
PHÒNG GD&ĐT HẢI LĂNG ĐỀ THI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2023-2024
MÔN: NGỮ VĂN LỚP 9
Thời gian làm bài: 90 phút
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
(…) Thời gian nhẹ bước mỏi mòn
Xin đừng bước lại để còn Mẹ đây
Bao nhiêu gian khổ tháng ngày
Xin cho con lãnh, kẻo gầy Mẹ thêm
Mẹ ơi, xin bớt muộn phiền
Con xin sống đẹp như niềm Mẹ mong
Tình Mẹ hơn cả biển Đông
Dài, sâu hơn cả con sông Hồng Hà”.
(Trích bài thơ Tình Mẹ - Tử Nhi)
Câu 1: Xác định thể thơ?
Câu 2: Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ có trong đoạn thơ?
Câu 3: Đoạn thơ thể hiện tình cảm gì của người con?
PHẦN II: LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (1,0 điểm):
Từ ý nghĩa câu thơ “Mẹ ơi, xin bớt muộn phiền/ Con xin sống đẹp như niềm
mẹ mong”, em hãy viết một đoạn văn (8-10 câu) trình bày suy nghĩ về lẽ sống đẹp
của bản thân?
Câu 2 (6,0 điểm):
Em hãy đóng vai nhân vật bé Thu (khi đã lớn) ở trong tác phẩm Chiếc lược
ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng kể lại kỉ niệm trong lần cha về thăm nhà./.
…………………………………………………..
ĐỀ CHÍNH THỨC

PHÒNG GD&ĐT HẢI LĂNG
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ THI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2023-2024
MÔN: NGỮ VĂN LỚP 9
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi:
3,0
1
Xác định thể thơ: Lục bát
1,0
2
- HS xác định được 1 trong số các biện pháp tu từ sau:
+ Nhân hoá (nhẹ, bước);
+ Ẩn dụ (thời gian nhẹ bước mỏi mòn);
+ So sánh (Tình Mẹ hơn cả biển Đông/ Dài, sâu hơn cả con sông
Hồng Hà);
+ Điệp từ (hơn cả, xin)
- Phân tích tác dụng:
+ Phép nhân hoá kết hợp phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác diễn tả
chân thực bước đi của thời gian cùng cảm giác thương yêu lẫn
xót xa của con khi chứng kiến sự già nua, yếu gầy của mẹ trước
bao thăng trầm, gian khổ nhọc nhằn cùng năm tháng trôi qua.
+ Phép so sánh nhấn mạnh tình yêu và công ơn trời bể của mẹ
đối với con sánh ngang tầm vũ trụ.
+ Điệp từ: nhấn mạnh tình yêu, niềm kính trọng con dành cho mẹ
0,5
0,5
3
- Thể hiện sự thấu hiểu, kính trọng, biết ơn sâu nặng của mình
đối với người mẹ kính yêu.
- Nhà thơ muốn nhắn nhủ bạn đọc thông điệp về tình cảm, ý
thức, trách nhiệm của bản thân đối với cha mẹ.
1,0
II
1
Từ ý nghĩa câu thơ “Mẹ ơi, xin bớt muộn phiền/ Con xin
sống đẹp như niềm mẹ mong”, em hãy viết một đoạn văn
(8-10 câu) trình bày suy nghĩ về lẽ sống đẹp của bản thân?
1,0
a. Đảm bảo hình thức đoạn văn nghị luận
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sống đẹp
c. Triển khai vấn đề nghị luận:
- Sống đẹp là sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng. Sống
đẹp là sống có chí cầu tiến, biết đứng dậy bằng chính đôi chân
của mình khi vấp ngã, biết bền lòng và dũng cảm vượt qua
những thử thách, khó khăn để vươn lên, chắp cánh cho ước
mơ của mình đưọc bay cao, bay xa. Sống đẹp còn là một lối
sống có văn hóa, biết lịch sự; có tri thức, có tình người.
- Sống đẹp trước hết phải xuất phát từ lòng nhân ái, từ chính
tình yêu trong trái tim để từ đó mà sống hết mình vì người
khác, để bao dung, thứ tha...
- Sống đẹp là sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội…
- Phê phán những con người sống tiêu cực: thờ ơ, vô cảm, ích
1,0

kỉ, thụ động, lười nhác…
- Cần phải nhận thức đúng và rèn luyện thường xuyên để có
lẽ sống đẹp. Biết trau dổi kiến thức, sinh hoạt, vui chơi lành
mạnh, tham gia các hoạt động xã hội như giúp đỡ người
nghèo, các em bé mồ côi, các cụ già ốm đau, không nơi
nương tựa, hiếu thuận với cha mẹ…..
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng chính tả, dùng
từ đặt câu chính xác.
2
Em hãy đóng vai nhân vật bé Thu (khi đã lớn) ở trong tác
phẩm Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng kể
lại kỉ niệm trong lần cha về thăm nhà
6,0
* Yêu cầu chung:
- Học sinh biết viết đúng đặc trưng kiểu bài tự sự. Biết kết
hợp yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận, các hình thức đối
thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm để làm cho bài văn sinh
động.
- Bài văn trình bày mạch lạc, bố cục rõ ràng. Diễn đạt trôi
chảy, trong sáng; sử dụng chi tiết, từ ngữ, câu văn chính xác,
không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp thông thường; chữ viết cẩn
thận, sạch đẹp.
- Sử dụng đúng ngôi kể thứ nhất- xưng tôi.
0,5
* Yêu cầu cụ thể: Học sinh có nhiều cách viết khác nhau
nhưng cần đảm bảo những nội dung cơ bản sau:
1. Mở bài: Hoàn cảnh gợi lại kỉ niệm: Đang làm giao liên,
gặp bác Ba - đồng đội cũ của ba, nhận cây lược- kỷ vật cha để
lại, kỷ niệm ùa về.
2. Thân bài:
- Hoàn cảnh gia đình: Ba tôi đi bộ đội khi tôi còn chưa đầy
một tuổi. Hai cha con tôi đã xa cách nhau ngót nghét tám năm
trời. Tôi biết ba chỉ duy nhất qua tấm hình ba chụp với má.
Còn ba thì biết tôi qua tấm ảnh nhỏ mà má gửi đến ba lần má
đi thăm ba. Chiến tranh đã chia cắt gia đình tôi.
- Trong lần ba về thăm nhà.
+ Tôi đã hốt hoảng bỏ chạy, không nhận ba, không gọi ba.
+ Khi nấu cơm: mẹ bảo nhờ ba chắt nước, tôi cũng không
cần.
+ Trong bữa cơm ông ấy săn sóc tôi nhưng tôi không nhận,
tôi hất trứng ca được gắp cho, bị ông ấy quát nên tôi bực
mình, bỏ sang bà ngoại trong sự tức giận. Ai dỗ tôi cũng
không quan tâm.
+ Bà ngoại đêm ấy nói với tôi lí do sao không nhận ba. Tôi
nói với bà do vết sẹo kia không giống người chụp chung với
má và lúc ấy, tôi mới biết mình sai.
+ Sáng hôm sau tôi về nhà, tôi biết ba phải đi rồi. Khi ba tạm
0,5
4,5

biệt tôi, tôi gọi ba trong đau đớn cùng nước mắt nghẹn ngào.
Giờ phút tôi nhận ba cũng là lúc hai bố con tôi chia xa.
+ Tôi dặn ba làm cho tôi chiếc lược ngà. Sau đó, ba trở lại
chiến trường.
- Hiện tại: Tôi đi làm giao liên tiếp nối sự anh hùng của ba.
Gặp được bác Ba, đồng đội của ba năm xưa và bác trao tôi
cây lược ba tôi từng đêm từng đêm cặm cụi làm ra.
3. Kết bài: Cảm nghĩ về kỷ niệm và bày tỏ những suy nghĩ về
chiến tranh, về tình cha con trong cuộc sống.
0,5

