Chất lượng – phần 3A
Chất lượng là chưa đủ
Khách hàng dĩ nhiên chọn sản phẩm có chất lượng tốt. Ngày nay, sản xuất
với chất lượng cao không có sự hư hỏng chính sở cho khả năng cạnh tranh.
Việc duy trì chất lượng sản phẩm nmột nguồn lợi thế cạnh tranh đã
một chiến lược sản xuất kinh doanh có giá trvào những m 1970 hoặc những
năm 1980, nhưng bây giờ, chỉ thể điểm xuất phát cho những mục tiêu
nhiều tham vọng hơn.
Điều này không nghĩa là việc quản chất lượng được coi là việc đương
nhiên. vẫn cần phải là vấn đề ưu tiên quan trọng đối với mọi nhà quản lành
nghề vì hai lý do.
Thnhất, chất lượng là một mục tiêu luôn luôn vận động và việc đạt tới
một mục tiêu đã biết luôn luôn là một bước dừng chân tạm thời.
Thhai, đó là việc quản chiến lược về chất lượng sở cho mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh chiến lược khác. Điều này giải thích tại sao tờ tuần
báo Business Week đã khẳng định trong số o phát hành đặc biệt của về quản
chất lượng rằng “Trong những m 1990 xa hơn nữa, chất lượng vẫn cần
phải là vấn đề ưu tiên đối với kinh doanh” (xem Business Week, 2/2/1992, trang
17 – 64).
Ba giai đoạn quản lý chất lượng
S tiến triển của quản lý chất lượng được mô tả theo ba giai đoạn:
1 – Chất lượng là hoạt động điều chỉnh
Quản chất lượng đã bắt đầu với tư cách một hoạt động hiệu chỉnh.
được xem là việc khắc phục một vấn đề cụ thể: Sxuất hiện những sản phẩm hư
hỏng trên thị trường.
Những hoạt động hiệu chỉnh được coi như sự kiểm tra trong quá trình sản
xuất hoặc chuyển giao cung ứng đang diễn ra. ch tiếp cận này dẫn tới việc đầu
tư ít vào phát triển quá trình và dành nhiều chú ý vào công việc làm lại.
Kết quả chất lượng không thể chấp nhận sẽ được xem xét bằng cách làm lại
một cách căn bản. Việc kiểm tra chất lượng đã “những mức báo hiệu” cho việc
quản lý chất lượng và nó thường được giao cho bộ phận tham mưu.
Toàn bcách tiếp cận được dựa trên strao đổi không xác đáng về mặt
kinh tế giữa chi phí kiểm tra chất lượng và chi phí cơ hội trên thị trường.
Hình 4.1 giải thích sự trao đổi trong trường hợp hai chiều đơn giản. hai
loại chi phí khác nhau được xem xét:
Chi phí kiểm tra chất lượng chi phí hội chất lượng. Những chi phí
này được biểu diễn bằng đồ thị theo tần số sản phẩm hư hỏng xuất hiện trên th
trường.
Càng cho phép nhiều sản phẩm hư hỏng trên thtrường thì càng ít phải
chi tiêu cho các hoạt động kiểm tra chất lượng, như việc thanh kiểm tra hàng vào,
hàng ra hoặc chi phí cho việc làm lại sản phẩm.
Nhưng số hàng hóa hỏng trên thtrường càng nhiều thì chi phí cơ hội
của chất lượng hàng scàng cao. Cho phí hội này bao gồm c khoản chi phí
bảo hành và chi phí quảng cáo để giảm bớt ảnh hưởng xấu của những sản phẩm hư
hỏng trên phần thị trường đang chiếm lĩnh.
Các ksư công nghiệp đã tối ưu hóa quá trình sản xuất bằng cách cực tiểu
tổng chi phí quản chất lượng. Điều đó đưa đến một mức chất lượng tối ưu hóa
(được biểu thị bằng Q*).
Hình 4.1 Sự trao đổi chất lượng/chi phí
Nhiều người đã dựa trên sđánh đổi đơn giản này đđưa ra những phương
pháp tiếp cận hoặc những thủ tục chấp nhận của họ. Nhiều người trong số họ chắc
hẳn đã nhận thức rằng mức chất lượng tối ưu nghĩa là mức tối ưu của số sản
phẩm hư hỏng.
Điều đó thể ý nghĩa khi số sản phẩm hư hỏng cao n so với mức tối
ưu (tức là phía phải mức Q*). Nhưng điều gì sxảy ra khi đã sn xuất ra với
số hư hỏng ít hơn so với con số tối ưu này (ở phía trái của Q*)?
Phải chăng công ty này phi tăng số sản phẩm hư hỏng lên để hoạt động
một cách tối ưu? Điều này có vlạ lùng nhưng nói lên khả năng làm cho hoạt
động của các nhà quản lý tác nghiệp trở nên dễ dàng!
2 – Chất lượng là cơ hi
Quản chất lượng dần dần đã đi tchỗ bao gồm sự cố gắng điều chỉnh
những hỏng sang việc tạo ra những hội. Công trình của các chuyên gia v
chất lượng như Deming và Juran đã có tác dụng hết sức lớn lao.
Một số công ty đặc biệt là các công ty Nhật Bản, đã phát hiện ra rằng, bằng
cách tập trung chú ý vào quá trình, thông qua cách kim tra quá trình thống kê của
Deming hoặc thông qua cách quản chất lượng đồng bộ kiểu Juran, họ đã th
cung cấp các sản phẩm chất lượng cao với chi phí thấp
.[Trong một báo cáo năm 1981 của Tổ chức ngoại thương Nhật Bản
(JETRO - Japanese Extemal Trade Organization) đã lưu ý rằng “hầu hất những
phân tích vsự tăng năng suất - chế tạo, chủ yếu là do kết quả của những yếu tố
như mức đầu tư vốn cao.
Tuy nhiên trong những m gần đây, người ta ngày càng chú ý hơn tới các
kthuật quản chất lượng hiện đại khi sự đóng góp vào ... không ch là kim tra
chất lượng mà còn stăng cường hiệu suất, sự an toàn tinh thần của người
lao động].
Dường như không phải lúc nào cũng thể có được sự kết hợp giữa chất
lượng cao và chi phí thấp. Chất lượng cao hơn trên thtrường luôn luôn đòi hỏi
phải có chi phí sản xuất – chế tạo cao hơn, khi vượt quá mức chất lượng tối ưu.
Vậy thì đó là mưu mẹo, nghệ thuật hay chẳng qua chỉ là sự may mắn? Đó là
câu hỏi thường thấy vào những m 1970. Nhưng điều dường nlúc đi
ngược lại với ý nghĩa chung thì nay đã trthành một cách thức quản tốt đối với
quá trình một cách đơn giản.
Như vậy kết quả là sự đánh đổi hình 4.1 là vô căn cứ? Không thực sự như
vậy, nhưng đó là cách nhìn tính tại các đường cong. Hình 4.2 giải thích điều gì xy
ra đối với quan điểm động của sự đánh đổi về chất lượng.
Các chdoanh nghiệp đã hoạt động với n tượng là, chi phí kiểm tra chất
lượng là tĩnh tại, dường như đó qui luật tự nhiên. Đgiảm số lượng hỏng
xuống mức 1%, bạn cần phải có một số nhân viên kiểm tra chất lượng nhất định.
Để giảm xuống dưới 1% bạn cần nhiều nhân viên kiểm tra chất lượng
hơn nữa. Nhưng h(các chủ doanh nghiệp) đã không để ý rằng bản thân đường
cong chi phí chất lượng thể chuyển dịch từ C1 sang C2 và thm chí sang
C3.Người ta cũng sớm phát hiện ra rằng đường cong chi phí hội của chất lượng
cũng không tĩnh tại như ta nghĩ.