TIỂU LUẬN:
Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh
của công ty bánh kẹo Hải Châu
Lời nói đầu
Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các chủ thể tham gia phải biết tôn trọng các qui
luật kinh tế khách quan của , trong đó qui luật cơ bản: Cạnh tranh. Nền kinh tế
thị trường ng phát triển tcạnh tranh càng gay gắt. Các doanh nghiệp Việt Nam
muốn tồn tại phát triển không còn lựa chọn nào khác là phải sẵn sàng chấp nhận
cạnh tranh. Hơn thế nữa, nền kinh tế Việt Nam không thể đứng ngoài thị trường thế
giới: Năm 2002, Hiệp định thương mại Việt Mỹ thực tế đi vào cuộc sống kèm theo lộ
trình đi tới tự do hoá hoàn toàn thương mi đầu tư. m 2003, khu vực mu dch
tự do asean (AFTA) bt đầu hiệu lực. những m tiếp theo, chúng ta sẽ gia
nhập WTO. Đó là những thời khắc có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế nước nhà.
Doanh nghiệp Việt Nam, sản phẩm Việt Nam sẽ phải chiến đấu ngay trên sân nhà và
trên sân chơi toàn cầu để tồn ti. Khi mọi hàng rào mậu dịch sẽ phải lần lượt gỡ bỏ,
để đủ sức cạnh tranh, thì một điều chắc chắn các doanh nghiệp phải tự làm
mạnh thêm nội lực của bản thân mình về các mt vốn, công nghệ, lao động..., phải
tăng cưng đầu tư để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
Công ty bánh kẹo Hải Châu là mt doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong
lĩnh vực sản xuất kinh doanh bánh kẹo, trước những thay đổi của môi trường cạnh
tranh đã không phải không gặp những lúng túng kkhăn. Nhưng với sự nỗ lực sáng
tạo của đội ngũ cán bộ nh đạo toàn thể CBCNV trong hoạt động sản xuất kinh
doanh nổi bật là hoạt động đầu tư, Công ty đã từng c phát triển trở thành
một trong những doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo hàng đầu cả nước.Tuy nhiên,
những Công ty đạt được mới chbước đầu, phía trước còn rất nhiều thử thách.
Cạnh tranh trên thị trường bánh kẹo rất quyết liệt. Rào cản gia nhập ngành không lớn
nên ngày càng nhiều cơ sở sản xuất bánh kẹo mọc lên. Điều đó đòi hỏi Công ty bánh
kẹo Hải Châu không ngừng đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để chiến
thắng các đối thủ, tiếp tục giữ vững và mở rộng thị trường.
Xuất phát từ thực tế trên, sau một thời gian thực tập tại Công ty bánh kẹo Hải
Châu, i đã quyết định chọn đề tài " Đầu nâng cao khả năng cạnh tranh của
công ty bánh kẹo Hải Châu " cho luận văn tốt nghiệp của mình. Đề tài ngoài phần
mở đầu và kết luận gồm 3 chương được kết cấu như sau:
Chương 1. Đầu tư với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chương 2. Thực trạng hoạt động đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty
bánh kẹo Hải Châu.
Chương 3. Một số giải pháp vđầu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
Công ty bánh kẹo Hải Châu.
Chương 1. Đầu tư với việc nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp
I/ Nhận thức cơ bản về cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1. Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường:
1.1. Ki nim và phân loi cnh tranh:
1.1.1. Khái nim:
Xét từ góc độ tổng thể nền kinh tế, cạnh tranh trong cơ chế kinh tế thị trường
thể được hiểu là cuộc cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị truờng
nhằm giành giật các lợi ích kinh tế về mình.
Các chủ thể kinh tế đây chính là các bên bán và bên mua các loại hàng hoá
dch vụ. Đối với các bên mua họ muốn tối đa hoá lợi ích của những hàng h
họ mua được hay i cách khác họ muốn mua được loại hàng chất lượng cao,
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng giá cả lại r. Ngược lại, bên bán bao giờ cũng hướng
tới tối đa hoá lợi nhuận bằng cách bán được nhiều hàng với giá cao. Vì vậy, các bên
cạnh tranh với nhau để giành những phần li hơn về mình.
Xét góc độ doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đưc Mác đề
cập như sau:"Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ
hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch". đây, Mác đã đề cập đến vấn đề cạnh tranh
trong một không gian hẹp chủ nghĩa bản Lúc y cạnh tranh được xem sự lấn
át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại, quan niệm về cạnh tranh được nhìn nhận tgóc độ
khá tiêu cực.
nước ta, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây, cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp được hiểu một cách cứng nhắc. Trong một thời kỳ i, chúng ta ch
nhìn thấy mặt trái của cạnh tranh, phê phán cạnh tranh, coi cạnh tranh doanh
nghiệp mạnh đè bẹp doanh nghiệp yếu mà chưa thấy được những mặt tích cực của
cạnh tranh. Chuyển sang nền kinh tế thị trưng, quan niệm vcạnh tranh của các
doanh nghiệp nước ta đã được thay đổi. Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều
thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh môi trường và động lực của sự phát triển
kinh tế hội. Cạnh tranh của các doanh nghiệp được quan niệm cuộc đấu tranh
gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ shữu
khác nhau vliệu sản xuất nhằm giành được những điều kiện thuận lợi nhất về
sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dch vụ để thu đưc lợi nhuận lớn nhất đồng thời thúc
đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Chúng ta cùng có thể hiểu theo nghĩa chung nhất
cạnh tranh của các doanh nghiệp sự ganh đua giữa c doanh nghiệp trong việc
giành giật khách hàng hoặc thị trường mà kết quả cuối cùng là để tiêu thụ được ngày
càng nhiều hàng hoá với lợi nhuận cao.
Nếu t trong mối tương quan giữa các doanh nghiệp với nhau trên sở
nhu cầu mua sắm của hội thì chúng ta hiểu cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là
quá trình các doanh nghiệp đưa ra các biện pháp kinh tế tích cực sáng tạo nhằm tồn
tại được trên thị trường ngày càng thu được nhiều lợi nhuận trên sở tạo ra các
ưu thế về sản phẩm cũng như trong tiêu thụ sản phẩm.
1.1.2. Các loi nh cnh tranh:
Cạnh tranh trên thtrường giữa các doanh nghiệp được phân thành nhiều loại
khác nhau. Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm 2 loại: Cạnh
tranh giữa các ngành cạnh tranh trong nội bộ ngành. Để giành lợi thế trên thị
trường, các doanh nghiệp phải nắm vững các loại cạnh tranh y để xác đnh đúng
đối thủ cạnh tranh, từ đó lựa chọn chính xác khí cạnh tranh phù hợp với điều kiện
và đặc điểm của mình.
Cạnh tranh gia các ngành: là cuộc đấu tranh giữa các nhà doanh nghiệp
sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu
lợi nhuận tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra đầu vốn vào
ngành lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các
doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tư lợi nhất nên đã chuyển vốn từ
ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận. Sau mt thời gian nhất định, sự
điều chuyển t nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuậny, hình chung hình thành lên
sự phân phối vốn hợp lí giữa các ngành sản xuất, dẫn đến kết quả cuối cùng là các