Xây dựng nhóm làm vic
Nhóm làm việc hình thành nên một đơn vị hoạt động cơ bản
thông qua một quá trình. Nội dung dưới đây đề cập đến những
vấn đề cơ bản của một nhóm làm vic và đề xuất những cách
thức tạo ra sự phát triển.
Nhóm làm việc là gì?
Một nhóm người làm việc trong cùng một văn phòng hay thậm
chí một dự án chung không phải lúc nào cũng tiến hành công
việc của một nhóm làm vic. Nếu nhóm đó được quản lý theo
kiểu chuyên quyền độc đoán hoàn toàn, có lẽ sẽ không có nhiều
cơ hội cho sự tác động qua lại liên quan đến công việc giữa các
thành viên trong nhóm. Nếu có bất kỳ tư tưởng bè pi nào
trong nhóm, hot động của nhóm sẽ không bao giờ tiến triển
được. Ngược lại, nhóm làm việc là phương thức thể được tận
dụng dù vi những cá nhân ở những khoảng ch xa làm việc
nhng dự án khác nhau.
Nói mt cách đơn giản, nhóm làm việc tạo ra một tinh thần hợp
tác, phối hợp, những thủ tục được hiểu biết chung và nhiều hơn
na. Nếu điều này diễn ra trong một nm người, hoạt động của
hsẽ được cải thiện bởi s htrợ chung (cả về thực tế lẫn lý
thuyết).
Nếu bạn cho rằng đây là mt định nghĩa không rõ ràng khi áp
dụng vào thế giới công nghiệp, hãy xem xét hiệu quả ngược li,
cái mà một người khó tính, cứng đầu nhưng hay phát biểu tác
động lên công việc của bạn; sau đó đặt nó tương phản với việc
được làm vic trong một không khí hợp tác thân thiện và cởi
m.
Phát trin nhóm
Tng thường, người ta coi sự phát triển của một nhóm có 4 giai
đoạn: Hình thành, Xung đột, Bình thường hóa, Vận hành.
- Hình thành là giai đoạn nhóm được tập hợp lại. Mọi người đều
rất giữ gìn và rụt rè. Sự xung đột hiếm khi được phát ngôn một
cách trực tiếp, chủ yếu là mang tính cht cá nhân và hoàn toàn là
tiêu cực. Do nhóm còn mới nên các cá nhân sẽ bị hạn chế bởi
nhng ý kiến riêng của mình nhìn chung là khép kín. Điều
này đặc biệt đúng đối với một thành viên kém quan trọng và lo
âu quá. Nhóm phần lớn có xu hướng cản trở những người nổi
trội lên như một người lãnh đạo.
- Xung đột là giai đoạn tiếp theo. Khi đó, các bè phái được hình
thành, các tính cách va chạm nhau, không ai chịu lùi một bước
trước khi giơ nanh múa vuốt. Điều quan trọng nhất là rất ít sự
giao tiếp vì không có ai lắng nghe và một số người vn không
sẵn sàng nói chuyện cởi mở. Sự thật là, sự xung đột này dường
như là một thái cực đối với nhóm làm việc của bạn nhưng nếu
bạn nhìn xuyên qua cái bề ngoài tử tế và thấy được những lời
mỉa mai, công kích, ám chỉ, có thể bức tranh sẽ rõ hơn.
- Giai đoạn bình thường hóa: Ở giai đoạn này, nhóm bt đầu
nhận thấy những lợi ích của việc cộng tác cùng với nhau và s
giảm bớt xung đột nội bộ. Do một tinh thần hợp tác mới hiện
hu, mọi thành viên bắt đầu cảm thấy an toàn trong việc bày t
quan điểm của mình và những vấn đề này được thảo luận cởi mở
bên với toàn bộ nhóm. Sự tiến bộ lớn nhất là mọi người có thể
bắt đầu lắng nghe nhau. Những phương pháp làm việc được
hình thành và toàn bộ nhóm đều nhận biết được điều đó.
- Giai đoạn hoạt động trôi chảy: Đây là điểm cao trào, khi nhóm
làm việc đã ổn định trong một hệ thống cho phép trao đổi nhng
quan điểm tự do và thoải mái và có s hỗ trcao độ của c
nhóm đối với mỗi thành viên và với các quyết định của nhóm.
Theo khía cạnh hoạt động, nhóm bắt đầu ở một mức độ hoạt
động nhỏ hơn mức hoạt động của mọi cá nhân cộng lại và sau
đó đột ngột giảm xuống điểm thấp nhất trước khi chuyển sang
giai đoạn Bình thường hoá và sau đó là một mức độ hoạt động
cao hơn nhiều so với lúc mới bắt đầu. Chính mức độ hoạt động
được nâng lên này là lý do chính giải thích cho việc sử dụng
nhómm việc chứ không phải đơn thuần là những tập hợp các
nhân viên.
K năng làm việc nhóm
Nhóm làm việc là một loạt những thay đổi diễn ra khi một nhóm
nhng cá nhân tập hợp lại và hình thành một đơn vị hoạt động
gắn kết và hiệu quả. Nếu hiểu rõ quá trình này, có thể đẩy mạnh
sự hoạt động của nhóm.
Có hai tập hợp kỹ năng mà một nhóm cần phải có:
-Kng quản tr
-Kng giao tiếp giữa các cá nhân
Và việc tăng cường hoạt động của một nhóm đơn giản chỉ là
việc tăng cường nắm bắt nhng kỹ năng này
Là một đơn vị tự quản, một nhóm phải đảm nhiệm một cách tập
thể phần lớn nhng chức năng của một người lãnh đạo nm. Ví
dụ như tổ chức các cuộc họp, quyết định ngân quỹ, vạch kế
hoạch chiến lược, thiết lập mục tiêu, giám sát hoạt động... Người
ta ngày càng nhận ra rằng thật là mt điều sai lầm khi trông đợi
mt cá nhân bất chợt phải đảm nhiệm vai trò quản lý mà không
có sự trợ giúp; trong một nhóm làm vic thì điều này càng tr
nên đúng hơn. Ngay cả khi có những nhà qun lý thực sự trong
nhóm, đầu tiên họ cũng phải đồng ý với một phương thức và sau