
Cá Mè Vinh (Trà Vinh)
Cá Mè vinh là một loài cá thực phẩm khá phổ biến tại các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long. Cá cũng phân bố tại lưu vực sông chao Phraya (Thái
Lan), Bán đảo Mã lai, Sumatra và Java. Cá có thể sống tại các vùng hạ lưu
sông lớn, nhánh sông nhỏ, ao mương, nơi có độ muối thấp, hồ, và có lẽ thích
ứng với các nơi nước tù đọng.
Mè vinh tuy là một loài cá 'di chuyển' nhưng chúng không đi quá xa.
Cá di chuyển tại địa phương, theo mùa mưa và nước nổi để từ hạ lưu sông
Cửu long ngược đền các sông nhánh, kinh mương và những vùng bị nước
lụt. Cá trở về chốn cũ khi mùa nước rút. Một số nghiên cứu ghi nhận sự di
chuyển của cá bắt đầu ngay từ ngày có những cơn mưa đầu mùa hay khi
mực nước bắt đầu dâng lên.
Cá hiện đang được khai thác tại nhiều quốc gia Đông Nam Á dưới
dạng cá nuôi trong cáo ao, hồ nhân tạo để làm thực phẩm và một số ít được
xuất qua các quốc gia Âu Mỹ để làm cá cảnh nuôi trong bồn kiếng, tuy
không được ưa chuộng lắm vì màu sắc kém rực rỡ.

Về phương diện sinh học, cá Mè vinh được nuôi để lấy tuyến thùy
(pituitary) dùng trong công nghiệp nuôi cá.
Ngoài ra, Mè vinh còn được thả vào các hồ chưa nước, đập thủy điện
để giúp kiểm soát sự phát triển của các thực vật, cỏ..
Theo FAO, tổng sản lượng cá đánh bắt trong thiên nhiên trên thế giới
trong năm 2005 vào khoảng 60 ngàn tấn và khoảng 100 ngàn tấn cá khác
đánh bắt là do nuôi trong các môi trường nhân tạo.
Tên khoa học và các tên khác:
Barbonymus gonionotus (Puntius gonionotus) thuộc họ Cá Cyprinidae
Tên Anh-Mỹ : Java Barb, Javanese barb, Puntius carp, Silver Barb,
Thai Silver carp. Pháp : Barbeau argenté, Barbeau de Java ; Tây Ban Nha :
Barbo plateado.
Thái lan: Pla tapien khao ; Kampuchea: Trey chpin ; Lào: Pa pak
(Tên Lào Pa pak : Pak = miệng ; Pa-pak = Cá miệng, tuy cá có miệng,
lớn bình thường, nhưng nếu dùng ngón trỏ đưa vào để móc miệng cá thì
miệng cá phù ra rất đặc biệt..)
Đặc tính sinh học:

Cá Mè vinh thuộc loại cá cỡ nhỏ, chiều dài tối đa chừng 35 cm ( Cá
kỷ lục bắt được trong hồ Dan Tchang, Thái Lan ngày 8 tháng 7 năm 2003 có
chiều dài toàn thân 45 cm, nặng 2.1 kg); cá khai thác trung bình từ 12-20
cm. Cá có thân rộng bề ngang, lưng nhô tạo thành một điểm cao là nơi vây
lưng bắt đầu. Vây bụng có 8 tia, vây hậu môn dài. Thân cá màu bạc, lưng
xậm hơn. Miệng không có nắp. Cá trưởng thành và phát dục khi được 1
năm, bắt đầu đẻ trứng. Cá đẻ trong các tháng 5-7, nơi nước lưu thông. Cá ăn
thực vật thủy sinh như hydrilla, lá cây, các sinh vật nhỏ trong nước.
Trong các ao-hồ nuôi, cá lớn nhanh, nuôi sau 1 năm trọng lượng cá có
thể lên đến 1 kg. Cá được dục đẻ bằng cách gây 'mưa nhân tạo'. Trứng thụ
tinh sau 2-3 ngày, và nở thành cá bột. Sau 1 tháng ương trong hồ nuôi, cá
tăng trưởng dài 2-3 cm.
Cá Mè vinh dùng làm thực phẩm:
Cá Mè vinh có thịt thơm ngon, có thể khai thác quanh năm dưới dạng
cá tươi. Tuy nhiên cá có rất nhiều xương nhỏ, nên thường được dùng dưới
dạng chiên dòn hay nghiền nát thành chả quết (như Thát lát)
Tại Thái Lan và Lào, Mè vinh được dùng làm món 'Lap pa' và 'Som
pa'

Lap pa (fish tartare), tương tự như món chà cá quết tại Việt Nam , cá
được lóc hay cào lất thịt, bỏ xương và nghiền thật nhuyễn rồi trộn thêm các
phụ gia khác (tại Lào: có thêm gạo rang đã nghiền thành bột như bột thính
tại VN, tiêu, hành, riềng, v.v..)
Som pa (Pickled fish), cá ngâm nước muối.
Thành phần dinh dưỡng:
Thành phần dinh dưỡng của Cá Mè vinh, gần như tương đương với cá
Thát lát (xin đọc bài Thát lát).
Viện Nghiên cứu Các loại cá nuôi nhiệt đới tại Malacca, Mã lai đã so
sánh thành phần dinh dưỡng của 3 loại cá: Trám cỏ, Mè vinh và Rô phi. Kết
quả ghi nhận: phần thịt của cá (bỏ nội tạng), sấy khô
Chất đạm: từ 57.36 - 75.92 %
Chất béo: từ 4.48 - 31.84 %
Tro: 10.68 - 22.88 %
Cá rô phi có nhiều chất béo hơn là Mè vinh , Trám cỏ (nạc nhất)
nhưng ngược lại Trám cỏ có nhiều chất đạm hơn và Mè vinh lại chứa nghiều

khoáng chất. Cách thức nuôi và thành phần thức ăn của cá cũng tương đối
ảnh hưởng đến thành phần dinh dưỡng trong cá.
Mè vinh được xem là bổ dưỡng hơn trám cỏ và rô phi (Hydrobiologia
Số 37-1971)
Ghi chú:
Một loài cá rất tương cận chỉ hơi khác biệt về màu sắc, thường gặp tại
những nơi có cá Mè vinh là cá He vàng (Puntius altus)
Cá He vàng phân bố rộng tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu long, trong
các kinh mương, ao hồ. He vàng thuộc loại cá cỡ nhỏ, dài tối đa chừng 30
cm, cá khai thác thương mãi trung bình 12-15 cm, nặng 150-200 gram. Cá
lớn chậm, năm đầu tăng trưởng đạt 12 cm, năm thứ hai từ 16-18 cm. Thân cá
màu bạc, vây lưng màu đen, vây lưng màu vàng và các vây khác màu vàng-
đỏ.
Cá he vàng là một trong những cá rất được ưa chuộng tại Việt Nam,
cá được nuôi trong các bè nổi..Món ăn thông thường là chiên dòn..
Ngoài ra, trong chi Puntius còn có một số loài khác như:
Puntius waandersi = Cá dảnh

