
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN LÃNH ĐẠO HỌC VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
BÀI THU HOẠCH
MÔN: GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ
“BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
NGHỆ AN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
Họ và tên học viên: Phan Trọng Đông
Mã số học viên: AF211240
Lớp: A22
Khóa: K72
NGHỆ AN - 2021

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN LÃNH ĐẠO HỌC VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
BÀI THU HOẠCH
MÔN: GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ
“BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
NGHỆ AN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
Họ và tên học viên: Phan Trọng Đông
Mã số học viên: AF211240
Lớp: A22
Khóa: K72
NGHỆ AN - 2021

1
Phần một. Mở đầu
Bất bình đẳng giới hiện nay là một vấn đề ngày càng nhận được nhiều sự
quan tâm từ xã hội. Sự phát triển của xã hội khiến quan niệm về vấn đề bất bình
đẳng có nhiều thay đổi. Trong xã hội cũ, sự bất bình đẳng nam nữ dễ dàng được
chấp nhận, thậm chí những người phụ nữ phải chịu hậu quả từ sự bất bình đẳng
đó cũng không hề có ý thức về quyền lợi của mình. Bất bình đẳng giới đã gây
ra không ít các hậu quả xã hội, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Vì vậy, trong
xã hội hiện đại, vấn đề bất bình đẳng giới được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
với mục đích giảm thiểu sự bất bình đẳng giới, tìm cách tạo ra môi trường thuận
lợi để phát triển năng lực của cả hai giới để phục vụ cho xã hội. Ngày nay, các
phong trào đòi bình đẳng giới ngày càng gia tăng, những định kiến và khuôn
mẫu giới cũng đã có nhiều sự thay đổi.
Trong những năm qua, mặc dù chúng ta đã đạt được những thành công
đáng kể về chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghề nghiệp của phụ
nữ, nhưng vẫn còn một khoảng cách lớn về bình đẳng. Xuất phát từ thực tiễn
đó, việc nghiên cứu thực trạng bình đẳng giới trong xã hội và tìm kiếm các giải
pháp nhằm từng bước tăng cường hơn nữa vị thế bình đẳng cho các giới trong
bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay là hết sức cần thiết.
Mỗi cá nhân cần tìm hiểu và trang bị cho mình những kiến thức cơ bản
về vấn đề này để có cái nhìn khách quan và hiểu được trách nhiệm của mình
trong việc góp phần làm giảm bất bình đẳng giới trong xã hội. Với lí do đó, tác
giả xin trình bày vấn đề “Bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An thực trạng
và giải pháp” làm bài thu hoạch môn Giới trong lãnh đạo, quản lý của Lớp cao
cấp lý luận chính trị.
Thông qua đề tài, tác giả muốn góp phần làm rõ vai trò, trách nhiệm của
các đối tượng tham gia thực hiện công tác bình đẳng giới, đồng thời cũng nâng
cao nhận thức đối với bình đẳng gới trong xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Bài viết chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý
của quý thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn!

2
Phần hai. NỘI DUNG
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1. Giới và giới tính
Giới và giới tính là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau. Sự phân
biệt khái niệm “giới” và “giới tính” được quy định tại Điều 5 Luật Bình đẳng
giới năm 2006 như sau:
“1. Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối
quan hệ xã hội.
2. Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”.
Như vậy, khái niệm “giới” và “giới tính” giúp phân biệt đặc điểm của nữ
giới và nam giới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó. Sự
khác nhau giữa “giới” và “giới tính” được thể hiện cụ thể qua các nội dung sau:
- “Giới tính” là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện
sinh học, có sẵn từ khi sinh ra. Còn “giới” đề cập đến vị trí, vai trò của nam và
nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng.
“Giới tính” mang tính ổn định cao và bị quy định bởi quy luật sinh học.
Còn “giới” được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi
còn nhỏ đến lúc trưởng thành.
- Đặc điểm giới tính mang tính đồng nhất (ở mọi nơi trên thế giới đều
giống nhau) và khó thay đổi thì các đặc điểm giới lại rất đa dạng, phong phú và
có thể thay đổi ở từng quốc gia, dân tộc dưới sự tác động của các yếu tố xã hội
[1, p. 11].
1.2. Định kiến giới
Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 ghi rõ: “Định kiến giới là nhận
thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng
lực của nam hoặc nữ”. Nói cách khác, đây là những suy nghĩ phổ biến của cộng
đồng xã hội về khả năng và công việc của nữ giới và nam giới, tức là những gì
nữ giới và nam giới có thể làm, cần làm và nên làm [1, p. 13].
1.3. Vai trò giới

3
Vai trò giới là tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà nam giới và
nữ giới học được và thể hiện trong thực tế, dựa trên mong đợi từ phía xã hội đối
với họ.
Các vai trò giới là đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo
thời gian (tương ứng với sự thay đổi của điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi
theo sự thay đổi của quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc
không chấp nhận một hành vi ứng xử vai trò nào đó) [1, p. 15].
1.4. Phân biệt đối xử theo giới
Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 của Việt Nam ghi rõ: Phân biệt đối
xử về giới là việc hạn chê, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai
trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội và gia đình [1, pp. 19-20].
1.5. Bình đẳng giới
Bình đẳng giới là tình trạng không có sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới
tính (về quyền, trách nhiệm và cơ hội). Nhờ vậy, nữ giới và nam giới được tôn
trọng ngang nhau, được tiếp cận các nguồn lực như nhau, được thụ hưởng thành
quả như nhau, có cơ hội và điều kiện như nhau để nhận biết được các quyền
con người của mình và khả năng đóng góp của bản thân vào sự phát triển kinh
tế, văn hóa, chính trị và xã hội của đất nước [1, pp. 22-24].
2. BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
2.1. Thực trạng bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Tại Nghệ An, sau 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
giai đoạn 2011 – 2020, kết quả lồng ghép giới vào các lĩnh vực đời sống kinh
tế, chính trị và xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Nhận thức về giới và bình
đẳng giới của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, từ người lao động đến các nhà
lãnh đạo, quản lý đã được nâng cao.
Công tác phối hợp liên ngành thực hiện Chiến lược ngày càng chặt chẽ,
thống nhất và đồng bộ, hiệu quả. Tỉnh đã hình thành được bộ máy tổ chức làm

