MẠCH SÁC
¯ ß - RAPID PULSE - POULS RAPIDE)
A- ĐẠI CƯƠNG
- Sác nguyên nghĩa là nhanh, nhiều lần, Mạch Sác là mạch đi nhanh, nhiều lần (tính theo hơi thở
hoặc nhịp đập của mạch ).
- Thiên ‘Âm Dương Biện Luận’ (T.Vấn 7) ghi:”Mạch Sác thuộc dương”.
B- HÌNH TƯỢNG MẠCH SÁC
- Chương ‘Mạch Hình Tượng Chỉ Hạ Bí Quyết’ (M. Kinh) ghi:”Mạch Sác đến rồi đi cấp bách-
“Mạch Sác 1 tức mạch đập 6-7 chí”.
- Sách ‘Chẩn Gia Khu Yếu’ ghi:”Mạch Sác là thái quá, 1 hơi thở mạch đập 6 lần, hơn mạch bình
thường 2 lần đập”.
- Sách ‘Tứ Chẩn Quyết Vi’ ghi:”Mạch Sác, cứ lấy1 hơi thở của thầy thuốc bình thường thì mạch
người bệnh chạy 6 lần đến”.
- Sách ‘Trung Y Hc Khái Luận’ ghi:”Mạch Sác đi gấp rút, 1hơi thở đến 6 lần”.
- Sách “Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi:”Mạch Sác 1 hơi thở trên 5 chí (Nhất tức ngũ
chí dĩ thượng), tương đương với 90 đập /phút”.
-Sách ‘Y Học Thực Tại Dị’ : “Mạch Sác ... 5 chí trở lên’.
CÁC HÌNH VBIỂU DIỄN MẠCH SÁC
- Sách ‘Đồ Chú Nan Kinh Mạch Quyết’ và sách ‘Tam Tài Đồ Hội ghi lại hình vvề mạch Sác
như sau:
- Sách ‘Mạch Chẩn’ biểu diễn hình vẽ như sau:
- Sách ‘Tân Biên Trung Y Học Khái Yếumô tả hình vẽ của mạch Sác là những hình sóng rất
không đều nhau cả về tần số lẫn biên độ:
- Sách ‘KH YHHĐ Với YHCT Trong Lâm Sàng’ mô tả mạch Sác: “Khong cách trung bình
giữa 2 nhát bóp của tim là: = 0,59 giây 0,07 giây. Tương đương với = 102 lần/phút 14
lần/phút”.
C- NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH MẠCH SÁC
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi:”Sác là dương thịnh, tà nhiệt kích động,
mch vận hành nhanh hơn, vì vậy mạch đi Sác “-”Bnh lâu ngày âm hư, dương thiên thắng cũng
gây ra mạch Sác”-”Dương phù việt ra ngoài cũng tạo ra mạch Sác nhưng là Sác vô lực”.
- Sách ‘Trung Y Biện Chứng Luận Tr Giảng Nghĩa’ cho rằng hình thành nên mạch Sác th
do:
· Nhiễm khuẩn gây ra hạ huyết áp dẫn đến nhịp xoang nhanh.
· tim hưng phấn hoặc suy yếu đi, tần số tim tăng lên để duy trì lưu lượng máu tống ra mi
phút được như cũ”.
D- MẠCH SÁC CHỦ BỆNH
- Thiên ‘Ngọc Cơ Chân Tạng Luận’ (T. Vấn 19) ghi:”Nếu mạch tuyệt không đến hoặc mi hơi
th mạch đập 5-6 ln (Sác), dù cơ thể và tht không bị hao gầy đi, mạch chân tạng không hiện ra,
cũng chết”.
- Thiên ‘Bình Nhiệt Bệnh Luận’ (T. Vấn 23) ghi:”Mồ hôi đã ra ri mà mạch vẫn còn táo thịnh
(Sác) t sẽ chết”.
- Thiên ‘Đại Kỳ Luận) (T. Vấn 48) ghi:”... Mỗi hơi thở mạch đập 10 lần trở lên, đó kinh k
bt túc, nếu thấy mạch đó, trong vòng 9-10 ngày t chết”.
- Chương ‘Biện Mạch Pháp’ (TH. Luận) ghi:”Tượng mạch ở thốn khẩu Sác là bệnh ở phủ”-
”Mạch Sác không đúng thì là chứng ác sang (nhọt độc)”.
- Chương ‘Bình Mạch Pháp’ (TH. Luận) ghi:”Mạch Sác là phiền nhiệt”.
- Chương ‘Biện Quyết Âm Bệnh Mạch Chứng Tịnh Tr’ (TH. Luận) ghi:”Sau 3 ngày lại thấy
mạch Sác mà nhiệt không giảm, đó là nhiệt khí dư, ắt sinh ra nhọt mủ”-”Kiết lỵ mạch Sác mà
lại khát nước, bệnh tkhỏi”.
- Chương ‘Phế Nuy... Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị’ (KQY. Lược) ghi:”Người bệnh ho, mạch ở
thốn khẩu Sác trong miệng lại có nước miếng dơ là tại sao? Thầy đáp: là bệnh phế nuy”
- Chương ‘Tiêu Khát... Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị’ (KQY. Lược) ghi:”Mạch xung (phu) dương
Sác là trong V nhiệt, ăn nhiều mà mau đói, đại tiện cứng, tiểu gắt”.
- Chương ‘Kinh Qúy Thổ Nục... Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị’ (KQY. Lược) ghi:”Chứng ói ra
máu, ho ngược hơi lên, thấy mạch Sác là có nhit, không nằm được thì chết”.
- Chương ‘Sang Ung, Trường Ung...Tịnh Tr’ (KQY. Lược) ghi:”Chứng trường ung, ấn tay thấy
mềm như bị sưng, bụng không có tích tụ, cơ thể không nóng, mạch Sác, đó là trong ruột có ung
mủ”.
- Chương ‘Biện Mạch Âm Dương Đại Pháp’ (M. Kinh) ghi:”Mạch Sác là ói ra máu”.
- Chương ‘Trì Tật Đoản Trường Tạp Mạch Pháp’ (M. Kinh) ghi:”Mạch Sác là bệnh ở phủ”.
- Chương ‘Bình Tam Quan Bệnh Hậu Tịnh Nghi Tr’ (M. Kinh) ghi:”Mạch ở thốn khẩu mà Sác
t mun nôn vì có nhiệt ở V quản, nung nấu trong ngực. Mạch b quan mà Sác là trong v có tà
nhiệt - Mạch bộ xích Sác thì sợ lạnh, dưới rốn nóng đau, tiểu tiện vàng đỏ”.
- Chương ‘Mạch Âm ơng Loại Thành’ (CGK. Yếu) ghi:”Sác... là phiền mãn. Bộ thốn Sác là
đầu đau, nóng ở trên, Bộ quan Sác là Tỳ nhiệt, miệng hôi, nôn ma. Bộ quan bên trái Sác là Can
b nhiệt, mắt đỏ. Bch tay phải Sác thì tiểu vàng đỏ, táo bón”.
- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi:”Vào mùa thu, bệnh ở phế mà thấy mạch Sác thì rất đáng sợ. Bộ
thốn mch Sác thì họng và miệng lưỡi lở loét, Phế sinh ung nhọt. Bộ Can Sác là can hỏa, vị hỏa”.
- Sách ‘Cảnh Nhạc Toàn Thư’ ghi:”Mạch Sác... là hàn nhiệt, là hư lao, là ngoại tà, ung nhọt”.
- Sách ‘Chẩn Gia Chính Nhân’ ghi:”Mạch Sác chủ bệnh ở phủ, nhiệt. Bộ thốn Sác là ho suyễn,
miệng lở, phế ung. Bộ quan Sác là vị nhiệt, tà hỏa công lên trên. Bộ xích Sác là do tướng hỏa gây
bệnh, vì thế, thấy các chứng trọc khívị, tiểu buốt, tiểu bí”.
- Chương ‘Y Gia Quan Miện’ (HTYTT.Lĩnh) ghi:
Tả Thốn SÁC
Nói cuồng, miệng lưỡi lở, tiểu
không thông.
Hữu Thốn SÁC
Nhiệt ở thượng tiêu, ho đờm,
tiểu không thông.
Tả Quan SÁC
Mắt mờ, chóng mặt.
Hữu Quan SÁC
Miệng hôi, bụng cồn cào, chân
răng sưng, tch nằm.
Xích SÁC
Đái dầm, tiểu són, bàng quang bí, thai (nưõ).
- Sách ‘Trung Y Hc Khái Luận’ ghi:”Mạch Sác... phần nhiều thấy về chứng nhiệt ở phủ”.
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi:”Mạch Sác chủ bệnh nhiệt, có lực là thực,
không lực là hư”.
- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi:”Mạch Sác chủ dương thịnh, ngoại tà hàn nhiệt, phiền táo,
nóng khát, uất nhiệt, đờm nhiệt, đại tin ra máu, ung nhọt”.
Tả Thốn SÁC
Hỏa thịnh, tâm phiền.
Hữu Thốn SÁC
Ho suyn, phế nuy.
Tả Quan SÁC
Can Đởm hỏa vượng.
Hữu Quan SÁC
T Vị thực nhiệt.
Tả Xích SÁC
Đái gắt,, di tinh, xích bạch
trọc.
Hữu Xích SÁC
Đại tiện ra máu.
- Sách ‘Định Ninhi Học Mạch’ ghi:”Mạch Sác vô lực là hư nhiệt, Sác có lực là thực nhiệt.
Nếu mạch Nhân Nghinh cũng Sác có lực thì đó là ngoại cảm nhiệt tà”.
E- MẠCH SÁC KIÊM MẠCH BỆNH
- Chương ‘Đờm Ẩm... Trị’ (KQY. Lược) ghi:”Mạch Huyền Sác đờmm, vào mùa đông,
mùa hạ thì khó chữa”.
- Chương ‘Phụ Nhân... Trị’ (KQY. Lược) ghi:”Mạch Thiếu âm Hoạt mà Sác là l loét ở âm bộ”.
- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi:”Phù Sác là biểu nhiệt, Trầm Sác là lý nhiệt. Mạch ở k khẩu
Sác Thực là phế ung”.
- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi:
· Mạch Sác mà Phù là nhit ở biểu.
· Sác mà Trầm là nhiệt ở .
· Sác mà Thực là phế ung.
· Sác mà Hư là phế nuy.
· Sác mà Tế là âm hư lao nhiệt.
· Sác mà Hng, Trường là ung nhọt.
· Sác mà Hoạt Thực là đờm hỏa.
· Sác mà Hng là vong huyết.
· Sác mà thịnh, Đại, ấn tay thấy Sáp thì n ngoài tuy chứng nhiệt nhưng bên trong lại hàn”.
- Sách ‘Định Ninhi Học Mạch’ ghi:”Sác + Trầm là nhiệt ở phần , nhiệt từ trong bốc ra. Bốc
lên thượng tiêu thì đầu đau, nóng nẩy, nhiệt này xông vào trung tiêu sẽ gây ra ợ chua, miệng hôi,
nôn mửa. Nếu nhiệt bốc sang bên trái t Can hỏa xông lên gây ra mắt đỏ. Nhiệt bốc sang bên
phải thì tiểu đỏ, táo bón”.
F- MẠCH SÁC VÀ TRỊ LIỆU
- Chương ‘Biện Tháiơng Mạch Chứng Tịnh Trị’ (TH. Luận) ghi:”Thái ơng bệnh... mạch
Phù Sác, nên phát hãn, cho ung bài Ma Hoàng Thang (Ma Hoàng, Quế Chi, Hạnh Nhân, Cam
Thảo) sau khi phát hãn, thấy mạch Phù Sác li phiền khát, cho uống bài Ngũ Linh Tán (Trư
Linh, Phục Linh, Bạch Truật, Trạch Tả, Quế Chi). “Bệnh thương hàn, phát hãn đã gii, nửa ngày
sau lại phiền táo, mch Phù Sác t li phải phát hãn bng bài Quế Chi Thang (Quế Chi, Bạch
Thược, Sinh Khương, Đại Táo)”.
- Chương ‘Biện Dương Minh Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị’ (TH. Luận) ghi:”Dương minh
Thiếu dương hợp bệnh ắt gây ra kiết lỵ... nếu mạch Hoạt Sác là ăn không tiêu, nên hạ bằng bài
Đại Thừa Khí Thang (Đại Hoàng, Hậu Pc, Chỉ Thực, Mang Tiêu) - “Người bệnh không có
chứng biểu, chứng lý, phát sốt 7-8 ngày, tuy thấy mạch Phù Sác vẫn có th dùng phép hạ. Nếu đã
h mà mạch còn Sác là nhiệt, vì vậy hay đói, 6-7 ngày không đại tin là huyết, cho dùng bài
Để Đương Thang (Thủy Điệt, Mang Trùng, Đại Hoàng, Đào Nhân)