
CÔNG PHÁP CƠ BẢ N KHI NHẬ P MÔN TĨNH TOẠ
Có rấ t nhiề u phư ơ ng pháp rèn luyệ n khí công. Theo lờ i giớ i thiệ u củ a các s ư
phụ và theo nhữ ng hiể u biế t củ a bả n thân, tôi xin giớ i thiệ u vớ i bạ n đọ c mộ t số
phư ơ ng pháp luyệ n công và nhữ ng điề u cầ n chú ý. Trong các công phu thì tĩnh toạ
công vừ a là công phu nhậ p môn then chố t củ a nhiề u ph ư ơ ng pháp luyệ n công, vừ a
là cách luyệ n tiệ n lợ i, nên nhiề u ngư ờ i luyệ n công đề u bắ t đầ u từ tĩnh toạ .
I/ TƯ THẾ VÀ YẾ U LĨNH
1. Tư thế cơ bả n
Tư thế nhậ p môn tĩnh toạ có thể chia làm ba loạ i
a. Tọ a thứ c
Ngồ i tự nhiên trên ghế . Cổ , đầ u ngay thẳ ng, thả lỏ ng, hàm dư ớ i thu vào, thả
lỏ ng vai, hàm hung ( hơ i thu ngự c ), hai tay đặ t bằ ng ở trư ớ c bụ ng, vùng eo để
thẳ ng tự nhiên, hai chân mở rộ ng ngang vai, cẳ ng chân vớ i đùi tạ o thành góc 90° ,
hai chân đặ t phẳ ng tren mặ t đấ t. Ngư ờ i mạ nh khoẻ thì ngồ i lui về mặ t trư ớ c ghế
1/3 ( H.1 ) . Ngư ờ i yế u thì ngồ i lui sâu vào mặ t ghế h ơ n, như ng lư ng không chạ m
vào chỗ tự a củ a ghế ( H.2 )

Trong luyệ n công, tạ i sao lạ i phả i thẳ ng lư ng, không đư ợ c tự a lư ng ? Đó là
vì thẳ ng lư ng có lợ i cho việ c thả lỏ ng xư ơ ng số ng và eo. Đầ u hơ i cúi mộ t chút, như
vậ y có lự i cho việ c thả lỏ ng xư ơ ng số ng cổ . Điề u chỉnh hai bộ phậ n này có tác
dụ ng tạ o điề u kiệ n làm thông suố t “ tiể u chu thiên “ H.3 ), nh ư vậ y đai não và thầ n
kinh số ng lư ng sẽ đỡ mệ t mỏ i. Nhâm mạ ch chạ y từ huyệ t Bách hộ i trên đỉnh đầ u,
chạ y xuố ng Thư ợ ng , Trung, Hạ Đan điề n đế n huyệ t hộ i âm ( H.4 ) ; Đố c mạ ch từ
huyệ t Bách hộ i chạ y dọ c xư ơ ng số ng xuố ng dư ớ i qua tam quan là Ngọ c chẩ m ,
Hiệ p tích ( có tài liệ u dịch là Giáp tích ), Vĩ l ư đế n huyệ t Hộ i âm ( H.5 ). Khi hai
mạ ch Nhâm Đố c thông nhau, khí thông suố t trong 2 mạ ch này thì gọ i là thông tiể u
chu thiên. Xư ơ ng số ng eo và xư ơ ng số ng cổ có thẳ ng , thì khí mớ i dễ thông qua “
Tam quan “ trên Đố c mạ ch. Khi khí vậ n hành trong tiể u chu thiên, n ơ i khó thông
qua nhấ t là Đố c mạ ch ở sau lư ng. Đố c mạ ch là mạ ch chủ quả n dư ơ ng khí củ a toàn
thân, nên việ c tinh thầ n có khoẻ hay không, có sợ lạ nh hay không ... đề u liên quan
đế n việ c Đố c mạ ch đã thông suố t hay chư a. Đố c mạ ch thông suố t thì dư ơ ng khí
sung túc, công năng củ a nộ i tạ ng đư ợ c tăng cư ờ ng, tinh thầ n củ a toàn thân sẽ có
chuyể n biế n tố t.
b. Bàn toạ thứ c
Là cách ngồ i hai chân khoanh lạ i trên đấ t bằ ng hoặ c trên giư ờ ng. Bàn toạ
thứ c có 3 hình thứ c .
Song bàn: còn gọ i là “ Kim bàn “ . Nghĩa là hai chân khoanh lạ i, ngử a bàn
chân lên ( H.6 ). Ngư ờ i đã có mộ t chút cơ bả n khí công có thể dùng tư thế này.
Đơ n bàn: cũng gọ i là “Ngân bàn “ . Tứ c là hai chân khoanh vào nhau, mộ t
bàn chân ngử a lên, bàn chân kia đặ t dư ớ i mông ( H.7 ).

Tả n bàn: còn gọ i là “ Tự nhiên bàn toạ “. Là cách ngồ i đùi khoanh lạ i, hai
bàn chân không cầ n để ngử a ( H.8 )
c. Trạ m lậ p thứ c
Hai bàn chân mở ngang, rộ ng bằ ng vai, hai đầ u gố i hơ i chùng, đứ ng tự
nhiên. Đầ u ngay thẳ ng , hai mắ t nhìn ngang bằ ng, hàm hung bạ t bố i ( thu ngự c
duỗ i lư ng ), vai xuôi. Luyệ n công ở tư thế này cầ n thu bụ ng ( H.9 ).
2. NHỮ NG ĐIÈU CẦ N CHÚ Ý KHI LUYỆ N CÔNG
1. Tư thế và yế u lĩnh củ a tay

a. Hai bàn tay đặ t chồ ng lên nhau, bàn tay ngử a. Nam thì tay trái để trên,
nữ thì tay phả i để trên. Ngón cái củ a 2 tay chạ m nhau. N ăm ngó tay hơ i xoè, tay để
dư ớ i rố n mộ t chút, tứ c là để tay ở Hạ Đan điề n ( H.10 – 1,2.3 )
Đố i vớ i ngư ờ i trẻ , khoẻ , hai bàn tay chồ ng lên nhau có thể cách nhau khoả ng
1 thố ng, bàn tay vẫ n ngử a. Hai ngón tay chạ m nhẹ vào nhau (H.11 )
Hoặ c hai bàn tay như ôm mộ t quả bóng nhỏ , treo khuỷ u tay, bàn tay để ở
trư ớ c ngự c hoặ c trư ớ c bụ ng. Xoè 10 ngón tay, các đầ u ngón củ a 2 bàn tay chạ m
nhẹ vào nhau ( H.12 )
b. Đố i vớ i ngư ờ i sợ rét, thân thể suy như ợ c , huyế t áp thấ p, ngư ờ i mắ c
bệ nh tim khá nặ ng thì để hổ khẩ u giao nhau, nam giớ i thì tay trái nắ m lấ y tay phả i,
nữ giớ i thifdungf tay phả i nắ m lấ y tay trái , tay n ắ m nử a quyề n, hơ i dùng lự c,
quyề n tâm hư ớ ng vào bụ ng, vị trí Đan điề n ( H.13-1,2,3 ).

Các tư thế kể trên, có thể chọ n lấ y mộ t t ư thế để tậ p, không cầ n thay phiên
tậ p các tư thế đó.
Trong luyệ n công, vì sao phả i để hai bàn tay giao nhau ? Đó là vì ngư ờ i có
điệ n sinh vậ t, từ sinh vậ t, trư ờ ng sinh vậ t. Cơ thể vậ t chấ t củ a con ngư ờ i cũng như
mộ t nam châm có cự c nam, cự c bắ c. Có ng ư ờ i coi tay trái, tay phả i là hai cự c đó,
cũng có ngư ờ i coi đầ u và chân là cự c nam, cự c bắ c củ a c ơ thể . Nế u đặ t hai bàn tay
ở vị trí gầ n hoặ c dự a vào nhau, chúng sẽ hấ p dẫ n lẫ n nhau và có thể sả n sinh ra
hiệ u ứ ng từ trư ờ ng rõ rệ t, làm tăng thêm từ trư ờ ng củ a bả n thân. Đứ ng trên góc độ
khí công mà nói, điề u đó có lợ i cho việ c bả o vệ chân khí vậ n hành trong c ơ thể ,
làm khí không bị bớ t hoặ c hao tán.
2. Điề u chỉnh vị trí củ a lư ỡ i và yế u lĩnh
a. Thông thư ờ ng, lúc luyệ n công, lư ỡ i hơ i cong lên, đầ u lư ỡ i cham vào
vòm hàm trên. Giớ i khí công gọ i là “Đáp cầ u kiề u “ ( H.14 )
b. Vớ i ngư ờ i mắ c bệ nh tim, lư ỡ i hơ i thẳ ng , không cong lên , đầ u lư ỡ i
chạ m chân răng hàm dư ớ i ( H.15 )
c. Ngư ờ i béo, muố n giả m trọ ng lư ợ ng cơ thể mà không bị hạ huyế t áp,
xin hãy để lư ỡ i ở giữ a miệ ng, mặ t lư ỡ i và đáy lư ỡ i không tỳ vào khoang miệ ng và
hàm dư ớ i ( H.16 ).
d. Đố i vớ i ngư ờ i có bệ nh tâm thầ n phân liệ t, có bệ nh về thầ n kinh chứ c
năng hoặ c vư ớ ng mắ c nặ ng về tư tư ở ng, hay cáu , tính tình nóng nả y ( l ư u ý trong
quá trình luyệ n công không đư ợ c nóng nả y ), thì nên đư a lư ỡ i cuộ n xuố ng dư ớ i,
cuộ n về đằ ng sau. Đầ u lư ỡ i đặ t vào dây chằ ng lư ỡ i, không đư ợ c chạ m vào khoang
miệ ng ( H.17 ).

