
10
dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự
phát triển của đất nước.
Thực hiện Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 - 2020 theo Nghị quyết Đại
Hội XI của Đảng, trong đó nhấn mạnh mục tiêu tổng quát là “Phát triển kinh tế nhanh, bền vững,
theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, nâng cao đời
sống vật chất tinh thần của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái...” Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ
ngành nghiên cứu xây dựng Chiến lược Phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 với
mục tiêu rõ ràng và nhiều nội dung quan trọng bao gồm kinh tế, xã hội và môi trường.
Ngày 12/4/2012 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định phê duyệt Chiến
lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. QĐ 432/QĐ-TTg.
Mục tiêu cụ thể của Chiến lược này là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối
lớn; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính. Chuyển đổi mô hình tăng
trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh,
phát triển kinh tế các bon thấp. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực...
Theo đó, các chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 gồm:
Chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số bền vững môi trường (ESI), hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
(ICOR), tỷ lệ nghèo, tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo, số người chết do
tai nạn giao thông trên 100.000 dân, tỷ lệ số xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới, tỷ lệ che
phủ rừng,...
Các định hướng ưu tiên nhằm phát triển bền vững trong giai đoạn 2011 - 2020 về kinh tế đó
là duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng
sạch, năng lượng tái tạo.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang kết hợp hài hòa giữa chiều rộng và
chiều sâu trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và các thành tựu khoa học và
công nghệ tiên tiến để tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng
hóa và dịch vụ, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung và hiệu quả của vốn đầu tư nói riêng.
Về xã hội, đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững, cụ thể, ưu tiên nguồn lực để giảm
nghèo và nâng cao điều kiện sống cho đồng bào ở những vùng khó khăn nhất. Hỗ trợ, tạo điều kiện
cho người nghèo, hộ nghèo có nhà ở, có tư liệu và phương tiện để sản xuất; phát triển kinh tế thông
qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; phát triển sản xuất
hàng hóa; trợ giúp việc học chữ, học nghề.
Về tài nguyên môi trường, chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất;
bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết
kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài
nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng;...
Phát triển văn hóa hài hòa với phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam và tạo sự
hòa nhập xã hội bền vững.
Trong quá trình triển khai, thực hiện, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
sẽ thường xuyên được xem xét để bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển,
cập nhật những kiến thức và nhận thức mới nhằm hoàn thiện hơn nữa về con đường phát triển bền
vững ở Việt Nam. Trên cơ sở hệ thống kế hoạch hóa hiện hành, Định hướng chiến lược phát triển
bền vững ở Việt Nam, chính phủ sẽ tập trung vào những hoạt động ưu tiên được chọn lựa và triển
khai thực hiện trong 10 năm trước mắt 2011-2020.
Để phản ánh quá trình và kết quả Chương trình PTBV, QĐ 432 trên đây của Thủ tướng đã
nhấn mạnh yêu cầu: Xây dựng hệ thống hạch toán kinh tế môi trường. Nghiên cứu để đưa thêm môi
trường và các khía cạnh xã hội vào khuôn khổ hạch toán tài khoản quốc gia (SNA). Hệ thống hạch