
MẠCH HUYỀN.
( ¥È ¯ ß - WIRY (TIGHT) PULSE - POULS TENDU)
A- ĐẠI CƯƠNG
- Huyền là dây (đàn, cung ...) sức mạnh đi trong đường của mạch như có sợi
dây cứng thẳng, nên gọi là Huyền.
- Thiên ‘Bình Nhân Khí Tượng Luận’ (T. Vấn 18) nhắc đến mạch Huyền là
mạch tượng của Can, mùa xuân.
- Chương ‘Phúc Trướng Hàn Sán Túc Thực Bệnh Mạch ChứngTịnh Trị’
(KQY. Lược) ghi: “Mạch Sác mà Khẩn là mạch Huyền”.
B- HÌNH TƯỢNG MẠCH HUYỀN
-Thiên ‘Ngọc Cơ Chân Tạng Luận’ (T.Vấn 19) ghi : “Mạch Huyền thẳng mà
dài”.
-Chương ‘Bình Mạch Pháp’ (TH.Luận) ghi : Mạch Huyền hình dạng giống dây
cung, đè mạnh tay vào không thay đổi”.
- Chương ‘Mạch Hình Trạng Chỉ Hạ Bí Quyết’ (M. Kinh) ghi: “Mạch Huyền
ấn vào căng thẳng như ấn vào dây cung“.
- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi: “Mạch Huyền như sợi dây dài căng thẳng”.
- Chương ‘Y Gia Quan Miện’ (HTYTT. Lĩnh) ghi: “Mạch Huyền ấn vào thấy
căng thẳng như ấn vào dây cung, thỉnh thoảng thấy Sác“.
HÌNH VẼ BIỂU DIỄN MẠCH HUYỀN
- Sách ‘Tam Tài Đồ Hội’ và sách ‘Đồ Chú Nan Kinh Mạch Quyết’ ghi hình vẽ
mạch Huyền như sau:
- Sách ‘Mạch Chẩn’ vẽ hình biểu diễn mạch Huyền như sau:

- Sách ‘Kết hợp YHCT Và YHHĐ Trong Lâm Sàng’ ghi nhận về hình vẽ
mạch Huyền qua máy và nhận xét như sau:
“Trên đường biểu diễn, sóng đầu tiên của mạch sau khi lên đến đỉnh còn đi
ngang thêm 1 đoạn nữa rồi mới đổ xuống, vì vậy đỉnh của sóng đầu tiên có
hình bằng phẳng (cao nguyên). Điều này phù hợp với mô tả của các sách xưa là
khi bắt được mạch Huyền, có cảm giác như sờ vào dây cung hoặc dây đàn căng
cứng dưới tay”.
C- NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH MẠCH HUYỀN
- Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Huyền... do hư
lao, nội thương, khí trung tiêu không đủ, thổ (Tỳ Vị) bị mộc (Can) khắc”.
-Sách ‘Trung Y Chẩn Đoán Học’ ghi :”Can chủ sơ tiết, điều sướng khí cơ, nếu
tà khí uất kết ở Can, làm mất chức năng sơ tiết, khí uất không thông lợi, sẽ sinh
ra mạch Huyền. Hoặc các chứng đau, đờm ẩm, khí cơ ứ trệ, âm dương không
hòa, mạch khí do đó bị căng ra, gây nên mạch Huyền”.
- Sách ‘Trung Y Biện Chứng Luận Trị Giảng Nghĩa’ ghi: Nguyên nhân phát
sinh mạch Huyền thường do:
· Lượng máu ở tim tống ra tăng lên .
· Sức co của thành mạch máu tăng .
· Huyết áp cao .

· Động mạch bị xơ cứng, trương lực của động mạch cao hơn bình thường.
D- MẠCH HUYỀN CHỦ BỆNH
- Thiên ‘Bình Nhân Khí Tượng Luận’ (T. Vấn 18) ghi: “Mạch án về mùa
xuân, có vị khí mà mạch hơi Huyền là bình thường, Huyền hơi nhiều mà Vị
khí ít là bệnh ở Can, chỉ thấy mạch Huyền mà không có Vị khí thì sẽ chết”.
- Chương ‘Biện Thái Dương Bệnh Mạch Chứng Trị’ (TH. Luận) ghi:
“Thương hàn mà thấy mạch ở bộ thốn Sáp, bộ xích lại Huyền thì trong bụng
đau dữ”.
- Chương ‘Ngược Tật Bệnh Chứng Tịnh Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Thầøy nói:
Bản mạch của bệnh sốt rét là mạch Huyền”.
- Chương ‘Thấp Kính Trúng Thử... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Ôi mạch của bệnh
kính, đè xuống thấy Khẩn như Huyền, đi lên xuống thẳng băng”.
- Chương ‘Đờm Ẩm, Khái Thấu... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch Song Huyền
là hàn, đều là do sau khi cho xổ mạnh, trong người dễ bị hư. Mạch thiên Huyền
là bệnh ẩm”.
- Chương ‘Bình Mạch Pháp’ (M. Kinh) ghi: “Mạch có Huyền, Phù, Khẩn,
Hoạt, Trầm Sáp, 6 mạch này gọi là tàn tặc, đều là mạch có bệnh”.
- Chương ‘Ẩu Thổ Uế Hạ Lợi... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Tiêu chảy mà mạch
lại Huyền, phát sốt, ra mồ hôi là bệnh sắp khỏi”.
- Chương ‘Phúc Trướng Hàn Sán... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Thốn khẩu mạch
Huyền là dưới hông sườn bị đau nhiều, gai rét, sợ lạnh”.
- Chương ‘Y Gia Quan Miện’ (HTYTT. Lĩnh) ghi: “Bộ thốn Huyền thì nước
đọng ở hạ tiêu, đầu đau, bụng đau cấp. Bộ quan Huyền thì mộc khí bị hại
không sinh được nhiệt, bụng đau do Vị bị hàn. Bộ xích Huyền thì thủy khí
đọng hạ tiêu, ruột đau, dưới rốn gò đau“.
- Sách ‘Tần Hồ Mạch Học’ ghi:”Mạch Huyền chủ đờm ẩm, sốt rét lâu ngày.
Bộ thốn Huyền là đầu nhức, đờm nhiều. Bộ Quan Huyền thì nóng lạnh, trưng
hà. Bộ xích Huyền chỉ đồi sán, chân bị co rút”.

- Mục ‘Hiệu Chính Tần Hồ Mạch Học’ (ĐCNKM. Quyết) ghi: “Mạch bộ thốn
Huyền chủ đầu đau, hàn nhiệt (sốt rét). Bộ quan Huyền là Vị bị hàn, ngực bụng
đau. Bộ xích Huyền là trúng âm sán”.
- Sách ‘Mạch Học Tinh Nghĩa’ ghi: “Mạch Huyền chủ mắt đỏ, chóng mặt,
huyết áp cao, hồi hộp, hay quên, thần kinh suy nhược”.
- Sách ‘Trung Y Học Khái Luận’ ghi: “Mạch Huyền thấy ở chứng can phong,
khí uất, đờm ẩm mà đau”.
- Sách ‘Mạch Học Giảng Nghĩa’ ghi: “Mạch Huyền chủ tà ở Can vượng, Tỳ
yếu, bệnh ngược (sốt rét), đờm ẩm, đầy trướng, đau 2 bên hông sườn, sán khí,
tích kết, chứng tý”.
Tả Thốn HUYỀN
Đầu đau, lo sợ, mồ hôi
trộm.
Hữu Thốn HUYỀN
Phế cảm phong hàn, ho.
Tả Quan HUYỀN
Sườn đau, sán khí.
Hữu Quan HUYỀN
Tỳ Vị bị hàn, bụng đau.
Tả Xích HUYỀN
Bụng dưới đau.
Hữu Xich HUYỀN
Quanh rốn đau, thủy tích
ở hạ tiêu.
- Chương ‘Biện Mạch Pháp’ (TH. Luận) ghi: “Các mạch Trầm, Sáp, Nhược,
Huyền, Vi là các mạch âm... bệnh thuộc dương mà thấy mạch âm thì chết“.
E- MẠCH HUYỀN KIÊM MẠCH BỆNH
- Thiên ‘Thị Thung Dung Luận’ (T. Vấn 76) ghi: “Mạch Phù mà Huyền là
Thận bất túc”.
- Chương ‘Biện Thiếu Dương... Trị’ (TH. Luận) ghi: “Thương hàn mà mạch
Huyền Tế, đầu đau, phát sốt là thuộc về Thiếu dương”.
- Chương ‘Ẩu Thổ, Uế, Hạ Lợi... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Tiêu chảy mà mạch
Trầm Huyền thì phần dưới nặng nề”.

- Chương ‘Đờm Ẩm Khái Thấu... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch Trầm mà
Huyền là huyền ẩm, đau ở trong. Mạch Huyền Sác mà có huyền ẩm, mùa đông
và mùa hạ khó chữa. Người bệnh ho kinh niên, mạch Huyền là có nước đọng“.
- Chương ‘Hồi Trùng Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Trong
bụng đau thì mạch phải Trầm Huyền, nếu Hồng Đại là có giun”.
- Chương ‘Huyết Tý Hư Lao... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Đàn ông bình thường
mà mạch Hư, Trầm, Huyền, không nóng lạnh là hư lao”.
- Chương ‘Kinh Qúy Thổ Nục... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Người bệnh mặt nhợt
nhạt, không nóng lạnh, mạch Trầm Huyền thì chảy máu cam. Thốn khẩu mà
mạch Huyền Đại. Huyền là giảm, Đại là khâu. Giảm là hàn, khâu là hư. Hư hàn
kích bác nhau gọi là mạch Cách. Đàn bà có mạch này thì đẻ non, lậu hạ, đàn
ông thì mất máu”.
- Chương ‘Ngược Tật Bệnh Mạch Chứng Tịnh Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Huyền,
Sác là nóng nhiều, Huyền, Trì là lạnh nhiều”.
- Chương ‘Huyết Tý Hư Lao... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Đàn ông mạch Hư,
Trầm, Huyền, không nóng lạnh, hơi thở ngắn, bụng đau nhiều, tiểu không
thông, sắc mặt trắng, thỉnh thoảng hoa mắt, chảy máu cam, bụng dưới đầy, các
chứng này do bệnh lao gây ra”.
- Chương ‘Phúc Trướng Hàn Sán... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Mạch phu dương
Vi, Huyền, đáng lẽ bụng phải đầy, nếu không đầy thì phải táo bón, 2 bên sườn
đau nhức. Đó là hư hàn từ dưới xông lên. Dưới hông 1 bên đau, phát sốt, mạch
Huyền, Khẩn, đó là hàn. Bụng đầy, mạch Huyền mà Khẩn. Huyền thì vệ khí
không vận hành tức là sợ lạnh, Khẩn thì không muốn ăn. Tà và chính kích bác
gây ra chứng hàn sán”.
- Chương ‘Thủy Khí Bệnh... Trị’ (KQY. Lược) ghi: “Thốn khẩu mạch Huyền
mà Khẩn. Huyền là vệ khí không vận hành tức là sợ lạnh, thủy không thấm
nhuần đến các nơi liền chạy vào giữa ruột”.
- Chương ‘Tạp Bệnh Mạch’ (M. Kinh) ghi: “Mạch Huyền Tiểu là chứng hàn
tiết”.
- Chương ‘Bình Tạp Bệnh Mạch’ (M. Kinh) ghi: “Mạch Trầm Huyền là bị
chứng huyền ẩm gây đau ở trong”.

