khoa học Hội đồng Y
đức của Khoa Y tế công cộng Trường Đại học
Y khoa Phạm Ngọc Thạch số 1313/TĐHYKPNT
- HĐĐĐ ngày 26/2/2025. Tất cả sinh viên tham
gia trên tinh thần tự nguyện sau khi được giải
thích ràng về mục tiêu, ý nghĩa, bảo đảm tính
bảo mật thông tin quyền lợi của đối tượng
khi đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu.
III. KẾT QUẢ
Bảng 1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n = 263)
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Giới
Nam 70 26,6
Nữ 193 73,4
Số năm học hiện tại
Năm 1 87 33,1
Năm 2 55 20,9
Năm 3 69 26,2
Năm 4 52 19,8
Ngành học
Dinh dưỡng 150 57,0
Y tế công cộng 113 43,0
Mức độ sử dụng Internet
Ít sử dụng (1 - dưới 3 giờ/ngày) 12 4,5
Thỉnh thoảng (3 - 5 giờ/ngày) 92 35,0
Thường xuyên (trên 5 giờ/ngày) 159 60,5
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
724 TCNCYH 197 (12) - 2025
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Có biết/có nghe qua bạo lực tâm lý trên không gian mạng
234 89,0
Không 9 3,4
Chưa rõ lắm 20 7,6
Mức độ khó chịu khi chứng kiến/trải qua bạo lực tâm lý trên không gian mạng
Không khó chịu 10 3,8
Hơi khó chịu 53 20,1
Khó chịu trung bình 83 31,6
Rất khó chịu 117 44,5
Có sự hỗ trợ từ gia đình/bạn bè
214 81,4
Không 49 18,6
Bảng 1 mô tả thông tin chung của đối tượng
nghiên cứu. Phần lớn đối tượng tham gia nghiên
cứu Nữ giới (73,4%). Tỷ lệ sinh viên ngành
Dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao hơn (57%). Mức độ
sử dụng Internet của sinh viên mức Thường
xuyên (trên 5 giờ/ngày) chiếm tỷ lệ cao nhất
60,5%. Về mức độ khó chịu khi chứng kiến/trải
qua bạo lực tâm trên không gian mạng, gần
½ sinh viên chọn mức độ Rất khó chịu (44,5%).
Đa số sinh viên đều nhận được sự hỗ trợ từ gia
đình/bạn bè (81,4%).
Bảng 2. Tỷ lệ sinh viên bị bạo lực tâm lý trên không gian mạng trong 3 tháng (n = 263)
Nội dung Tần số Tỷ lệ
Tình trạng bạo lực tâm lý trên không gian mạng 159 60,5%
Không bị bạo lực tâm lý trên không gian mạng 104 39,5%
Kết quả nghiên cứu cho thấy 159 sinh
viên, chiếm 60,5% tổng số người tham gia, đã
từng trải qua ít nhất một hình thức bạo lực tâm
trên không gian mạng. Ngược lại, 104 sinh
viên (39,5%) cho biết họ chưa từng nạn nhân
của hình thức bạo lực này.
Bảng 3. Tần suất gặp bạo lực tâm lý trên không gian mạng trong 3 tháng (n = 263)
Nội dung Chưa bao giờ 1 - 2 lần Hơn 2 lần Nhiều lần Mỗi ngày
Bị gọi bằng tên lóng, bị làm
trò cười, trêu ghẹo trên mạng 195 (74,1%) 42 (16,0%) 18 (6,8%) 6 (2,3%) 2 (0,8%)
Nhận được tin nhắn/hình ảnh
khiếm nhã 179 (68,1%) 62 (23,6%) 14 (5,3%) 3 (1,1%) 5 (1,9%)
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
725TCNCYH 197 (12) - 2025
Nội dung Chưa bao giờ 1 - 2 lần Hơn 2 lần Nhiều lần Mỗi ngày
Bị cô lập hoặc tách biệt khỏi
hóm bạn trên mạng 203 (77,2%) 29 (11,0%) 16 (6,1%) 10 (3,8%) 5 (1,9%)
Bị đặt điều, bị rêu rao những
điều không đúng sự thật trên
mạng
177 (67,3%) 52 (19,7%) 15 (5,7%) 17 (6,5%) 2 (0,8%)
Tin nhắn/hình ảnh/video về
bản thân bị đưa lên mạng 219 (83,3%) 22 (8,3%) 10 (3,8%) 10 (3,8%) 2 (0,8%)
Bị đe doạ trên mạng 203 (77,2%) 30 (11,3%) 12 (4,6%) 12 (4,6%) 6 (2,3%)
Chú thích: Mức 1 = Chưa bao giờ; Mức 2 = 1 - 2 lần; Mức 3 = Hơn 2 lần;
Mức 4 = Nhiều lần; Mức 5 = Mỗi ngày
Bảng 3 tả tần suất sinh viên gặp phải
bạo lực tâm lý trên không gian mạng. Trong đó,
các hành vi phổ biến nhất là “Bị đặt điều, bị rêu
rao những điều không đúng sự thật trên mạng”
(19,7% mức 2; 5,7% mức 3; 6,5% mức
4; 0,8% ở mức 5) và “Nhận được tin nhắn/hình
ảnh khiếm nhã” (23,6 mức 2; 5,3% mức
3; 1,1% mức 4; 1,9% mức 5). Một số hình
thức khác tuy có tỷ lệ thấp hơn nhưng vẫn đáng
chú ý như “Bị đe doạ trên mạng” (11,3% ở mức
2; 4,6% ở mức 3; 4,6% mức 4; 2,3% mức 5
và “Bị cô lập hoặc tách biệt khỏi nhóm bạn trên
mạng” (11,0% mức 2; 6,1% mức 3; 3,8%
mức 4; 1,9% mức 5). Các hành vi xảy ra
với tuần suất mức 4 hoặc mức 5 chiếm tỷ lệ
nhỏ, đa số là dưới 5%. Nhìn chung, dữ liệu cho
thấy bạo lực tâm trên không gian mạng diễn
ra nhiều hình thức khác nhau, chủ yếu mức
độ thỉnh thoảng, phản ánh sự phổ biến nhưng
không thường xuyên của hiện tượng này trong
nhóm sinh viên khảo sát.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu cho thấy đa số sinh viên sử dụng
Internet mức độ cao, với 60,5% dùng trên
5 giờ/ngày, kết quả này tương tự với nghiên
cứu của tác giả Bùi Thị Cẩm T cộng sự
(2024) trên đối tượng sinh viên Y khoa, với
thời gian sử dụng Internet trung bình là 5,59 h/
ngày.12 Phản ánh xu hướng học tập giải trí
trực tuyến ngày càng phổ biến khiến sinh viên
gần như phải duy trì kết nối mạng liên tục. Điều
này không chỉ ảnh hưởng đến thói quen sinh
hoạt còn làm gia tăng các tình huống bạo
lực tâm lý trên không gian mạng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên
đã từng trải qua ít nhất một hình thức bạo lực
tâm trên không gian mạng khá cao (60,5%)
sự tương đồng với nghiên cứu của tác giả
Hồ Thị Trúc Quỳnh (63,6%).8 Tuy nhiên, kết
quả này lại thấp hơn so với một nghiên cứu
khác của tác giả Hồ Thị Trúc Quỳnh vào năm
2021 (70,55%) nghiên cứu trên sinh viên
Trường Đại học Giáo Dục (89%).13,14 Sự khác
nhau này có thể đến từ việc các nghiên cứu sử
dụng công cụ đo lường khác nhau, thời điểm
khảo sát và đối tượng khảo sát khác nhau. Đối
với nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Trúc Quỳnh
trên đối tượng sinh viên tại Đại học Huế, tác giả
đã sử dụng Thang đo Nạn nhân bị bắt nạt trực
tuyến đo lường 6 hình thức bắt nạt trực tuyến
trong 30 ngày trước đó.13nghiên cứu của tác
giả Thu Quyên cộng sự trên sinh viên
Trường Đại học Giáo Dục, nhóm tác giả đã tự
xây dựng bảng câu hỏi riêng về bạo lực trực
tuyến gồm 9 hình thức.14 Nhìn chung, tỷ lệ