
CUA NƯỚC LỢ (Mangrove crab)
Một số loài cua sinh sống tại những vùng nước lợ nơi cửa sông và một
số loài lại còn leo bám lên cây tùy theo nước thủy triều. Tại Việt Nam có
một số loài đáng chú ý như Rạm, Cáy, Còng, Ba khía.
Cua Rạm ( Sesarma dehaani) thuộc họ Cua Porunidae. Cua rạm phân
bố hầu như tại khắp vùng ven biển, cửa sông Việt Nam. Cua rạm cỡ nhỏ,
rộng khoảng 4.5 cm. Mai cứng hình 4 cạnh. Mắt có cuống, di động. Cua có
một đôi càng và 4 đôi chân bò có lông, không cứng lắm. Cua sống ở noi đáy
bùn. Ngoài vai trò dùng làm thực phẩm, Cua Rạm hay Bành Kỳ còn được
dùng làm thuốc trong Đông-Nam dược.
Cáy (Uca) là một loài cua nhỏ, chỉ rộng 1-2 cm; mai mầu nâu-đỏ,
cứng và chắc có 4 cạnh. Đôi chân bò số 5 có vuốt sắc, càng có nhiều lông.
Cáy sinh sống tại các bãi bùn, làm tổ quanh chân sú vẹt, chỉ tìm ăn quanh tổ.

Cáy được dùng làm thực phẫm và làm mắm..Tại Âu-Mỹ, Uca bao gồm một
số cua nhỏ gọi là Fiddler Crab thuộc gia đình Cua Ocypodidae, có đặc tính
là có một càng thật to, so với càng còn lại rất bé. Cua hay quơ càng giống
như một nhạc trưởng của một ban nhạc. Tại Cadiz (Phi châu) có loài Uca
tangeri sống chui dưới hang trong bùn ven biển, ngư dân bắt cua chỉ bẻ lấy
cái càng lớn rồi vứt cua trở lại, chờ đến năm sau cua sẽ có càng tái sinh mới.
Càng được bán tại chợ dưới tên bocas de la isla, chứa nhiều thịt khá ngon.
Rạm là tên gọi chung cho các loài cua biển nhỏ thuộc họ Varuminae.
Rạm Varuna litterata thân nhỏ, mai rộng 20-25 mm, hình 4 cạnh khá chắc.
Chân bò thứ 5 có dạng vuốt. Rạm sinh sống nơi đáy bùn, có thễ dùng làm
thực phẩm.
Còng là tên gọi chung một nhóm cua nước lợ và nước mặn thuộc các
họ Grapsinae và Ocypodinae. Còng có mai rắn chắc, hai càng không đếu
nhau. Chân bò thứ 5 tận cùng bằng vuốt, không bẹt như dạng bơi chèo. Còng
sống vùng có đáy cát, ăn tạp. Thường được dùng làm mắm.
Ba khía là nhóm cua nước lợ Episesarma thuộc họ cua Grapsidae. Ba
khía thường leo lên cây khi thủy triều lên và ở lại nơi vừa trên mực nước, do
đó được gọi là Tree climbing crab. Có 3 loài ba khía chính, phân biệt bằng
màu sắc của càng: Episesarma versicolor, càng 2 màu tím xậm và trắng; E.

chengtongnensis , càng 3 màu : đỏ, nâu và trăng và E. singaporensis, càng
một màu đỏ..Mai có thể lớn 4-5 cm. Ba khía ăn tạp có thể ăn lá cây và xác
động vật hư rữa..
Thảnh phần dinh dưỡng:
Vì có khá nhiều loài cua được dùng làm thực phẩm, nên chỉ ghi nhận
giá trị dinh dưỡng của vài loài cua chính như Alaska King crab, Blue crab..
100 gram phần ăn được đã nấu chín chứa :
Alaska King crab Blue
crab
- Calories 90 95
- Chất béo 1.43 g 1.65 g
Bão hòa 0.11 g 0.22 g
Chưa bão hòa mono 0.22 g 0.22 g
Chưa bão hòa poly 0.55 g 0.65 g
Cholesterol 49 mg 93 mg

- Chất đạm 18 g 18.9 g
- Sodium 1000 mg 250 mg
- Potassium 303 mg
- Magnesium 59.1 mg 30.3 mg
- Sắt 0.77 mg 0.65 mg
- Calcium 95 mg
- Kẽm 7.1 mg 3.9 mg
- Vitamin B12 10.4 mcg 6.8 mcg
- Folate 47.4 mg 47.3 mg
- Vitamin B6 0.23 mg 0.21 mg
- Niacin 3.0 mg
(Theo Prevention Magazine's Nutrition Advisor)
Thành phần Acid béo Omega-3 trong một số loài Cua:

Theo "Health Effects of Polyunsaturated Fatty Acids in Seafoods",
thành phần Acid béo trong vài loại Cua (100 gram phần ăn được) được ghi
nhận như sau :
Linoleic
acid EPA DHA
-
Cua, Alaska
king vết 0.2 g 0.1 g
-
Cua
Dungeness 0.2 g 0.1 g
- Blue crab 0.2 g 0.2 g
- Snow crab 0.2 g 0.1 g
Xét về phương diện dinh dưỡng, các loài cua biển như Alaska King,
Blue, Dungeness là những nguồn cung cấp khá tốt về Vitamin B12, đồng
thời ít chất béo. Cua biển cũng chứa một số lượng khá lớn kẽm, calcium,

