TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 613
CÁC CHIẾN LƯỢC TỰ ĐIỀU CHỈNH KHI HỌC KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH
TRONG MÔI TRƯỜNG HỌC KẾT HỢP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ 2
NGÀNH NGÔN NGỮ ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
SELF-REGULATION STRATEGIES WHEN LEARNING ENGLISH SPEAKING
SKILLS IN A BLENDED LEARNING ENVIRONMENT OF 2ND YEAR ENGLISH
LANGUAGE STUDENTS AT HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY
Ngô Ngọc Vân Anh1,*, Nguyễn Mai Tuyết Anh1, Đỗ Thị Ánh1,
Nguyễn Thị Hồng Ánh1, Phạm Đức Hải1, Bùi Thị Thu Giang2
1Lớp NNAN 02 – K17, Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: ngongocvanh040323@gmail.com
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng áp dụng các chiến lược học tự điều chỉnh (SRL) khi học kỹ năng nói
tiếng Anh trong môi trường học kết hợp (BL) của sinh viên (SV) năm th2 ngành Ngôn ngữ Anh tại Trường Đại học
Công nghiệp Hà Nội, từ đó đưa ra những giải pháp tương ứng với thực trạng để giúp sinh viên phát triển các chiến lược
học tự điều chỉnh kỹ năng nói tiếng Anh của bản thân trong môi trường học kết hợp một cách hiệu quả.
Từ khóa: Thực trạng, chiến lược học tự điều chỉnh, kỹ năng nói tiếng Anh, môi trường học kết hợp, giải pháp, Ngôn
ngữ Anh
ABSTRACT
The study aims to investigate the current application of self-regulated learning (SRL) strategies in speaking English
skills within a blended learning (BL) environment by second-year students majoring in English Language at Hanoi
University of Industry. From this, it proposes corresponding solutions to the current situation to help students develop their
self-regulated learning strategies for speaking English effectively in a blended learning environment.
Keywords: Current status, self-regulated learning strategies, English speaking skills, blended learning environment,
solutions, English Language
1. GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, với xu hướng phát triển
hội nhập quốc tế ngày một rệt của Việt Nam cũng như
nhiều quốc gia khác trên thế giới, việc học ngoại ngữ đã tr
thành một hành trình không thể thiếu và mang lại nhiều giá
trị quan trọng cho con người. Điều này không chỉ tạo hội
giao tiếp tiếp thu các văn hóa mới, còn đem lại những
lợi ích đáng kể về mặt cá nhân và chuyên môn. Đồng thời,
khi thời đại công nghệ số lên ngôi như hiện nay, việc tự học
ngoại ngữ đã trở nên phổ biến hơn, nhất là tiếng Anh - một
ngôn ngữ toàn cầu, luôn đòi hỏi chúng ta phải chủ động
khám phá, tìm tòi học tập. Với sự phát triển của công
nghệ, học tiếng Anh không chỉ còn việc ngồi trong lớp
học, lắng nghe giảng viên ghi chép bây giờ người học
đã có thể dễ dàng tiếp cận với nguồn tài liệu phong phú trên
không gian mạng, như video bài giảng, bài viết, sách điện
tử và các khóa học trực tuyến. Các hình thức học tập cũng
dần sự thay đổi, nhiều hình thức học tập mới ra đời để
phát huy thế mạnh của Internet công nghtrong việc học
tập, trong đó hình thức học tập kết hợp trong đào tạo
ngôn ngữ.
Tuy nhiên, khám phá và tìm hiểu chỉ là một phần trong
quá trình học tiếng Anh nó đòi hỏi sự kiên nhẫn, sự đầu
tư thời gian và nỗ lực từ phía người học, đặc biệt khi học
kỹ năng nói tiếng Anh. vậy, Trường Đại học Công
nghiệp Nội đã áp dụng hình học kết hợp giữa việc
học trực tiếp trên lớp trực tuyến trên nền tảng LMS
(EOP) của nhà trường để nhằm cải thiện khả năng giao tiếp
ngoại ngữ (trong đó có tiếng Anh) của SV, tối ưu hóa thời
gian học tập trực tuyến trực tiếp. Chính vậy, các chiến
lược SRL khi học kỹ năng nói tiếng Anh trong môi trường
BL đóng một vai trò quan trọng, nền tảng để sinh viên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 614nắm vững kiến thức rèn luyện kỹ năng nói một cách hiệu
quả, đặc biệt với sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh tại
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Thông qua sát ban đầu về việc tự học kỹ năng nói tiếng
Anh trong môi trường BL của sinh viên ngành Ngôn ng
Anh năm th2, Khóa 17, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy
một số bất cập trong việc SRL của sinh viên, đặc biệt ngoài
giờ học trên lớp. Chính vậy, việc hiểu thực trạng sử
dụng c chiến lược SRL khi học kỹ năng nói tiếng Anh của
sinh viên trong môi trường BL để đưa ra những đề xuất khắc
phục là điều vô cùng cần thiết. Thêm vào đó những nghiên
cứu trước đây chủ yếu tập trung nghiên cứu về việc dạy và
học kỹ năng nói tiếng Anh, học kỹ năng nói tiếng Anh trong
môi trường BL, hay SRL trong môi trường BL hơn
nghiên cứu về thực trạng áp dụng chiến lược SRL khi học
kỹ năng nói tiếng Anh trong một môi trường cụ thể.
[30] cho rằng: SRL là qtrình tự suy nghĩ, lập kế hoạch,
hành động áp dụng theo chu kỳ đđạt mục tiêu học tập.
[9] tđiều chỉnh khng động lực của mỗi cá nhân đ
thực hiện, giám sát đánh giá c chiến lược khác nhau
nhằm tạo điều kiện cho sphát triển kiến thức. Trong khi đó
[19] cho rằng: SRL thể hiện ở nhận thức về tư duy, sử dụng
chiến lược động lực bền vững. Nhận thức về tư duy hay
nhận thức siêu nhận thức đcập đến việc suy nghĩ về duy
hoặc nhận thức tđộng của người học vkiến thức của chính
nh. Ngoài ra, tác gi[7] u ra đặc điểm của SRL SV
thể chủ động điều chỉnh nhận thức, động cơ, hoặc nh vi
thông qua c quy trình quản khác nhau này, họ đạt
được mục tu và hoạt động tốt hơn.
2. CÁC CHIẾN LƯỢC HỌC TẬP TỰ ĐIỀU CHỈNH
Zimmerman - một trong những nhà nghiên cứu tiên
phong về SRL đã xây dựng phát triển 3 hình trong
quá trình nghiên cứu, bao gồm: “Phân tích Bộ ba của SRL”
[28] “Các giai đoạn theo chu của SRL”; “mô hình Đa
cấp” [2000].
Tác giả [24] trong nghiên cứu về “Thái độ đối với việc
học tiếng Anh sử dụng chiến lược SRL trong số SV
không chuyên ngành tiếng Anh” đã đưa ra 15 chiến lược
SRL bao gồm: 1. Tự đánh giá; 2. Tổ chức và điều chỉnh; 3.
Đặt mục tiêu lập kế hoạch; 4. Tìm kiếm thông tin; 5. Ghi
chép theo dõi; 6. Tổ chức môi trường học; 7. Tự xác định
hậu quả; 8. Luyện tập và ghi nhớ; 9. Tìm kiếm sự trợ giúp
xã hội; 10. Xem lại bài, tài liệu học; 11. Khác.
2.1. Kỹ năng nói tiếng Anh
Theo [18] “Nói là một kỹ năng hiệu quả, bao gồm việc
tạo ra những lời nói hệ thống truyền đạt được ý nghĩa.
Nói một cách chúng ta thể hiện hoặc trao đổi suy nghĩ,
cảm xúc thông qua việc sử dụng ngôn ngữ”. Nghiên cứu
của nhóm tác giả [12] cho rằng: Nói một hành động tạo
ra âm thanh để nhằm mục đích chuyển tải biểu đạt ý tưởng
và cảm xúc của mình thông qua việc sử dụng ngôn ngữ nói
và các yếu tố phi ngôn ngữ. Về mặtthuyết, nói đó là một
hoạt động trí óc, một quá trình tâm người nói đặt
một khái niệm tinh thần vào một hình thức ngôn ngữ nào
đó như từ, cụm từ câu được sử dụng để truyền tải một
thông điệp đến người nghe. Trong nghiên cứu của [2]
viết, nói một năng lực quan trọng SV cần nắm vững
khi học ngôn ngữ , khả năng nói thể đo lường sự thành
công của việc học ngôn ngữ.
2.2. Các phương pháp học kỹ năng nói tiếng Anh
Theo tác giả [15] có thể xác định các phương pháp tiếp
cận sau đây nền tảng phương pháp chính đằng sau các
khóa học ngôn ngữ ưu tiên việc nói:
Giảng dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ
Tiếp cận tình huống
Tiếp cận hành động ngôn ng
Tiếp cận kỹ năng và chiến lược
Tiếp cận dựa trên thể loại
Tiếp cận thông tin từ ngữ liệu
Môi trường lớp học ưu tiên việc giao tiếp. Tác giả [16]
cho rằng phương pháp giảng dạy ngôn ngữ giao tiếp dựa
trên các tình huống thực tế yêu cầu sự giao tiếp phục vụ tốt
nhất cho việc cải thiện kỹ năng giao tiếp của SV.
Theo [22] trong nghiên cứu về các chiến lược của GV
trong việc giảng dạy kỹ năng nói cho SV trung học cơ s
chỉ ra các chiến lược được sử dụng trong việc giảng dạy kỹ
năng nói được đề xuất bởi một số chuyên gia bao gồm các
hoạt động như sau:
Đóng vai - Role Play
Trò chơi ngôn ngữ - Language Games
Tập luyện - Drilling
Miêu tả hình ảnh - Picture Describing
Kể chuyện - Storytelling
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc học kỹ năng nói
[3] cho rằng, một số yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói
của người học lần lượt là: đầu tiên khả năng chịu đựng
của người học. Thứ hai thiếu động lực, thiếu động lực
hoặc động lực thấp. Thứ ba là thiếu chủ đề. Thứ tư là thiếu
vốn từ vựng; thứ năm, thiếu tự tin; thứ sáu, kỹ năng nghe bị
yếu kém dẫn đến việc phát âm sai. Thứ bảy, giao tiếp phi
ngôn ngữ kém dẫn đến việc diễn đạt không được trọn vẹn
và một vài yếu tố khác. Trong nghiên cứu [7] đã đề cập một
số yếu tố ảnh hưởng đến việc học kỹ năng nói. Noels (2000)
trình bày năm cơ sở của động lực học ngôn ngữ theo thứ tự
từ động lực n trong ra bên ngoài: 1. Ngoại động lực; 2.
Động cơ khách quan; 3. Động cơ chủ quan; 4. Mong muốn
xác định; 5. Nội động lực.
Trong nghiên cứu của [5] c giả chứng minh rằng
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nói của SV như sau:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 615kiến thức chuyên đề; động lực để nói; phản hồi của GV
trong hoạt động nói; sự tự tin; áp lực phải thực hiện tốt
thời gian chuẩn bị.
2.4. Phương pháp học kết hợp
Theo những nghiên cứu về phương pháp học kết hợp thì
“học kết hợp” (Blended learning, sau đây gọi tắt BL)
được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi một số tác
giả. Theo [10], BL sự tích hợp suy nghĩ giữa trải
nghiệm học tập trực tiếp trong lớp trải nghiệm học tập
trực tuyến.
Theo nhóm tác gi[7] đã đề cập đến ba phương pháp
trong nghiên cứu về “BL trong giáo dục người lớn: hướng
tới định nghĩa về BL” đó chính là: (a) BL là sự kết hợp của
các phương pháp hướng dẫn khác nhau, (b) BL sự kết
hợp của các phương thức hoặc phương tiện truyền tải khác
nhau, hoặc (c) BL sự kết hợp giữa hướng dẫn trực tiếp
hướng dẫn qua máy tính.
Như vậy, có thể kết luận rằng BL việc tích hợp học
trực tiếp với trực tuyến có sự hỗ trợ của công nghệ.
Nhóm tác giả [6], [7] đã nhấn mạnh rằng “BL hỗ trợ tất
cả các lợi ích của học trực tuyến, bao gồm giảm chi phí, tiết
kiệm thời gian thuận tiện về địa điểm cho người học,
cũng như shiểu biết động lực nhân một cách trực
tiếp mà hướng dẫn trực tiếp mang lại”.
Theo nghiên cứu về “Hướng tới một thuyết thiết kế
về chương trình BL.” của nhóm tác giả [13] đã chỉ ra ba đặc
điểm là: 1/ Tính linh hoạt trong việc cung cấp tài nguyên
học tập, 2/ Hỗ trợ đa dạng hoá học tập và 3/ Làm giàu trải
nghiệm học tập trực tuyến tại trường.
- Các mô hình học kết hợp
Theo phân loại về BL của [10] trong nghiên cứu về "Mô
hình học kết hợp trong Giáo dục Đại học Khả năng Áp
dụng trong Đào tạo Kinh tế tại Đại học Mỏ và Địa chất Hà
Nội" của [8] cho thấy có 6 mô hình tổng quát dựa trên đặc
điểm của người học trong lớp học: hình Face-To-Face
Driver; hình Rotation; hình Flex; hình Lab
School; Mô hình Self-blended; Mô hình Online Driver.
- Các nguyên tắc học kết hợp
Tác giả [25] chỉ ra sở thuyết đề xuất những
nguyên tắc phù hợp trong thiết kế khóa học theo hình
này đại học với mục đích tối ưu hóa các lợi thế mô
hình BL mang lại. Sáu nguyên tắc bản họ đề xuất như
sau: (1) Tập trung vào việc đạt được mục tiêu khóa học; (2)
Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập; (3) Các hoạt động trên lớp
trực tuyến bổ trợ cho nhau tăng tương tác trên lớp học;
(4) Thiết kế tài liệu học tập phù hợp với hình thức trực
tuyến; (5) Cung cấp công cụ cách thức tự đánh giá cho
người học; (6) Chú trọng hỗ trợ GV và người học, đặc biệt
là về kỹ thuật, công nghệ. Cách kết hợp đúng giữa dạy học
trực tiếp trực tuyến phải giúp tạo ra môi trường học
tập hiệu quả cho người học.
Nghiên cứu của tác giả [1] về việc thực hành và nguyên
tắc của môi trường BL trong giáo dục học tiếng Anh như
ngôn ngữ thhai (English as a Second Language - ESL),
hay giáo dục học tiếng Anh như một ngoại ngữ (English as
a Foreign Language - EFL) cho thấy những điều kiện cấp
thiết khi sử dụng lớp BL. Trước hết tổ chức các khóa đào
tạo GV (CELTA, TESOL, DELTA), các chương trình định
hướng, các khóa bồi ỡng tập trung vào cách kết hợp khóa
học sdụng công nghệ trong lớp học trước khi triển khai
dạy học trực tuyến hoặc BL trong các trường học, lớp học.
Thứ hai, đồng bộ hóa công nghệ nền tảng sẽ được sử
dụng. Thứ ba, hướng dẫn rõ ràng về mô-đun khóa học cho
phép GV và SV biết khi nào và làm thế nào các thành phần
được chuyển sang trực tuyến và trực tiếp. Thứ tư, sự hỗ tr
của nhà trường trong việc triển khai các kỹ thuật chiến
lược mới của BL. cuối cùng, yếu tố then chốt đối với
GV SV phải động lực trong suốt khóa học. Động
lực sẽ đến dần dần khi các bên liên quan tích cực và ủng hộ
trong bối cảnh ESL EFL nhằm nâng cao được chất lượng
dạy và học trực tuyến môn tiếng Anh chuyên ngành Cơ khí
hiệu quả hơn.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thu thập dữ liệu đánh giá, nhóm nghiên cứu đã tiến
hành thu thập dữ liệu qua bảng câu hỏi khảo sát, được thiết
kế dựa trên tiện ích Google Form. Cấu trúc bảng câu hỏi
khảo sát gồm 4 phần: Phần 1(gồm 10 câu hỏi) tìm hiểu thực
trạng hành vi học tập tự điều chỉnh của SV trong môi trường
BL; Phần 2 (gồm 7 câu hỏi) tập trung vào những động lực
sự tích cực của các bạn SV trong việc thực hành học phần
kỹ năng nói tiếng Anh môi trường BL; Phần 3 (gồm 3 câu
hỏi) tập trung tìm hiểu quan điểm, nhận thức của SV về các
vấn đề liên quan đến kỹ năng nói tiếng Anh của bản thân;
Phần 4: Thông tin nhân của SV. Bảng câu hỏi khảo sát
được xây dựng dựa trên tham khảo nghiên cứu của [20],
đồng thời điều chỉnh sao cho phù hợp với nội dung bối
cảnh của nghiên cứu tại thời điểm hiện tại.
- Phỏng vấn
Nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn SV theo hình
thức trực tuyến, qua nền tảng Google Meet với hình thức
phỏng vấn bán cấu trúc và được ghi âm phục vụ việc phân
tích dữ liệu.
Với việc phỏng vấn SV, các thành viên trong nhóm
nghiên cứu đã liên hệ trực tiếp với các SV đồng ý tham gia
vào vòng phỏng vấn sau khi thực hiện khảo sát đểc nhận
tham gia phỏng vấn. Việc phỏng vấn được thực hiện với 15
SV, chia thành 10 nhóm gồm 1 đến 3 SV. Thời lượng cho
một ca phỏng vấn từ 45 - 60 phút. Nội dung phỏng vấn
SV xoay quanh 3 vấn đề: 1. Các hành vi học tập tự điều
chỉnh khi học phần kỹ năng nói tiếng Anh 3 trong môi
trường học kết hợp; 2. Động lực sự tích cực trong q
trình học học phần kỹ năng nói tiếng Anh 3; 3. Nhận thức
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 616siêu tâm thức liên quan đến việc học kỹ năng nói trong học
phần kỹ năng nói tiếng Anh 3.
- Phương pháp thu thập dữ liệu
Bảng câu hỏi khảo sát được gửi trực tuyến đthu thập
dữ liệu cho 174 SV ngành Ngôn ngữ Anh năm thứ 2.
Nhóm nghiên cứu đã thu được 122 phiếu hợp lệ đphân
tích. Sau khảo t, nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn
15 SV đã đlại thông tin liên lạc đồng ý tham gia vào
vòng phỏng vấn.
- Phương pháp phân tích dữ liệu
Dữ liệu khảo sát được nhóm sử dụng phần mềm trang
tính Excel để xử lý thành dạng số liệu theo tỷ lệ phần trăm,
giá trị trung bình và được trình bày theo hình thức biểu đồ
hoặc bảng thống kê nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tìm ra kết quả, trả lời cho câu hỏi nghiên cứu. Dữ
liệu phỏng vấn SV được nhóm nghiên cứu ghi âm, ghi chép
lại toàn bộ, tìm ra những đặc điểm chung nổi bật trong các
câu trlời, sau đó kết hợp cùng số liệu cụ thể thu thập t
khảo sát để đưa ra kết luận.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thực trạng việc sử dụng các chiến lược học tự điều
chỉnh trong quá trình học học phần kỹ năng nói tiếng
Anh trong môi trường học kết hợp của sinh viên năm
thứ 2 ngành Ngôn ngữ Anh, Trường Đại học Công
nghiệp Hà Nội
- Hành vi học tập tự điều chỉnh
Biểu đồ1. Kết quả khảo sát về thực trạng hành vi học tập tự điều
chỉnh (câu hỏi 1, 2, 3)
Kết quả đánh giá chung của SV về 3 câu hỏi đầu tiên
thông qua khảo sát và phỏng vấn cụ thể như sau:
- Việc đặt mục tiêu học tập cụ thể trong quá trình học
tập học phần
Theo kết quả nghiên cứu có thể thấy SV đã ý thức về
việc đặt mục tiêu cho học phần để phát triển khả năng nói
của mình. Trong phần khảo sát, phần lớn SV (68, 04%) cho
biết họ thường xuyên đặt ra những mục đích học tập cải
thiện kỹ năng nói tiếng Anh vì thấy rất hữu ích. Cùng đó
kết quả phỏng vấn cũng đã chứng minh việc “vạch mục
tiêu học tập” là yếu tố quan trọng để nói tiếng Anh tốt hơn
khi có tới 11/15 SV (73%) trả lời như trên đối với câu hỏi
này. Tuy nhiên, những định hướng học tập của SV u ra
đều chỉ chung chung như việc đạt điểm số cao, hay tiếp thu
thêm kiến thức từ mọi người xung quanh và thầy cô. Điều
này chứng minh hầu như c SV vẫn mông lung chưa
thể xác định được cụ thể mục tiêu chi tiết về các khía cạnh
như việc phát âm, độ trôi chảy, vốn từ vựng,… trong học
phần kỹ năng nói tiếng Anh mà SV muốn đạt được là như
thế nào.
- Tần suất làm việc nhóm với những thành viên khác
trong lớp
Trong kết quả của phần khảo sát, câu hỏi này đã nhận về
54,1% số lượng SV cho rằng họ thường xuyên, thậm chí là
luôn luôn cố gắng làm việc với những SV khác trong lớp để
hoàn thành các bài tập nhiệm vụ trong học phần. Tuy
nhiên, đồng thời với đó cũng là gần nửa SV được khảo sát
(45.9%) cho biết chỉ làm việc với thành viên khác ở mức độ
vừa phải, thi thoảng, hoặc không đáng kể. Điều này sự
khác biệt không đáng kể so với kết quả phỏng vấn cùng
câu hỏi, khi có tới 60% SV (9/15) làm việc nhóm vì mong
muốn bản thân, 40% số lượng còn lại (6/15) là không thích
làm việc nhóm do sợ làm việc với người lạ nhiều bất cập
làm việc nhóm theo yêu cầu: “Việc này sẽ tùy theo đối
tượng SV mà mình hợp tác,dụ như họ giỏi hơn thì mình
thể học hỏi, tự tin hơn, tiến bộ hơn. Còn kém hơn mình
thì bản thân thay học hỏi tiến bộ sẽ luôn dậm chân tại
chỗ” (SV1). sự không giống nhau trong quan điểm
nhân đối với việc làm việc nhóm thụ động hay chủ động,
nhưng 80% SV (12/15) tham gia phỏng vấn không thể phủ
nhận rằng làm việc nhóm có ảnh hưởng tích cực tới sự tiến
bộ trong khả năng nói tiếng Anh của họ vì họ có thể hỗ trợ
lẫn nhau về kiến thức, kinh nghiệm tăng khả năng giao
tiếp. Tóm lại, SV dù muốn hay không vẫn nhận ra việc nói
tiếng Anh sẽ dễ dàng hơn khi họ thể phối hợp với những
ý kiến khác nhau từ người xung quanh.
- Việc thay đổi cách học nhằm phù hợp với yêu cầu
học phần và phong cách giảng dạy của GV
Qua câu hỏi này nhóm nghiên cứu đã rút ra được sự khác
biệt trong phản ứng cá nhân hành động thực tế của SV.
Khi được khảo sát, (53,28%) SV lựa chọn từ thường
xuyên tới luôn luôn thay đổi cách học để phù hợp với yêu
cầu của học phần và phong cách giảng dạy của GV, và khi
được trực tiếp trả lời phỏng vấn thì có tới 86% SV (13/15)
nói rằng chính sự nhiệt tình và tâm huyết của GV học phần
này đã làm thay đổi phong cách học tập của họ. Dựa trên
kết quả của phần khảo sát phỏng vấn, thể thấy rằng
ngoại động lực đã giúp SV sẵn sàng tìm tòithay đổi thói
quen học tập để giúp họ thể trau dồi học phần dễ ng
hơn. Bên cạnh đó, SV còn được phỏng vấn về vấn đề họ
thích nghi ra sao với yêu cầu học phần và cách dạy của GV,
31% số lượng SV (4/13) nói rằng họ “dễ dàng thích
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 617nghi tốt không gặp khó khăn nào với vấn đề trên"; ngược
lại, 69% của số lượng 13 SV lại cho biết họ "gặp khó khăn
nhiều khía cạnh khác nhau trong yêu cầu học phần việc
điều chỉnh thói quen học”. Điều này thể hiện còn khá nhiều
SV gặp khó khăn trong việc tìm ra cách học phù hợp để đáp
ứng các nhu cầu kiến thức trong học phần.
Biểu đồ 2. Kết quả khảo sát về thực trạng hành vi học tập tự điều
chỉnh (câu hỏi 4, 5, 6, 7)
- Thái độ khi gặp bài tập khó
Khi được khảo sát, 46,75% SV lựa chọn mức độ chưa
bao giờ, hiếm khi thi thoảng bỏ qua các bài tập khó,
nhưng ngược lại, khi trực tiếp trả lời phỏng vấn thì có hơn
50% SV lựa chọn cách bỏ cuộc khi gặp những bài tập khó
với nhiều nguyên nhân như lười, bí ý tưởng,.. Dựa trên kết
quả của 2 hình thức ý kiến trên, thể thấy rằng mặc dù SV
đã có ý thức hoàn thành các bài tập khó nhưng trên thực tế
khi gặp các bài khó thì SV lại lựa chọn cách bỏ qua và chỉ
làm các phần dễ. Ngoài ra, SV cũng được hỏi về cách giải
quyết các bài tập khó thì hơn 30% SV trả lời rằng họ sẽ sử
dụng các công cụ tìm kiếm như Chat GPT hay Google
30% SV khác lựa chọn cách hỏi thầy cô hoặc tham khảo ý
tưởng từ các bạn SV khác. Và phần lớn SV đều trả lời rằng
họ sẽ cố gắng hoàn thành c bài tập khó nếu người hỗ
trợ. Điều này thể hiện rằng hầu hết SV đã ý thức hoàn
thành các bài tập khó nhưng một số nguyên nhân chủ
quan nên SV vẫn chưa thực sự hoàn thành các bài tập khó.
- Việc hoàn thành các nhiệm vụ và bài tập hàng tuần
trong học phần
Từ kết quả khảo sát 54,1% SV lựa chọn mức độ
thường xuyên, rất thường xuyên luôn luôn hoàn thành
các nhiệm vụ bài tập hàng tuần trong học phần. Khi được
hỏi do thì hơn 66% SV chung câu trả lời “nửa do
muốn làm, nửa do được GV yêu cầu”, một phần các bạn SV
muốn làm ý thức muốn học hỏi, trau dồi kiến thức,
một phần vì SV sợ điểm thấp, sợ bị đánh trượt môn,... nên
các bạn mới miễn ỡng hoàn thành. Ngoài ra, SV5 chia
sẻ rằng; “Có những bài tập mình coi sự cần thiết, còn
một số bài tập mình thấy i thừa. Mình đứng giữa sự
tự nguyện bắt ép”. Kết quả phỏng vấn trên đã chứng
minh rằng SV còn chưa nhận thức đúng đắn về việc hoàn
thành bài tập trên lớp EOP, dẫn tới sự chán nản trong
việc làm bài tập. SV chỉ miễn cưỡng hoàn thành các bài tập
các yếu tố ngoại cảnh tác động, chứ chưa thực sự chủ
động hay có động lực hoàn thành các bài tập.
- Việc tự đánh giá, giám sát chất lượng hoạt động nói
của bản thân để xác định những điểm cần cải thiện
Về kết quả khảo sát vấn đề này, phần lớn SV (44,27%)
cho biết mức độ đánh giá giám sát quá trình nói tiếng
Anh của họ từ thường xuyên tới luôn luôn. Họ đã chia sẻ
nhiều phương pháp giám sát khác nhau cho việc theo dõi sự
tiến bộ của bản thân khi tham gia phần phỏng vấn, như việc
SV ghi âm, quay video, thông qua điểm số của kì thi và bài
tập để so sánh sự đổi mới trong khả năng nói tiếng Anh.
Qua đây, 2 kết quả trên đã phản ánh được phần nào snhận
thức chủ động của SV đối với việc cải thiện khả năng nói
tiếng Anh của bản thân, nhưng bên cạnh đó vẫn chưa thực
sự nhiều SV tập trung quan tâm nhiều tới vấn đề giám
sát này.
- Tần suất xem lại những phần ghi chép ở trên lớp và
tóm tắt những kiến thức học phần quan trọng
Số liệu từ kết quả khảo sát cho thấy rằng có 44,27% SV
lựa chọn mức độ thường xuyên, rất thường xuyên luôn
luôn xem lại bài ghi, nhưng khi được hỏi chi tiết hơn trong
phần phỏng vấn thì 53% (8/15 SV) xem lại phần ghi chép
trước sau buổi học, 13% (2/15 SV) hiếm khi xem lại phần
ghi chép: “Thời gian đầu mình xem lại ngay sau buổi
học nhưng sau đó mình ời dần và cuối kỳ mình mới xem
lại” (SV 14) và số còn lại thì chia sẻ rằng cuối kì mới xem
lại phần ghi chép. Đồng thời, thông qua phỏng vấn về
phương pháp ghi chép bài của các SV, thì hơn 86%
(13/15 SV) trả lời rằng họ ghi chép những phần GV cho,
những phần trên slide, ghi lại cấu trúc, từ vựng và ví dụ và
hầu hết SV đều không phương pháp ghi bài cụ thể, SV
chỉ ghi lại những phần họ thật sự thấy cần thiết
không theo một logic nhất định. Qua hai kết quả khảo sát
và phỏng vấn cho thấy SV ý thức tự giác ghi chép lại các
phần quan trọng cần thiết nhưng SV vẫn chưa phương
pháp ghi chép hợpdẫn tới vẫn còn một số ít SV chưa chú
trọng và không có động lực xem lại phần ghi chép.
Biểu đồ 3. Kết quả khảo sát về thực trạng hành vi học tập tự điều
chỉnh (câu hỏi 8, 9, 10)