
MẠCH TRÌ
(¿ð ¯ß - SLOW PULSE - POULS TENT)
A- ĐẠI CƯƠNG
- Thiên ‘Âm Dương Biệt Luận’ (T. Vấn 17) ghi: “Mạch Trì thuộc âm”.
- Chương ‘Bình Mạch Pháp’ (TH. Luận) ghi: “Dinh (Vinh) khí hòa là Trì...”.
B- MẠCH TƯỢNG
- Chương ‘Hình Trạng Chỉ Hạ Bí Quyết’ (M. Kinh) ghi: “Mạch Trì mỗi hơi thở đập 3 lần, đến
rồi đi rất chậm”.
- Sách ‘Trung Y Học Khái Luận’ ghi: “Mạch Trì đi chậm, 1 hơi thở chỉ đến 3 lần”.
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Trì 1 hơi thở mạch đến chưa được 4
chí”.
HÌNH VẼ BIỂU DIỄN MẠCH TRÌ
- Sách ‘Tam Tài Đồ Hội’ và sách ‘Đồ Chú Nan Kinh Mạch Quyết’ diễn tả mạch Trì:
- Sách ‘Mạch Chẩn’ trình bày hình vẽ mạch Trì như sau :
- Sách ‘Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu’ diễn tả mạch Trì qua hình vẽ sau:

- Sách ‘KH YHHĐ Và YHCT Trong Lâm Sàng’ diễn tả :
Khoảng cách trung bình giữa 2 nhát bóp tim là: = 1,33 giây, tương ứng với tần số mạch
Trì trung bình là: = 45 lần /phút.
C- NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH MẠCH TRÌ
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Hàn khí ngưng trệ, dương khí không vận
hóa được, vì vậy thấy mạch Trì”-”Tà tụ nhiệt kết làm cho sự lưu hành của huyết mạch bị trở ngại
cũng thấy mạch Trì”.
- Sách ‘Trung Y Biện Chứng Luận Trị Giảng Nghĩa’ ghi: “Nơi người có mạch Trì, ở điện tâm đồ
thấy có hiện tượng nhịp xoang chậm do cường phế vị gây ra, hoặc có hiện tượng Bloc nhĩ thất
hoặc hiện tượng nhịp nút”.
D- MẠCH TRÌ CHỦ BỆNH
- Thiên ‘Bình Nhân Khí Tượng Luận’ (T. Vấn 18) ghi: “Phàm 1 người hơi thở ra mạch động 1
lần, 1 hơi thở vào mạch động 1 lần là thiếu khí”.
- Thiên ‘Tam Bộ Cửu Hậu Luận’ (T. Vấn 20) ghi: “Mạch đi chậm (Trì) là mắc bệnh”.
- Chương ‘Biện Mạch Pháp’ (TH. Luận) ghi: “Tượng mạch ở thốn khẩu. .. Trì là bệnh ở tạng”.
- Chương ‘Biện Thái Dương... Trị’ (TH. Luận) ghi: “Đàn bà bị trúng phong 6-7 ngày thì phát sốt,
sợ lạnh, đến lúc có kinh thì bớt nóng, cơ thể mát mà mạch lại Trì, ngực sườn đầy tức, giống như
chứng kết hung, lại thêm nói cuồng, đó là nhiệt nhập huyết thất”.
- Chương ‘Biện Quyết Âm...Trị’ (TH. Luận) ghi: “Kiết lỵ mà mạch Trầm Trì, sắc mặt nhạt, cơ
thể hơi nóng, đi tiêu ra phân xanh... là vì ở dưới bị hư vậy”.
- Chương ‘Bình Tam Quan Bệnh Hậu Tịnh Trị Nghi’ (M. Kinh) ghi: “Mạch ở thốn khẩu Trì là
thấy có hàn ở bên trên, tim đau, họng đau, nôn ra nước chua. Mạch bộ quan Trì là trong Vị có
hàn. Mạch bộ xích Trì là hạ tiêu có hàn”.

- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi: “Mạch Trì là bệnh ở tạng, hoặc đờm nhiều, trưng kết. Bộ thốn
Trì là thượng tiêu bị hàn, bộ quan Trì là trung tiêu bị hàn, bụng đau không chịu nổi, bộ xích Trì
là Thận hư, thắt lưng đau, tiểu không tự chủ, dịch hoàn sưng đau”.
- Chương ‘Y Gia Quan Miện’ (HTYTT. Lĩnh) ghi:
Tả Thốn TRÌ
Tiểu vặt, bồi hồi, nôn mửa.
Hữu Thốn TRÌ
Đờm, hơi thở ngắn, ăn khó tiêu.
Tả Quan TRÌ
Sán khí, tích tụ, hông sườn đau.
Hữu Quan TRÌ
Bụng sôi, tiêu chảy.
Xích TRÌ
Tiểu nhiều, lưng đau, mỏi gối, hoạt tinh, hay mơ, mồ hôi tự chảy
ra nhiều.
- Sách ‘Trung Y Học Khái Luận’ ghi: “Mạch Trì phần nhiều thấy ở chứng âm hàn ở nội tạng”.
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Trì chủ chứng hàn”.
- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Trì chủ bụng đầy, ho suyễn, tích hàn, đờm ẩm,
dương hư, san tiết, trưng kết, tà nhiệt kết tụ. Trì mà có lực là nhiệt tà ủng kết ở kinh mạch”.
Tả Thốn TRÌ
Tim đau.
Hữu Thốn TRÌ
Phế nuy.
Tả Quan TRÌ
Can uất, trưng kết.
Hữu Quan TRÌ
Vị hàn, nuốt chua.
Tả Xích TRÌ
Tiểu không tự chủ.
Hữu Xích TRÌ
Mệnh môn hỏa suy, san tiết.
E- MẠCH TRÌ KIÊM MẠCH BỆNH
- Chương ‘Huyết Tý Hư Lao Bệnh Mạch Chứng Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch Trầm, Tiểu, Trì
gọi là thoát khí”.
- Chương ‘Tiêu Khát... Chứng Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch ở thốn khẩu Phù mà Trì... Trì tức là
lao... lao thì dinh khí suy nhược”.
- Chương ‘Kinh Qúy... Chứng Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Người bệnh ngực đầy, môi bệu, lưỡi xanh
tím, miệng khô ráo, muốn ngậm nước súc miệng nhưng không muốn nuốt, không nóng lạnh,
mạch hơi Đại mà Trì, bụng không đầy là có ứ huyết”.

- Chương ‘Sang Ung... Chứng Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Chứng trường ung thì bụng dưới sưng, có
bỉ khối, ấn thì đau như đứng lâu, tiểu thường hay phát sốt, tự ra mồ hôi lại sợ lạnh, mạch Trì,
Khẩn là đã thành mủ”.
- Chương ‘Bình Tạp Bệnh Mạch’ (M. Kinh) ghi: “Trì mà Sáp là ở trong có trưng kết, Trì mà
Hoãn là có hàn, Trầm mà Trì là trong bụng có lạnh”.
- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi:
· Mạch Trì mà Phù là hàn ở phần biểu.
· Trì mà Trầm là hàn ở phần lý.
· Trì mà Sáp là huyết hư.
· Trì mà Hoạt là đờm.
· Trì mà Tế là chân dương suy.
· Trì mà Hoạt, Đại là phong đờm.
F- MẠCH TRÌ VÀ TRỊ LIỆU
- Chương ‘Biện Thái Dương. ..Trị’ (TH. Luận) ghi: “Mạch Phù Khẩn thì nên dùng phép hãn để
giải đi. Nếu mạch ở bộ xích Trì thì không thể phát hãn, đó là do vinh khí không đủ, huyết thiếu
vậy “-”Sau khi phát hãn mà cơ thể đau, mạch Trầm Trì thì cho uống bài Tân Gia Thang (Tế Tân,
Nhân Sâm, Cam Thảo, Đại Táo) thêm Thược Dược, Sinh Khương mỗi thứ 40g. “Mắc bệnh đã
6-7 ngày mà mạch Trì, Phù, Nhược, sợ gió, sợ lạnh, tay chân ấm, đã dùng phép hạ 2 lần mà vẫn
không ăn được, lại thêm dưới cạnh sườn đầy đau, mắt, mặt và cơ thể đều vàng, cổ gáy cứng đau,
tiểu tiện khó thì cho uống bài Tiểu Sài Hồ Thang (Sài Hồ, Bán Hạ, Hoàng Cầm, Nhân Sâm, Đại
Táo, Chích Thảo,Sinh Khương)”.
- Chương ‘Biện Dương Minh... Trị’ (TH. Luận) ghi: “Dương Minh bệnh mạch Trì, không ăn no
được, ăn no thì chóng mặt, tiểu tiện khó, thành ra chứng cốc đản, tuy dùng phép hạ để chữa
nhưng bụng vẫn đầy, sở dĩ như vậy là mạch Trì vậy “-”Dương minh bệnh mạch Trì tuy ra mồ hôi
nhưng không sợ lạnh, cơ thể nặng nề, ngắn hơi, bụng đầy mà suyễn, nóng từng cơn, đó là ở
ngoài đã muốn giải, có thể công vào phần lý “-”Mạch Phù mà Trì, biểu nhiệt lý hàn, đi lỵ ra phân
xanh thì dùng bài Tứ Nghịch Thang (Phụ Tử, Can Khương, Chích Thảo)”-”Dương minh bệnh
mạch Trì, ra mồ hôi nhiều, hơi sợ lạnh là phần biểu chưa giải có thể dùng phép phát hãn, cho
uống bài Quế Chi Thang (Quế Chi, Bạch Thược, Chích Thảo, Sinh Khương, Đại Táo)”.
- Chương ‘Biện Quyết Âm...Trị’ (TH. Luận) ghi: “Bệnh Thương Hàn mạch Trì đã 6-7 ngày,
không biết mà cho uống Hoàng Cầm Thang (Bạch Thược, Hoàng Cầm, Cam Thảo, Đại Táo) để
triệt cái nóng, mạch Trì là hàn nay lại cho uống Hoàng Cầm Thang để trừ nhiệt, trong bụng ắt
lạnh mà không ăn được, nếu đã được thì gọi là trừ trung, sẽ chết”.

- Chương ‘Biện Thiếu Âm...Trị’ (TH. Luận) ghi: “Thiếu âm bệnh, ăn vào thì nôn ra, khó chịu,
muốn nôn lại không nôn được, khi mới bị thì tay chân lạnh, mạch Huyền Trì, đó là trong ngực
thực, không thể dùng phép hạ mà giải, phải dùng phép thổ”.
- Chương ‘Hung Tý...Chứng Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Chứng hung tý, thấy suyễn thở, ho khạc,
ngực và lưng đau, ngắn hơi, mạch thốn khẩu Trầm, Trì, ở bộ quan thì Tiểu, Khẩn, Sác, cho uống
bài Quát lâu Giới Bạch Bạch Tửu Thang (Quát Lâu, Giới Bạch, Bạch Tửu)”.
- Chương ‘Bình Tạp Bệnh Mạch’ (M. Kinh) ghi: “Mạch Huyền mà Trì, nên dùng những vị thuốc
ôn”.
- Chương ‘Y Gia Quan Miện’ (HTYTT. Lĩnh) ghi: “Mạch bộ thốn Trì là hàn thấp ở thượng tiêu,
dùng bài Quất Bì Hoàn (Quất Bì, Sinh Khương), nếu không khỏi cho uống bài Truật Phụ Thang
(Hậu Phác, Phục Linh, Can Khương, Bạch Truật, Bán Hạ, Phụ Tử, Chích Thảo). Mạch tả quan
Trì là bụng đau nhiều, cho uống bài Quế Chi Gia Phụ Tử Thang (Quế Chi, Bạch Thược, Cam
Thảo, Can Khương)... Mạch tả xích Trì là âm thịnh dương suy, cho uống bài Phụ Tử Lý Trung
Thang (Nhân Sâm, Bạch Truật, Can Khương, Chích Thảo, Phụ Tử)”.
C- MẠCH TRÌ QUA CÁC LỜI BÀN
- Trình Ứng Mao cho rằng: ”Mạch Trì có khi do nhiệt tà kết tụ, bụng đầy, Vị (bao tử) bị kết thực
làm ngăn trở kinh mạch gây ra, đó là điều cần nên biết. Nay nghiệm chứng trưng hà, giang mai,
các chứng này ngăn lấp mạch máu làm cho có thể thấy mạch Trì, không thể nói cách chung cho
mạch Trì là hàn cả”.
- Sách ‘Mạch Học Tập Yếu’ ghi: “Nay thấy các chứng trưng hà, huyền tích, làm cho kinh mạch
ủng trệ mà thấy mạch Trì, là tạp bệnh, do đó, không thể cứ thấy mạch Trì mà nói là hàn được”.
- Sách ‘Hoàng Hán Y Học’ ghi: “Mạch Trì mà ra mồ hôi, có lúc cũng phải dùng bài Đại Thừa
Khí Thang là bài thuốc có tác dụng hạ mạnh, như vậy mạch Trì chưa hẳn là biểu hiện của âm
chứng. Không những thế, tôi từng thực nghiệm thấy hiện nay có những người bệnh mạch Trì
cách chung thuộc chứng dương, Thực, đều thuộc chứng dùng thuốc hạ, (vì vậy) lời nói của ông
Ngô-Sơn-Phù (cho rằng mạch Trì là hàn) không thể nào tin hết được”.
- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Chương ‘Mạch Âm Dương Loại Thần’ sách Chẩn Gia
Khu Yếu cho rằng mạch Trì là triệu chứng âm thắng mà dương suy thiếu, là hàn, là bất túc. Phù
Trì là biểu có hàn!... Lời của Hoạt-Bá-Nhân trên đây cũng nói lên được chứng trạng của mạch
Trì, nhưng chỉ nói đến âm hàn không thì chưa đủ vì mạch Trì cũng có khi là do tà nhiệt kết tụ,
bụng đầy, Vị bị thực, trở ngại kinh mạch mà ra, không thể không biết”.
- Sách ‘KH YHCT Với YHHĐ Trong Lâm Sàng’ ghi: “Tương ứng với nhận định của YHCT qua
bắt mạch chúng tôi thấy: khoảng cách trung bình giữa 2 nhát bóp tim của 6 người bệnh có
mạch Trì: = 1,33 sec, tương ứng với tần số mạch Trì trung bình là: = 45 lần /phút. Kết quả
đó nói lên mạch Trì là loại mạch y học dân tộc cổ truyền thuộc tần số chậm. Về các chứng thấy

