intTypePromotion=1
ADSENSE

Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới

Chia sẻ: ViChaeng ViChaeng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

13
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này bàn về vấn đề đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu giảng dạy Chương trình giáo dục phổ thông mới. Chúng tôi tập trung xây dựng một số nội dung, giải pháp trong đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo hướng chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang cách tiếp cận phát triển phẩm chất, năng lực người học phù hợp với Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới

  1. Kỷ yếu hội thảo khoa học 343 ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU GIẢNG DẠY CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI PGS.TS Trần Anh Tuấn Nguyên Phó Hiệu trưởng, Trường CĐSP Nghệ An Tóm tắt: Bài viết này bàn về vấn đề đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu giảng dạy Chương trình giáo dục phổ thông mới. Chúng tôi tập trung xây dựng một số nội dung, giải pháp trong đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo hướng chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang cách tiếp cận phát triển phẩm chất, năng lực người học phù hợp với Chương trình giáo dục phổ thông mới. I. Đặt vấn đề Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc Hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ngày 26/12/2018, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Thông tư 32/2018/TT-BGD ĐT về việc ban hành chương trình giáo dục phổ thông (Gọi là Chương trình giáo dục phổ thông mới). Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp người học tích lũy được kiến thức phổ thông vững chắc; biết vận dụng hiệu quả kiến thức đã học vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. Chương trình giáo dục phổ thông mới bao gồm: Chương trình tổng thể; Các chương trình môn học và hoạt động giáo dục cấp tiểu học, cấp trung học cơ sở, cấp trung học phổ thông và lộ trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông từ năm học 2020 - 2021 đối với lớp 1, năm học 2021 - 2022 đối với lớp 2 và lớp 6, năm học 2022 - 2023 đối với lớp 3, lớp 7 và lớp 10... Triển khai các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ Nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ đã ban hành các Thông tư qui định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của Nhà giáo, Bộ Giáo dục đào tạo ban hành chương trình bồi dưỡng Nhà giáo đạt chuẩn chức danh nghề nghiệp. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp học đạt chuẩn chức danh nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới vừa là mục tiêu, vừa là động lực và được coi là một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và hội nhập quốc tế. Phải bồi dưỡng Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện, coi trọng tính hiệu quả,
  2. 344 Kỷ yếu hội thảo khoa học cần làm cho đội ngũ Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ý thức đầy đủ rằng không bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ của Nhà giáo, cán bộ quản lý trước những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và hội nhập quốc. Có thể nói chương trình bồi dưỡng Nhà giáo đạt chuẩn chức danh nghề nghiệp đã đề cập khá toàn diện kiến thức về lý luận chính trị, quản lý hành chính Nhà nước về giáo dục và đào tạo, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức Nhà giáo và hội nhập quốc tế trong giáo dục, đào tạo hiện nay. Để thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới từ năm học 2020 - 2021, ngày 20/3/2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành kế hoạch số 212/KH-BGDĐT về việc tổ chức bồi dưỡng triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2019. Kế hoạch nêu rõ mục đích, yêu cầu, đối tượng, nội dung và kế hoạch bồi dưỡng khá toàn diện. Tuy nhiên, do trình độ, năng lực của giáo viên hiện nay không đồng đều, vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều giáo viên đã quen với kiểu giảng dạy “thầy giảng, trò nghe”, công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên đề đối với giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo. Căn cứ vào thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng giáo viên thời gian qua, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề xuất một số nội dung và giải pháp trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai từ năm học 2020 - 2021. II. Nội dung nghiên cứu 1. Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông hiện nay Định hướng chung của Chương trình giáo dục phổ thông mới là hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Theo đó, học sinh cần tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập; được tìm tòi, khám phá; được làm việc độc lập, hợp tác, trao đổi theo nhóm hay lớp, trong đó các em được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế. Tăng cường “tương tác” (giữa học sinh - giáo viên; học sinh - học sinh; học sinh - Thiết bị dạy học; học sinh - môi trường nơi các em sinh sống…). Học sinh được tạo cơ hội bộc lộ, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được để phát triển. Dạy học hướng tới đáp ứng nhu cầu phát triển của từng cá nhân học sinh được chú trọng. Việc chuẩn bị cho giáo viên phổ thông làm quen với cách tiếp cận dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh theo định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông mới đã được Bộ GD&ĐT thực hiện trong nhiều năm gần đây. Cụ thể, Bộ GD&ĐT đã ban hành các văn bản: Công văn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2013 về thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông; Công văn 5555/BG- DĐT-GDTrH ngày 8/10/2014 hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá; Công văn 4612/BGDĐT- GDTrH ngày 3/10/2017 về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017- 2018. Như vậy, có thể thấy, đội ngũ giáo viên phổ thông về cơ bản đã có những bước chạy đà quan trọng
  3. Kỷ yếu hội thảo khoa học 345 trong việc làm quen với quy trình phát triển chương trình giáo dục của nhà trường cũng như đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. Công tác bồi dưỡng giáo viên trong thời gian tới có tính chất vừa củng cố, vừa nâng cao năng lực triển khai dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Trong năm 2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành kế hoạch số 212/KH-BGDĐT ngày 20/3/2019 về việc tổ chức bồi dưỡng triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2019. Công tác đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm, tuy đã có đổi mới, song các trường sư phạm vẫn giảng dạy theo chương trình cũ chưa thay đổi, chương trình đào tạo sư phạm hiện tại chưa phù hợp với Chương trình giáo dục phổ thông mới; giảng dạy còn tách rời kiến thức chuyên môn với rèn nghề cho sinh viên; Chậm đổi mới phương pháp đào tạo và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, chưa phát triển, xây dựng chương trình đào tạo theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của sinh viên... 2. Một số nội dung, giải pháp bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu giảng dạy Chương trình giáo dục phổ thông mới Để tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu giảng dạy Chương trình giáo dục phổ thông mới chúng ta cần thực hiện đồng bộ một số nội dung và giải pháp sau: 2.1. Kết hợp bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp của giáo viên gắn với việc bồi dưỡng nâng cao một số năng lực chuyên môn hướng vào thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới 2.1.1. Hiện nay, đội ngũ giáo viên các cấp đã và đang từng bước được bồi dưỡng đạt chuẩn chức danh nghề nghiệp theo các qui định hiện hành. Cần kết hợp bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp của giáo viên gắn với việc bồi dưỡng nâng cao một số năng lực chuyên môn hướng vào thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới như: - Năng lực dạy học tích hợp; - Năng lực dạy học phân hóa; - Năng lực vận dụng các phương pháp dạy học nhằm phát triển phẩm chất, năng lực người học; - Năng lực đánh giá kết quả dạy học và giáo dục... 2.1.2. Để công tác bồi dưỡng đạt hiệu quả, phù hợp với đối tượng bồi dưỡng các cơ sở bồi dưỡng cần thực hiện: Thứ nhất, trước khia bồi dưỡng phải đánh giá năng lực hiện tại của giáo viên dựa theo chuẩn chức danh nghề nghiệp và yêu cầu giáo viên cần đạt khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới như: Thiết kế tiến trình dạy học, xây dựng các hoạt động học tập của học sinh, biên soạn câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra đánh giá, phân tích rút kinh nghiệm bài học... Thứ hai, trên cơ sở đánh giá năng lực hiện tại của giáo viên các cấp, xây dựng nội dung, tài liệu bồi dưỡng sát với yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới phù
  4. 346 Kỷ yếu hội thảo khoa học hợp với đối tượng bồi dưỡng. Thứ ba, xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả bồi dưỡng tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông mới. 2.1.3. Hướng dẫn giáo viên thực hành thiết kế bài học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới Sau khi thiết kế bài học cần tiến hành phân tích, đánh giá bài học theo các yêu cầu: - Cụ thể hoá “Yêu cầu cần đạt” của chủ đề dạy họctheo quy định của Chương trình môn học ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT; trình bày rõ sau khi học chủ đề này thì học sinh “làm” được gì để tiếp nhận và vận dụng kiến thức, kỹ năng của chủ đề, qua đó thể hiện rõ các “hoạt động học” của học sinh trong bài học góp phần hình thành và phát triển “các biểu hiện cụ thể” của phẩm chất, năng lực có liên quan (đã được quy định trong Chương trình tổng thể và Chương trình môn học). - Thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng: Yêu cầu trình bày cụ thể từng loại thiết bị, học liệu được sử dụng vào việc tổ chức “hoạt động học” cụ thể nào trong bài học. - Tiến trình bài học: Thiết kế các “hoạt động học” phù hợp với nội dung dạy học trong chủ đề để tổ chức cho học sinh thực hiện. Mỗi “hoạt động học” phải bảo đảm rõ về: Mục đích của hoạt động và sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành; Nội dung hoạt động và cách thức/phương pháp thực hiện hoạt động gắn với việc sử dụng thiết bị dạy học/học liệu đã chuẩn bị (học sinh phải đọc/nghe/nhìn/làm gì? Sử dụng thiết bị/học liệu như thế nào?). - Phương án tổ chức hoạt động dạy học: Dự kiến những khó khăn của học sinh; các mức độ hoàn thành sản phẩm học tập của học sinh; phương án kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động học của học sinh; phương án lựa chọn các sản phẩm học tập của học sinh (nhóm học sinh) để tổ chức cho học sinh báo cáo, thảo luận; nội dung nhận xét, đánh giá, “chốt” về kết quả thực hiện của mỗi “hoạt động học” của học sinh. 2.1.4. Tiêu chí đánh giá thiết kế bài học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh: Nội Tiêu chí đánh giá dung Mức độ phù hợp của chuỗi hoạt động học với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học được sử dụng. 1. Kế hoạch và tài liệu Mức độ rõ ràng của mục tiêu, nội dung, kĩ thuật tổ chức và sản phẩm cần đạt được của mỗi nhiệm vụ học tập. dạy học Mức độ phù hợp của thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng để tổ chức các hoạt động học của học sinh. Mức độ hợp lí của phương án kiểm tra, đánh giá trong quá trình tổ chức hoạt động học của học sinh.
  5. Kỷ yếu hội thảo khoa học 347 động học cho học Mức độ sinh động, hấp dẫn học sinh của phương pháp và hình thức chuyển giao nhiệm vụ học tập. 2. Tổ chức hoạt Khả năng theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh. sinh Mức độ phù hợp, hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ và khuyến khích học sinh hợp tác, giúp đỡ nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập. Mức độ hiệu quả hoạt động của giáo viên trong việc tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh. Khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả học sinh trong 3. Hoạt động của học lớp. Mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của học sinh trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập. sinh Mức độ tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. Mức độ đúng đắn, chính xác, phù hợp của các kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh. 2.2. Bồi dưỡng cho giáo viên tổng quan về chương trình giáo dục phổ thông mới Nội dung bồi dưỡng này cần tập trung vào các vấn đề sau: 2.2.1. Hướng dẫn giáo viên nghiên cứu Chương trình giáo dục phổ thông mới: Chương trình tổng thể; Chương trình môn học; Các hoạt động giáo dục Nghiên cứu Chương trình giáo dục phổ thông mới để làm rõ: - Quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông mới; - Mục tiêu của chương trình và làm thế nào để đạt được mục tiêu đó; - Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực đối với người học; - Xây dựng kế hoạch giáo dục; - Các phương pháp và hình thức giáo dục; - Phương pháp và hình thức đánh giá kết quả giáo dục; - Yêu cầu về thiết bị giáo dục và điều kiện thực hiện chương trình; 2.2.2. Hướng dẫn giáo viên phân tích những điểm mới, những điểm khác biệt giữa Chương trình giáo dục phổ thông mới và Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành 2.2.2.1. Phân tích những điểm mới của chương trình giáo dục phổ thông mới so với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành thể hiện trên các nội dung: - Về mục tiêu giáo dục: Chương trình giáo dục phổ thông mới tiếp tục được xây dựng trên quan điểm coi mục tiêu giáo dục phổ thông là giáo dục con người toàn diện, giúp học sinh phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mĩ. - Về phương châm giáo dục: Chương trình giáo dục phổ thông mới kế thừa các nguyên lí giáo dục nền tảng như “Học đi đôi với hành”, “Lí luận gắn liền với thực tiễn”, “Giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục ở gia đình và xã hội”. - Về nội dung giáo dục: Bên cạnh một số kiến thức được cập nhật để phù hợp với những thành tựu mới của khoa học - công nghệ và định hướng mới của chương trình, kiến thức nền tảng của các môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông mới chủ
  6. 348 Kỷ yếu hội thảo khoa học yếu là những kiến thức cốt lõi, tương đối ổn định trong các lĩnh vực tri thức của nhân loại, được kế thừa từ Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nhưng được tổ chức lại để giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực một cách hiệu quả hơn. - Về hệ thống môn học: Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, chỉ có một số môn học và hoạt động giáo dục (HĐGD) mới hoặc mang tên mới là: Tin học và Công nghệ, Ngoại ngữ, Hoạt động trải nghiệm ở cấp tiểu học; Lịch sử và Địa lí, Khoa học tự nhiên ở cấp trung học cơ sở (THCS); Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp trung học phổ thông (THPT); Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở các cấp THCS, THPT. Việc đổi tên môn Kĩ thuật ở cấp tiểu học thành Tin học và Công nghệ là do chương trình mới bổ sung phần Tin học và tổ chức lại nội dung phần Kĩ thuật. Tuy nhiên, trong chương trình hiện hành, môn Tin học đã được dạy từ lớp 3 như một môn học tự chọn. Ngoại ngữ tuy là môn học mới ở cấp tiểu học nhưng là một môn học từ lâu đã được dạy ở các cấp học khác; thậm chí đã được nhiều học sinh làm quen từ cấp học mầm non. - Về phương pháp giáo dục: Chương trình giáo dục phổ thông mới định hướng phát huy tính tích cực của học sinh, khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ một chiều. Từ nhiều năm nay, Bộ GDĐT đã phổ biến và chỉ đạo áp dụng nhiều phương pháp giáo dục mới (như mô hình trường học mới, phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục STEM,…); do đó, hầu hết giáo viên các cấp học đã được làm quen, nhiều giáo viên đã vận dụng thành thạo các phương pháp giáo dục mới. Ở cấp THCS, môn Khoa học tự nhiên được xây dựng trên cơ sở tích hợp kiến thức của các ngành vật lí, hóa học, sinh học và khoa học Trái Đất; môn Lịch sử và Địa lí được xây dựng trên cơ sở tích hợp kiến thức của các ngành lịch sử, địa lí. Học sinh đã học môn Khoa học, môn Lịch sử và Địa lí ở cấp tiểu học, không gặp khó khăn trong việc tiếp tục học các môn này. Chương trình hai môn học này được thiết kế theo các mạch nội dung phù hợp với chuyên môn của giáo viên dạy đơn môn hiện nay nên cũng không gây khó khăn cho giáo viên trong thực hiện. Hoạt động trải nghiệm hoặc Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở cả ba cấp học cũng là một nội dung quen thuộc vì được xây dựng trên cơ sở các hoạt động giáo dục tập thể như chào cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội TNTP Hồ Chí Minh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam và các hoạt động tham quan, lao động, hướng nghiệp, thiện nguyện, phục vụ cộng đồng,… trong chương trình hiện hành. - Về thời lượng dạy học: Tuy chương trình giáo dục phổ thông mới có thực hiện giảm tải so với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành nhưng những tương quan về thời lượng dạy học giữa các môn học không có sự xáo trộn. 2.2.2.2. Phân tích tìm ra những điểm khác biệt giữa chương trình giáo dục phổ thông mới so với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành - Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành: + Được xây dựng theo định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa
  7. Kỷ yếu hội thảo khoa học 349 chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn. Theo mô hình này, kiến thức vừa là “chất liệu”, “đầu vào” vừa là “kết quả”, “đầu ra” của quá trình giáo dục. Vì vậy, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế. + Có nội dung giáo dục gần như đồng nhất cho tất cả học sinh; việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh, ngay cả ở cấp THPT chưa được xác định rõ ràng. + Sự kết nối giữa chương trình các cấp học trong một môn học và giữa chương trình các môn học chưa chặt chẽ; một số nội dung giáo dục bị trùng lặp, chồng chéo hoặc chưa thật sự cần thiết đối với học sinh phổ thông. + Thiếu tính mở nên hạn chế khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác giả sách giáo khoa và giáo viên. - Chương trình giáo dục phổ thông mới: + Được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng. Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân. Nói cách khác, giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học. Quan điểm này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục. + Phân biệt rõ hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12). Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, thực hiện yêu cầu của Nghị quyết 29, Nghị quyết 88 và Quyết định 404, chương trình thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp, thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lí số môn học; + Thiết kế một số môn học (Tin học và Công nghệ, Tin học, Công nghệ, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp) theo các chủ đề, tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn những chủ đề phù hợp với sở thích và năng lực của bản thân. Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, bên cạnh một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh được lựa chọn những môn học và chuyên đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướng nghề nghiệp của mình. + Chú ý hơn đến tính kết nối giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học. - Cụ thể những thay đổi cơ bản ở bậc tiểu học: + Ở bậc tiểu học, sẽ có 10 môn học và 1 hoạt động giáo dục bắt buộc trong chương trình mới. Theo đó sẽ gồm các môn: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Ngoại ngữ 1 (Lớp 3, 4, 5); Tự nhiên và xã hội (Lớp 1, 2, 3); Lịch sử và Địa lý (Lớp 4, 5); Khoa học (Lớp 4, 5); Tin học và Công nghệ (Lớp 3, 4, 5); Giáo dục thể chất; Nghệ thuật (Âm nhạc
  8. 350 Kỷ yếu hội thảo khoa học và Mỹ Thuật) và Hoạt động trải nghiệm (trong đó có tích hợp nội dung giáo dục của địa phương). Nội dung môn học Giáo dục thể chất được thiết kế thành các học phần (mô đun); nội dung Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề; Học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường. Các môn học tự chọn (dạy ở những nơi có đủ điều kiện dạy học và phụ huynh học sinh có nguyện vọng). Tiếng dân tộc thiểu số (dạy từ lớp 1 đến lớp 5); Ngoại ngữ (dạy ở lớp 1, lớp 2). + So với Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, Chương trình giáo dục phổ thông mới ít môn học hơn do thực hiện chủ trương tích hợp cao ở các lớp dưới. Tuy nhiên, trong Chương trình mới có thêm 2 môn học mới là Ngoại ngữ; Tin học và Công nghệ. Mặt khác, Chương trình Chương trình giáo dục phổ thông mới bậc tiểu học là chương trình học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học, mỗi tiết học không quá 35 phút do đó số tiết học trong một năm học tăng lên. 2.2.3. Bồi dưỡng cho giáo viên về dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học Cần làm cho giáo viên hiểu rõ: 2.2.3.1. Dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực là gì? Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, Phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp dạy học khám phá... Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây. Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người. 2.2.3.2. Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực? Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh; giờ học đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
  9. Kỷ yếu hội thảo khoa học 351 2.2.3.3. Cấu trúc giáo án dạy học phát huy năng lực? Giáo án (kế hoạch bài học) được điều chỉnh cụ thể hơn so với truyền thống. Có thể có nhiều cấu trúc để thiết kế một kế hoạch dạy học (giáo án). Sau đây là một cấu trúc giáo án có các hoạt động và mục tiêu cụ thể…. - Mục tiêu bài học: Mục tiêu bài học cần êu rõ yêu cầu học sinh cần đạt những gì về kiến thức, kỹ năng và thái độ; - Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học: + Giáo viên chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất...), các phương tiện dạy học (máy chiếu, ti vi, đầu video, máy tính, máy projec- tor...) và tài liệu dạy học cần thiết; + Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết). - Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy, học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ: + Tên hoạt động; + Mục tiêu của hoạt động; + Cách tiến hành hoạt động; + Thời lượng để thực hiện hoạt động; + Kết luận của giáo viên về: những kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh cần có sau hoạt động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học để giải quyết; những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;... - Hướng dẫn các hoạt động tiếp theo: xác định những việc học sinh cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ, hoạt động ứng dụng kết quả bài học vào cuộc sống (ở lớp, nhà, cộng đồng; có thể cùng bạn, gia đình, làng xóm, khối phố) hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới. 2.3. Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên trong trường sư phạm đáp ứng yêu cầu giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới 2.3.1. Xây dựng phát triển chương trình đào tạo giáo viên Phát triển chương trình đào tạo giáo viên trong trường sư phạm đáp ứng yêu cầu giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới là xu hướng chung và cấp thiết trong đào tạo giáo viên hiện nay. Chương trình đào tạo được xây dựng theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học, cần đảm bảo: - Chương trình cần được thiết kế dựa theo chuẩn đầu ra làm cơ sở xác định thời lượng, nội dung khối kiến thức phù hợp đảm bảo cho sinh viên ra trường đáp ứng được yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới; Phương thức đào tạo cần chú trọng đến việc trải nghiệm thực tiễn giáo dục ở nhà trường phổ thông qua liên kết giữa các cơ sở đào tạo với các trường phổ thông thực hành. Gắn chương trình đào tạo tại trường sư phạm với chương trình giáo dục phổ thông mới. - Theo định hướng chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo sư phạm được bổ sung,
  10. 352 Kỷ yếu hội thảo khoa học điều chỉnh, cập nhật hàng năm đã thể hiện được sự gắn kết sản phẩm đầu ra với mô hình hoạt động nghề nghiệp đặc trưng của người giáo viên. Từng khối kiến thức được mô tả cụ thể những chuẩn cần đạt về kiến thức và năng lực chuyên môn. Đồng thời chương trình còn mô tả các kĩ năng chuyên môn (kĩ năng nghề nghiệp, kĩ năng tư duy và giải quyết vấn đề, kĩ năng nghiên cứu, khám phá kiến thức, kĩ năng đánh giá bối cảnh xã hội, tổ chức, kĩ năng vận dụng sáng tạo các kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn nghề nghiệp); kĩ năng bổ trợ (kĩ năng cá nhân, làm việc theo nhóm, quản lý, lãnh đạo, hoạt động xã hội, giao tiếp và sử dụng ngoại ngữ, tin học) và các phẩm chất đạo đức. - Chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới cần tăng thời gian thực tế, thực hành, kiến tập, thực tập lên đến 35% thời lượng học tập. 2.3.2. Bổ sung, cập nhật một số nội dung vào chương trình đào tạo giáo viên hiện hành - Nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, phù hợp với chuẩn nghề nghiệp giáo viên, cần bổ sung vào chương trình đào tạo giáo viên hiện hành tại trường sư phạm một số kĩ năng nghề nghiệp như: kĩ năng lập kế hoạch dạy học (chương trình học hoặc bài học) dựa trên cơ sở xác định nhu cầu, năng lực của học sinh, xác định mục tiêu học tập; kĩ năng triển khai dạy học tích cực (hỗ trợ việc học tập tích cực của người học); kĩ năng kiểm tra đánh giá kết quả học tập và kĩ năng đánh giá cải tiến việc dạy học. Các kĩ năng này giúp sinh viên thực hiện hiệu quả hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường. - Trong thời gian chưa thay đổi chương trình đào tạo, đối với sinh viên sư phạm tốt nghiệp ra trường từ năm học 2019 - 2020 cần phải bổ sung cho sinh viên các nội dung: Tổng quan về chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGD&ĐT ngày 26/12/2018 của Bộ GD&ĐT; Chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên các cấp theo các qui định hiện hành của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ. III. Kết luận Trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, vai trò của người giáo viên cũng có những thay đổi theo hướng đảm nhận nhiều chức năng hơn, trách nhiệm nặng nề hơn. Giáo viên phải chuyển từ truyền thụ tri thức sang tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh tri thức, giúp các em hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông mới. Để bắt nhịp với đổi mới giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục phổ thông mới thực hiện từ năm học 2020 - 2021, thì các trường Sư phạm phải đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo các hướng sau: - Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng đào tạo giáo viên trở thành nhà giáo dục, nhà khoa học, nhà văn hóa và hoạt động xã hội trên nền hiểu biết vừa rộng vừa sâu một chuyên ngành phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới - Trường Sư phạm phải tham gia phát triển các sản phẩm dịch vụ cho giáo dục phổ
  11. Kỷ yếu hội thảo khoa học 353 thông như: phát triển các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo các chuyên đề, chủ đề mà giáo viên, nhà trường phổ thông có nhu cầu; phát triển hệ thống học liệu, ấn phẩm, các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục ứng dụng phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới (Tài liệu bồi dưỡng, các chuyên đề, đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng, các ngân hàng đề kiểm tra, đánh giá…) Tài liệu tham khảo [1] Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. [2] Nghị quyết số 88/2014/QH13, nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. [3] Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. [4] Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ Tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. [5] Bộ Giáo dục và đào tạo: Thông tư 32/2018/TT-BGD ĐT ngày 26/12/2018 về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. [6] Bộ Giáo dục và đào tạo (2017): Tài liệu bồi dưỡng chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông các hạng - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam - 2017. [7] Trường CĐSP Nghệ An: Chương trình đào tạo giáo viên MN, TH, THCS.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2