
1
Biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long
và sự quan tâm của người dân
Lê Thanh Sang1
Tóm tắt:
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong số rất ít vùng trên thế giới chịu ảnh hưởng lớn
nhất của nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết và quan tâm
của người dân ở đây đối với vấn đề nghiêm trọng trên còn thấp. Kết quả khảo sát mẫu ở
Tây Nam Bộ năm 2008 cho thấy hơn 1/3 dân số đô thị và gần 1/2 dân số nông thôn chưa
từng nghe nói đến biến đổi khí hậu. Gần 1/4 số người đã từng nghe nói về biến đổi khí
hậu nhưng không quan tâm. Các yếu tố cá nhân như độ tuổi, học vấn có ảnh hưởng tích
cực đối với việc tiếp cận thông tin và sự quan tâm. Tivi, radio, và báo chí là những kênh
truyền thông chủ yếu đối với vấn đề biến đổi khí hậu.
1. Giới thiệu
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong số ít các khu vực trên thế giới
chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của tình trạng biến đổi khí hậu (BĐKH). Mặc
dù liên quan trực tiếp đến người dân, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu
mức độ hiểu biết, sự quan tâm của họ đối với BĐKH và các nhân tố ảnh hưởng.
Nâng cao nhận thức đối với mối hiểm họa này là tiền đề cho việc xây dựng các
giải pháp giảm nhẹ và thích ứng đối với BĐKH ở ĐBSCL hiện nay. Bài viết này
cung cấp một phân tích thực nghiệm bước đầu về vấn đề trên.
Nguồn số liệu chính của bài viết là kết quả khảo sát năm 2008 của Chương trình
cấp Bộ “Những vấn đề cơ bản trong sự phát triển của vùng Tây Nam Bộ” do Viện
Phát triển bền vững vùng Nam Bộ tiến hành. Mẫu khảo sát được thực hiện theo
phương pháp chọn mẫu khu vực, nhiều giai đoạn, đại diện cho toàn vùng ĐBSCL.
Có 30 phường, xã, thị trấn được chọn ngẫu nhiên hệ thống để khảo sát. Tại mỗi
phường, xã, thị trấn trên, có 30 hộ được chọn ngẫu nhiên để khảo sát. Qui mô mẫu
khảo sát là 900 hộ. Phương pháp phân tích chủ yếu được áp dụng là mô hình
multinomial logistic nhằm chỉ ra các nhân tố chính của sự khác nhau về tỷ suất
giữa ba phân nhóm của biến phụ thuộc: (1) Nhóm chưa từng nghe nói về BĐKH,
(2) Nhóm đã từng nghe nói nhưng không quan tâm, và (3) Nhóm đã từng nghe nói
và rất quan tâm. Các biến độc lập bao gồm: Tuổi, Giới tính, Dân tộc, Học vấn, và
Nơi cư trú.
Bài viết bao gồm một số nội dung chính sau đây: Trước hết, chúng tôi trình bày
mức độ nghiêm trọng mà ĐBSCL phải đối mặt do BĐKH gây ra. Tiếp đến, chúng
tôi mô tả các đặc điểm chính của mẫu khảo sát. Phần chủ yếu của bài viết sẽ phân
tích mối tương quan giữa một số đặc điểm của người trả lời với sự hiểu biết và
mối quan tâm của họ về BĐKH. Cuối cùng là một số nhận xét kết luận.
1 TS, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ

2
2. Đồng bằng sông Cửu Long trước thách thức của biến đổi khí hậu
Dựa trên các kịch bản về BĐKH toàn cầu, báo cáo của Ban Liên Chính phủ về
BĐKH (Inter-Government on Climate Change – IPCC) đánh giá ĐBSCL là một
trong ba khu vực trên thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của BĐKH.
Hình 1 cho thấy, cùng với đồng bằng sông Nile, đồng bằng Ganges Brahmaputra,
số người có khả năng phải di dời cho đến trước năm 2050 ở ĐBSCL lên đến hơn 1
triệu người do nước biển dâng nếu không có những hoạt động tích cực nhằm giảm
tốc độ BĐKH như hiện nay.
Hình 1: Mức độ tổn thương của các vùng đồng bằng ven biển được thể hiện
bởi các ước lượng về số người có khả năng bị di dời do nước biển dâng từ nay
đến năm 2050
Chú thích: Extreme: Tổn thương nghiêm trọng, trên 1 triệu người
High: Tổn thương cao, từ 50 ngàn đến 1 triệu người
Medium: Tổn thương trung bình, từ 5 ngàn đến 50 ngàn người
Nguồn: IPCC, 2007, [B6.3]
Với mật độ dân số cao và hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông ngư nghiêp,
các tác động của BĐKH đối với sự đa dạng sinh học, điều kiện cư trú, sức khỏe,
tài sản và sinh kế của người dân, các ngành kinh tế và cơ sở hạ tầng kỹ thuật… ở
ĐBSCL là hết sức nghiêm trọng. Phù hợp với nhận định của IPCC, nghiên cứu của
Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường (International Centre for
Environmental Management - ICEM) năm 2008 đã đưa ra các đánh giá về tác
động cụ thể của nước biển dâng đối với các khía cạnh đất đai, dân số, sự đa dạng
sinh học ở ĐBSCL.

3
Hình 2 cho thấy nhiều vùng rộng lớn ở ĐBSCL bị ngập khi nước biển dâng lên 1
m, bao gồm phần lớn Long An, các tỉnh ven biển và tứ giác Long Xuyên. Một
cách cụ thể, Bảng 1 trình bày qui mô và tỷ lệ diện tích của các tỉnh ĐBSCL bị
ngập theo kịch bản này. Có đến 31% tổng diện tích của ĐBSCL bị ngập, trong đó
các tỉnh bị ngập nhiều nhất là Bến tre (50,14%), Long An (49,42%), Trà Vinh
(45,72%), và Sóc Trăng (43,71%)… Một cách tương ứng, Bảng 2 cho thấy có đến
khoảng 4,8 triệu người, chiếm 26,7% tổng dân số của ĐBSCL bị ảnh hưởng bởi
nước biển dâng. Đặc biệt, có tới 89,7% số người nghèo bị ảnh hưởng. Sự tổn
thương đối với nhóm người này là rất lớn vì họ ít có khả năng ứng phó và phục hồi
trước các tác động của BĐKH.
Hình 2: Những vùng của Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập khi nước biển
dâng lên 1 m
Nguồn: ICEM. Rapid Assessment of the Extent and Impact of SLR in Vietnam. 2008
Bảng 1: Diện tích ở ĐBSCL bị ngập theo kịch bản nước biển dâng 1 m
Địa bàn
Diện tích
bị ngập
(km2)
% trong
tổng diện tích bị
ngập
% trong
tổng diện tích
của tỉnh
% trong
tổng diện tích
của Việt Nam*
Long An
2168,9
14,93
49,42
0,66
Kiên Giang
1756,8
12,09
28,22
0,53

4
Sóc Trăng
1424,6
9,81
43,71
0,43
Cà Mau
1182,8
8,14
22,75
0,36
Bến Tre
1131,4
7,79
50,14
0,34
Trà Vinh
1021,3
7,03
45,72
0,31
Bạc Liêu
961,9
6,62
38,87
0,29
Tiền Giang
783,2
5,39
32,68
0,24
Cần Thơ
757,7
5,22
24,75
0,23
Vĩnh Long
606,4
4,17
39,69
0,18
Đồng Tháp
389,4
2,68
11,53
0,12
An Giang
192,3
1,32
5,45
0,06
ĐBSCL
12376,7
85,19
31,00
3,76
Việt nam
14528,2
100,00
8,76
4,42
* 328,743 km2, dựa trên GIS theo biên giới của các tỉnh
Nguồn: ICEM. Rapid Assessment of the Extent and Impact of SLR in Vietnam. 2008
Bảng 2: Dân số ĐBSCL bị ảnh hưởng theo kịch bản nước biển dâng 1m
Địa bàn
Số người
bị ảnh
hưởng
(000)
Tổng dân
số của tỉnh
(000)
% trong
dân số
của tỉnh
bị ảnh
hưởng
% trong
tổng dân
số bị ảnh
hưởng
Số
người
nghèo
(000)
% trong
tổng số
người
nghèo bị
ảnh
hưởng
Long An
197
2373
8,3
3,4
51
3,1
Kiên Giang
384
858
44,8
6,5
111
6,7
Sóc Trăng
759
1390
54,6
12,9
245
14,8
Cà Mau
183
1206
15,2
3,1
70
4,2
Bến Tre
427
2046
20,8
7,3
119
7,2
Trà Vinh
222
1663
13,4
3,8
71
4,3
Bạc Liêu
296
1591
18,6
5,0
102
6,2
Tiền Giang
581
1488
39,1
9,9
199
12.0
Cần Thơ
458
1307
35.0
7,8
134
8,1
Vĩnh Long
497
1728
28,8
8,5
122
7,3
Đồng Tháp
418
1102
37,9
7,1
140
8,4
An Giang
364
1152
31,6
6,2
124
7,5
ĐBSCL
4787
17904
26,7
81,6
1486
89,7
Việt nam
5869
58401
10,0
100,0
1657
100,0
Nguồn: ICEM. Rapid Assessment of the Extent and Impact of SLR in Vietnam. 2008
3. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bảng 3 trình bày các thống kê mô tả đặc điểm chính của mẫu khảo sát. Trong tổng
số 898 người trả lời được đưa vào phân tích, có đến 62,1% là chủ hộ và 24,9% là

5
vợ hoặc chồng chủ hộ. Nam giới chiếm 73,2%, cao hơn nhiều so với nữ giới. Điều
này có thể được giải thích là do nam giới thường làm chủ hộ và thường đóng vai
trò đại diện cho hộ khi tiếp xúc với các cán bộ nghiên cứu. Phù hợp với giải thích
trên, nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất trong mẫu khảo sát là 45-59 tuổi, chiếm 43,2%.
Nhóm tuổi từ 60 trở lên chiếm khoảng 1/4 trong tổng số. Nhóm tuổi từ 35-44
chiếm tỷ lệ ít hơn một chút (22,9%). Nhóm tuổi từ 34 trở xuống chỉ chiếm 7,3%.
Cơ cấu tuổi này cho thấy đây là những người đã trưởng thành và thích hợp để
nhận thức những vấn đề liên quan đến bản thân và gia đình họ.
Do mẫu mang tính đại diện nên người Việt chiếm tỷ lệ đến 93,2%, trong khi nhóm
còn lại bao gồm người Hoa, Khmer, Chăm… chỉ chiếm 6,8%. Về học vấn, những
người có trình độ từ cấp 1 trở xuống chiếm đến 54%, tiếp đến là cấp 2 với 28,7%.
Số người có trình độ cấp 3 chỉ chiếm 15, 6% và đại học cao đẳng trở lên chiếm
chưa tới 2%. Phù hợp với mức độ đô thị hóa thấp ở ĐBSCL, 80% số người được
khảo sát cư trú ở các vùng nông thôn.
Tóm lại, các đặc điểm trên của mẫu nghiên cứu phản ảnh khá rõ nét những đặc
điểm chung của chủ hộ hoặc người đại diện chủ hộ của các hộ gia đình ở ĐBSCL
để trả lời những vấn đề mà cuộc nghiên cứu quan tâm.
Bảng 3: Thống kê mô tả đặc điểm chính của người trả lời
Người trả lời
Số người
Phần trăm
Giới tính
Nam
657
73,2%
Nữ
241
26,8%
Nhóm tuổi
34 tuổi trở xuống
66
7,3%
35 – 44 tuổi
206
22,9%
45 – 59 tuổi
388
43,2%
60 tuổi trở lên
238
26,5%
Dân tộc
Người Việt
837
93,2%
Dân tộc khác
61
6,8%
Học vấn
Cấp 1 trở xuống
471
54,0%
Cấp 2
250
28,7%
Cấp 3
134
15,4%
Đại học cao đẳng trở lên
17
1,9%
Nơi cư trú
Đô thị
180
20,0%
Nông thôn
718
80,0%

