39 Tuyển Physics World 2008 | © hiepkhachquay
Đi tìm nhng ngưi kĩ sư vũ tr
Bruce Dorminey
Từ trước đến nay đã thất bại trước việc tìm bằng chứng cho những nền văn minh ngoài
địa cầu bằng cách tìm kiếm sự truyền phát sóng tuyến của họ, nhưng một số nhà vật lí vẫn cho
rằng thậtđáng bõ công việc sục sạo bầu trời tìm kiếm những dấu hiệu của công trình xây dựng
thiên văn của họ, như Bruce Dorminey viết trong bài.
“Nếu như họ ngoài đấy, thì họ đâu chứ ?Đó là câu hỏi c búa nổi tiếng đưa ra hơn
50 năm trước bởi nhà vật gốc Italia Enrico Fermi khi nhắc đến khnăng những nền văn minh
thông minh ngoài địa cầu lẽ nằm ngoài ranh giới của hệ Mặt trời của chúng ta. Đã biết tuổi rất
lớn của trụ số lượng số sao kiểu Mặt trời của nó, dường như thật hợp rằng Trái đất
không phải nơi duy nhất sự sống thông minh tiến hóa. Nhưng trong nửa thế kỉ qua, các nhà
nghiên cứu đã ch cực tìm kiếm dấu hiệu của những nền văn minh ngoài địa cầu n thế và
chẳng thu được gì trong tay.
Những nền văn minh tiên tiến có thể lần theo được bằng cách tìm kiếm bằng chứng rằng
họ đã xây dựng “những quả cầu Dyson” để khai thác năng lượng của ngôi sao của họ.
40 http://www.thuvienvatly.info | © hiepkhachquay
Những cuộc săn tìm này hầu như đều có liên quan đến việc tìm kiếm sóng điện từ ở tần số
tuyến hay quang học thể truyền phát đi bởi những nền văn minh trụ. Những cuộc khảo
sát không gian giữa các sao kiểu như thế lần đầu tiên được thực hiện bởi nhà thiên văn người Mĩ
Frank Drake tại Đài quan trắc thiên văn tuyến quốc gia vào năm 1960, ktđó tính hiệu
quả của chúng cứ tăng lên theo hàm số mũ. Thật vậy, lễ khánh thành mới đây của Loạt kính thiên
văn Allen chuyên dụng California sẽ cho phép những nghiên cứu liên quan tới việc tìm kiếm
trí thông minh ngoài Trái đất (SETI) khảo sát một triệu ngôi sao kiểu Mặt trời nhằm tìm tín hiệu
vô tuyến thông minh trong vòng khoảng cách gần 1000 năm ánh sáng.
Từ trước đến nay, đã phân tích số tín hiệu ngoài địa cầu ứng cử viên không mang lại
thành quả gì, một slượng không ngừng tăng lên của c nhà nghiên cứu SETI đã và đang chủ
trương những phương pháp triệt để hơn nhằm trả lời câu hỏi của Fermi. Một trong những phương
pháp cách tân nhất, sẽ được trình bày trong tháng y tại Hội nghị Khoa học Sinh vật học trụ
tại Santa Clara ở California, bao gồm việc tìm kiếm bằng chứng của công trình nhân tạo ngoài địa
cầu dưới dạng những đề án “công nghệ thiên văn” quy mô lớn.
Các nhà văn khoa học viễn tưởng từ lâu đã đề xuất rằng những nền văn minh tiên tiến
khả năng khai thác toàn bộ năng lượng của ngôi sao bố mcủa họ bằng cách “công nghmô”
toàn bộ hệ mặt trời của họ, hay thậm chí khai thác năng lượng của toàn bộ thiên hà. Trong khi
những thành tựu công nghệ trụ như thế vẫn chất liệu của truyện khoa học viễn tưởng, thì
không có gì không khoa học nếu ai đó hỏi những cấu trúc như thế trông ra làm sao nếu như những
người khác đã xây dựng chúng rồi tìm trên bầu trời bằng chứng của dấu hiệu thiên văn thể
có của chúng.
Ehững quả cầu Dyson
Năm 1960, được truyền cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết Star Maker của nhà văn khoa học
viễn tưởng Olaf Stapledon, nhà vật lí thuyết Freeman Dyson cho rằng những nền văn minh tiên
tiến có thể đã triển khai những đề án công nghệ vũ trụ khổng lồ, chúng được gọi là những quả cầu
Dyson (
Science 131 1667
). Dyson đã tả những nền văn minh khả năng khai thác năng
lượng của ngôi sao của hbằng cách phá hủy một hành tinh kích cỡ Mộc tinh tạo ra từ một
vỏ hình cầu y 2-3 m quay tròn xung quanh ngôi sao. Vỏ cầu đó bán kính trung bình chừng
150 triệu km (lớn hơn một chút so với khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời). Về nguyên tắc, mặt
bên trong của qucầu Dyson sẽ bắt giữ rồi truyền bức xạ mặt trời về phía c điểm thu gom,
nơi nó có thể được chuyển hóa thành năng lượng sử dụng được (xem hình Khai thác Mặt trời).
Điều này làm phát sinh một viễn cảnh hấp dẫn trong công cuộc tìm kiếm sự sống ngoài địa
cầu. Năm 1964, nhà vật Liên Nicolai Kardashev đã phân loại c nền văn minh ngoài địa
cầu theo mức độ tiến hóa từ loại KI đến KIII. Nhà thiên văn người Carl Sagan ước tính rằng
loài người chỉ mới ở vào giai đoạn đầu của nền văn minh KI, nó được định nghĩa là nền văn minh
có khả năng khai thác toàn bộ bức xạ mặt trời đi đến bầu khí quyển của nó. Một nền văn minh KII,
41 Tuyển Physics World 2008 | © hiepkhachquay
trái lại, có thể sử dụng một quả cầu Dyson để khai thác trực tiếp năng lượng của ngôi sao quê nhà
của nó; còn một nền văn minh KIII có khả năng khai thác năng lượng của toàn bộ một thiên hà.
“Bầu trời đông đúc các vật thể những nguồn hồng ngoại sáng nhưng không nhìn thấy
trong dải phổ khả kiến”, Dyson nói. “Không códo gì cho rằng bất kì vật thể nào trong số chúng
là nhân tạo, nhưng chúng trông y như một quả cầu Dyson được đề xuất trông như vậy”.
Khai thác Mặt trời. Quả cầu Dyson là một vật thể giả thuyết được xây dựng bởi những nền văn minh tiên tiến cao đ
ngoài địa cầu để khai thác công suất bức xạ toàn phần của một ngôi sao kiểu Mặt trời. Về nguyên tắc, một nền văn
minh như thế sẽ thu gom năng lượng tại những điểm nhất định trên quả cầu để cung cấp cho nhu cầu năng lượng
riêng của họ. Thay vì tìm kiếm dấu hiệu của những nền văn minh tiên tiến bằng cách tìm kiếm tín hiệu vô tuyến và
khả kiến, một số nhà vật lí nghĩ rằng cách có lợi hơn là nên tìm bằng chứng của những quả cầu như thế.
Vấn đề là ở chỗ khó mà tìm ra những vật thể thiên văn nhân tạo như thế từ nhiều vật thể tự
nhiên khác trông y hệt. Trong khi một quả cầu Dyson hoàn hảo, trên thuyết, sẽ hấp thụ năng
lượng của ngôi sao của nó và do đó không phát ra chút bức xkhả kiến hay tử ngoại nào ngôi
sao giải phóng trong phần lớn cuộc đời của chúng, thì vỏ cầu sẽ phát xtrở lại nhiệt hao phí
gây ra một sự phát xạ hồng ngoại mạnh. Tuy nhiên, vào lúc bắt đầu kết thúc cuộc đời của
chúng, các ngôi sao chìm ngập trong những đám y bụi ấm áp cũng làm chúng phát xmạnh
trong vùng hồng ngoại xa. Thật vậy, việc đo sự thừa hồng ngoại của một ngôi sao hiện nay
phương pháp được ưa chuộng trong việc tìm kiếm các đĩa tiền hành tinh giả định quay xung
quanh những ngôi sao trẻ (xem hình Thách thức quan sát).
42 http://www.thuvienvatly.info | © hiepkhachquay
Sự phong phú của các nguồn hồng ngoại tự nhiên khiến khó nhận ra một nguồn nhân
tạo chỉ sử dụng bức xạ hồng ngoại. Tuy nhiên, Dyson nói rằng chúng ta thể gặp may phát
hiện ra một nguồn hồng ngoại với một phổ lạ hay một sự biến thiên thời gian không thể giải
thích một hiện tượng tự nhiên. “Chúng ta không thể nói chắc chắn rằng những điều như thế
không thể”, theo lời Dyson, người là giáo sư danh dự tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton.
Dan Werthimer, giám đốc chương trình SETI tại đại học California Berkeley, đồng ý
như vậy. “Bạn thể tranh cãi cho đến khi nào bạn bắt gặp những nền văn minh xây dựng nên
các quả cầu Dyson, nhưng nếu đó là một khả năng thì tại sao lại không nhìn thấy ?”, ông nói.
Kết luận hồng ngoại
Đã một số cuộc m kiếm quả cầu Dyson. m 2004, Werthimer người học trò của
ông khi y chưa tốt nghiệp, Charlie Conroy, đã phân tích số liệu phổ từ 1000 ngôi sao kiểu mặt
trời ít nhất là một tỉ năm tuổi, đảm bảo rằng những ngôi sao đó đã chiếu sáng lâu lớp bụi liên quan
đến các đĩa tiền hành tinh. Đôi nghiên cứu tìm kiếm 32 sao với sự phát xạ hồng ngoại dư thừa cho
dấu hiệu phát xạ tuyến bất thường hoặc các xung laser khả kiến nano giây xác nhận cho một
nguồn gốc thông minh nhân tạo, nhưng họ tìm thấy không tín hiệu o kiểm tra được.
Werthimer nói rằng lời giải thích có khả năng nhất cho những ứng cử viên nàycó một số bụi
mặt, cho dù chúng là những ngôi sao già.
Nhà vật lí Freeman Dyson là người trong một bài báo năm 1960 đã mô tả cách thức những nền văn minh
tiên tiến ngoài địa cầu có thể thực thi những đề án công nghệ vũ trụ khổng lồ.
Trong khi đó, nhà vật hạt Fermilab đã nghỉ hưu, Dick Carrigan, người vẫn nghiên cứu
phòng thí nghiệm vật năng lượng cao nằm ngoài vùng ngoại ô Chicago, đã bỏ ra 5 năm qua cần
43 Tuyển Physics World 2008 | © hiepkhachquay
cù tinh lọc 11.224 nguồn nhận ra bởi Vệ tinh Thiên văn Hồng ngoại (IRAS) xuống còn một nhóm
ứng cử viên sự phát xạ hồng ngoại dư thừa. Carrigan còn chấp nhận khả năng rằng một số qu
cầu khả năng không hoàn toàn hoàn chỉnh. Từ một vùng khảo sát chứa hơn một triệu ngôi sao
kiểu mặt trời, hai sao đã được quét cho tín hiệu vô tuyến dị thường: không tìm thấy gì cả.
Một trong những tiêu chuNn chọn lọc chính của Carrigan, ngoài sự thiếu bụi sự mặt
của những vạch phổ nhất định biểu thị một công trình nhân tạo, các nguồn phải nhiệt độ
hồng ngoại 200 600 K. giải của ông sự sống như chúng ta biết quanh quNn trong khoảng
200 K và nhiệt độ trên 400 K có thể tạo trục trặc cho nền điện tử của nền văn minh ngoài Trái đất.
Không có gì ngạc nhiên là không phải ai cũng đồng ý như vậy.
“Khó dự đoán rằng nếu như các nền văn minh y dựng những quả cầu Dyson, thì họ
sẽ phát xlại nhiệt hao phí của họ 200 K”, Werthimer nói. “Tôi cũng không đồng ý rằng họ
đang nền điện tử học giống hệt như của chúng ta. Bạn không thể bác bnhững nền văn minh
tiên tiến chỉ bạn không tìm thấy nhiệt thừa với bước sóng 12 µm [tương ứng với nhiệt độ
250 K]”.
Các quả cầu Dyson lkhông dễ m thấy, nhưng việc tìm kiếm chúng một smặc
cả so với m kiếm SETI thời gian thực, chúng thường bao gồm một chương trình quan sát tích
cực với những cấu điện tử phức tạp nh thiên văn công nghệ cao. n nữa, không giống
như đa số cuộc m kiếm SETI tuyến khả kiến, các nhà thiên văn đang tìm kiếm công nghệ
trụ không cần giả srằng bên ngoài Trái đất một sự hấp dẫn tích cực về struyền thông
giữa các sao. Với tất cả những chúng ta biết, họ lẽ những kẻ công nghệ cao đơn giản
muốn có tuổi thọ sao.
Nhà thiên văn vật James Annis tại Fermilab đã áp dụng triết học cho cuộc m kiếm hạn
chế của riêng ông tìm những nền văn minh KIII. Cách đây vài năm, ông đã phân ch động lực
học chuyển động quay của 137 thiên khác nhau từ cụm thiên Ursa Major Virgo. Ông đã
lập biểu đồ độ sáng sao của chúng theo sự phân tán vận tốc sao của chúng, số đo động lực học
động học của sự phân bsao khi các thiên chuyển động vào đi qua c thiên chủ của
chúng. Một thiên hà được khai thác thuật, trong đó hầu như mỗi ngôi sao kiểu Mặt trời bên
trong thiên hà đều bị khép kín trong một quả cầu Dyson có sự phát xạ hồng ngoại rất cao, độ sáng
quang học yếu và vận tốc quay sao thuộc thiên hà cao trong trường hợp các thiên hà hình cầu; hay
sự phân tán sao vận tốc cao trong trường hợp các thiên hà elip.
Theo tính toán của Annis, một dấu hiệu công nghệ như thế lbạn sẽ thấy chỉ
khoảng một phần 100 của 1% ánh sáng phát ra từ thiên hà. “Nếu bạn nhìn thấy những đám y
bụi ràng xung quanh một thiên ứng cử viên trong vùng hồng ngoại, thì thể một
thiên sao bụi lờ mờ trong đó bụi rất dày đặc bạn thể nhìn thấy sự hình thành sao đang
diễn ra”, ông nói. “Nhưng nếu bạn thu được một ảnh thiên hà hồng ngoại hoàn toàn trơn không có
vón cục, thì đó một đối tượng thú”. Để tạo ra một schập choạng quang học như thế quy