1
Vũ trụ không nhìn thấy
Michael Rowan-Robinson
Khi chúng ta nhìn vào bầu trời đêm trong sáng, chúng ta thấy chỉ một phần của cái
trụ chứa trong : chủ yếu là các ngôi sao trong thiên của chúng ta phát sáng trong dải
bước sóng khả kiến hẹp từ 390 đến 750 nm.
Các kính thiên văn quang học đã mở rộng tầm nhìn đó đến những thiên xa i,
nhưng chỉ trong thế kỉ qua hay chừng khoảng thời gian y, khi chúng ta bắt đầu quan sát một
ngưỡng rộng những bước sóng điện từ không nhìn thấy, thì vở kịch tổng thể của trụ mới
được vén màn bí ẩn.
Bức xạ không nhìn thấy đầu tiên được phát hiện ra nằm trong vùng hồng ngoại,
những bước sóng từ 750 nm đến 1 mm. được phát hiện ra vào năm 1800 khi nhà thiên văn
học na Anh William Herschel sử dụng một lăng kính để phân tách ánh sáng mặt trời nhìn
thấy mực thủy ngân của một nhiệt kế đặt ngoài đầu đỏ của quang phổ bắt đầu dâng lên.
Thiên văn học hồng ngoại ra đời vào thập niên 1960. nghiên cứu các vật thể trong
trụ những nhiệt độ từ 10 đến 100 kelvin: các tiểu hành tinh, sao chổi, bụi giữa các sao,
những ngôi sao mới chào đời và các thiên hà.
Môi trường giữa các sao của cặp đôi thiên hà Anten chỉ
phát ra phổ hồng ngoại – nó trông tối đen tại bước sóng
ánh sáng mà mắt chúng ta có thể nhìn thấy. (Ảnh:
NASA/ESA/HHT/STSCI/AURA)
2
T bi đn bi
Nguồn phát đáng kể nhất của ánh sáng hồng ngoại đi tới Trái đất môi trường giữa
các sao. Hỗn hợp khí bụi này tràn khắp không gian giữa c sao trong các thiên hà
nhiệt độ từ 10 đến 50 kelvin. chỉ phát xạ trong vùng hồng ngoại, làm lu mờ ánh sáng
nhìn thấy phát ra từ những ngôi sao ở xa, làm đỏ hóa màu sắc của chúng.
Ảnh chụp trực tiếp đầu tiên của bụi giữa các sao xuất hiện vào năm 1983 với Vệ tinh
Thiên văn học Hồng ngoại (IRAS), một chiếc kính thiên văn trụ do Mĩ, Lan Anh
quốc tài trợ. Đó một thời khắc đáng nhớ trong lịch sthiên văn học. Việc quan sát bụi giữa
các sao cho phép chúng ta nhìn thoáng qua chu trọn vẹn của cuộc sống cái chết của ngôi
sao, cả sự hình thành của những ngôi sao hệ hành tinh mới từ bụi thỉnh thoảng trong
những đợt dữ dội như khi các thiên xa xôi va chạm nhau tlâu trước khi những ngôi sao
này trở nên khả kiến trước các kính thiên văn quang học. Một thí dụ tiêu biểu là cặp thiên
đang ló dạng tên gọi là Anten, cách chúng ta khoảng 45 triệu năm ánh sáng: những vùng hồng
ngoại sáng nhất của chúng là tối đen ở những bước sóng nhìn thấy.
Các quan sát hồng ngoại còn cho biết những ngôi sao đang qua đời tống ra các đám
mây bụi và khí, làm đầy thêm môi trường giữa các sao. Bụi đó chủ yếu là silicate và carbon
định hình cát bồ ng. Sự sản sinh chất bụi này thiết yếu cho sự tồn tại của chúng ta:
mỗi nguyên tcarbon trong thể chúng ta được tạo ra trong lõi của một ngôi sao, được
giải phóng ra khi ngôi sao qua đời, trôi giạt trong môi trường giữa các sao trước khi bị hút
vào hệ mặt trời của chúng ta.
Những thế giới khác
Kính thiên văn trụ hồng ngoại chuyên dụng đầu tiên, IRAS, tìm thấy các đĩa bụi
cùng những mảnh vỡ khác xung quanh một số ngôi sao sáng, mang lại phương pháp tìm kiếm
các hhành tinh. Các khảo sát hồng ngoại ktừ đó đã phát hiện ra nhiều đĩa mảnh vỡ các
hành tinh đang trong quá trình hình thành.
Các hành tinh ngoài hệ mặt trời hình thành trọn vẹn nhất đã được các kính thiên văn
quang học phát hiện ra hoặc qua sự biến thiên nhỏ của vận tốc ngôi sao khi hành tinh quay
xung quanh nó, hoặc sự giảm đi rất ít độ sáng của ngôi sao khi hành tinh đi qua phía trước
ngôi sao. Các thiết bị hồng ngoại, như Kính thiên văn vũ trụ Spitzer, vai trò bổ sung quan
trọng. Chúng tìm kiếm “Mộc tinh nóng”, những hành tinh nặng quỹ đạo gần, khi chúng đi qua
phía trước ngôi sao chủ.
Một thiết bị hồng ngoại trên nh thiên văn Rất Lớn của Đài thiên văn Nam châu Âu thiết
bị đầu tiên cung cấp một ảnh chụp trực tiếp của một hành tinh ngoài hệ mặt trời. Vật thể y,
đang quay xung quanh một ngôi sao lùn nâu, nặng hơn Mộc tinh đến năm lần.
Các nguồn gốc thiên
các quan sát hồng ngoại do thám các ngôi sao khi chúng hình thành qua đời, nên
chúng ta thể sử dụng để nhìn ngược về thời gian, tìm hiểu xem các ngôi sao thiên hà đã
hình thành như thế nào trong lịch sử vũ trụ gần như xa đến tận thời Big Bang.
3
Khi Tàu khảo sát Bức xnền trụ (COBE) của NASA, sứ mệnh trphóng lên
quỹ đạo vào năm 1999, đo được toàn bộ bức xạ nền ở các bước sóng milimet và dưới milimet,
tìm thấy một sự đóng góp mạnh mẽ tnhững thiên xa. Hóa ra hơn một nửa năng
lượng phát ra bởi những ngôi sao xa xôi ở các bước sóng quang học và tử ngoại bị hấp thụ bởi
bụi giữa các sao và phát xạ trở lại trong vùng hồng ngoại trước khi nó đi tới chúng ta, mang lại
cơ sở hồng ngoại cho kiến thức vũ trụ của chúng ta.
Bức xạ hồng ngoại còn quan trọng trong việc tìm hiểu xem các thiên đầu tiên nhất
đã phát sinh nthế nào. trụ hiện đang giãn nở, nghĩa đa số các thiên đang lùi ra xa
chúng ta bức xạ chúng phát ra chịu sdịch chuyển Doppler sang những bước sóng dài
hơn. “Sự lệch đỏ” này có nghĩa là ánh sáng khả kiến phát ra từ các thiên hà xa xôi nhất đã biết,
phát ra trong những tỉ năm đầu tiên sau Big Bang, bị kéo giãn sang những bước sóng hồng
ngoại khi nó đi tới chỗ chúng ta.
Thiết bị sao: Herschel
Đa số bước sóng hồng ngoại bị hấp thụ bởi nước carbon dioxide trong khí quyển,
với chỉ một vài “cửa sổ” phổ hồng ngoại hẹp đi tới được mặt đất. Do đó, các kính thiên văn
hồng ngoại phải được lắp đặt trên đỉnh núi, hoặc tốt hơn là trong không gian.
Nhà địch hiện nay trong vương quốc hồng ngoại kính thiên văn Herschel của
quan Vũ trụ châu Âu, bắt đầu hoạt động vàom 2009. Nó là chiếc kính thiên văn lớn nhất
từng được đưa lên quđạo, nó mang theo một quang phổ kế cùng hai camera bao quát các
bước sóng từ 70 đến 500 micromet. Toàn bộ thiết bị này phải được làm lạnh xuống nhiệt độ
gần không độ tuyệt đối để ngăn sự phát xạ hồng ngoại riêng của kính ảnh hưởng đến các phép
đo.
Trong khi dữ liệu nh Herschel thu thập đang trong quá trình phân tích, thì chiếc
kính thiên văn này vẫn tiếp tục cung cấp một số nh ảnh ngoạn mục của các đám y bụi
dạng sợi mảnh giữa các sao trong đó các ngôi sao thể đang hình thành, cũng như ảnh của
các thiên với những lượng lớn bất ngờ của khí bụi rất lạnh những nghiên cứu trước đây
đã bỏ qua.
Nhìn vào không gian sâu thm
Các kính thiên văn tuyến vi sóng đang đắm mình trong trụ lạnh lẽo lắm
xảo quyệt – từ bức xạ tàn dư của Big Bang cho đến các pulsar và quasar cực mạnh.
Kính thiên văn vô tuyến và vi sóng nghiên cứu những bước sóng điện từ dài nhất các
sóng dài hơn khoảng 1 mm. Một số trong những bức xạ này được tạo ra bởi những vật thể lạnh
lẽo nhất trong vũ trụ, thí dụ như bức xạ nền 2,7 kelvin phát ra từ Big Bang.
Tuy nhiên, đa phần bức xạ được phát ra dưới dạng “bức xạ synchrotron”, giải phóng
khi các electron chuyển động xoắn c trong từ trường gần tốc độ ánh sáng. Việc nhận dạng
các nguồn bức xạ này đã làm hé lộ một số vật thể cực độ nhất của vũ trụ, thí dụ như các pulsar
và quasar.
4
Quasar
Nguồn phát sóng tuyến đầu tiên trên bầu trời được phân biệt rõ, Cyg A trong chòm
sao Cygnus, được nhận dạng một thiên xa xôi vào năm 1954. Vào năm 1962, các nhà
thiên văn tại trường Đại học Cambridge đã lập danh sách hơn 300 nguồn phát tuyến trên
bầu trời phương bắc.
Một vài trong snày là những tàn của các sao siêu mới trong thiên của chúng ta,
trong đó có một vật thể - ngày nay được biết là một pulsar – nằm tại tâm của tinh vân Con cua,
tàn của một vụ nổ sao siêu mới các nhà thiên văn Trung Quốc đã nhìn thấy vào năm
1054 sau công nguyên. Tuy nhiên, đa số chúng thuộc về các thiên xa. Một số xuất hiện
cùng với các vật thể trông tựa như sao, được gọi các nguồn phát tuyến giống như sao,
hay quasar. Những vật thể cỡ nhỏ, tỏa sáng y khiến người ta tranh cãi lâu dài. Ngày nay,
chúng ta tin chúng là các lỗ đen siêu khối nằm tại tâm của các thiên hà ở xa, với khối lượng từ
một triệu đến một tỉ lần khối lượng của mặt trời.
Ngày nay, chúng ta ngờ rằng đa số các thiên hà, kể cả thiên của chúng ta, một l
đen nằm tại tâm của chúng, trong các thiên tuyến các quasar, lỗ đen này đang
ngốn lấy chất khí bao xung quanh. Khi chất khí chuyển động xoắn ốc về phía lỗ đen, các
đường sức từ trong chất khí cuộn lại theo, làm tăng tốc các electron và tạo ra sóng tuyến.
Tính cho đến nay, người ta đã biết tới hơn 200.000 quasar.
Các tương tác liên thiên hà
Các thiên thông thường chứa đầy chất khí hydrogen. các nguyên tử hydrogen
phát ra sóng tuyến với bước sóng 21 cm, nên các kính thiên văn tuyến có thể lập bản đồ
chất khí này. Thường tvượt ra khỏi ranh giới nhìn thấy của thiên thậm chí thể
liên kết với các vật thdường như tách rời bên ngoài. Một tdụ nhóm thiên M81 cách
xa chúng ta 12 triệu m ánh sáng. Nhìn qua kính hiển vi quang học, những thiên hà y
dường rời rạc, nhưng các quan sát tuyến cho biết một mạng lưới hydrogen tạo liên kết giữa
chúng, qua đó chúng kéo giật lên nhau bằng lực hấp dẫn.
Chúng ta thể thu được số thông tin về động lực học nội của các thiên bằng
cách nhìn vào các vạch phổ khác phát ra từ các chất khí giữa các sao, thí dụ như trong dải vi
sóng, nằm giữa dải tuyến hồng ngoại. Những quan sát như vậy lộ rằng các đám y
phân tử đậm đặc sự phong phú chất hóa học, phần nhiều trong số đó gốc carbon: hơn
140 phân tử đã được nhận dạng, với carbon monoxide là dồi dào nhất xếp sau hydrogen.
Kính thiên văn vô tuyến có thể chuyển động 64 m
Parkes ở Australia là đĩa vô tuyến có thể chuyển động
lớn thứ hai ở bán cầu nam. (Ảnh: Roger
Ressmeyer/Corbis)
5
Pulsar
Năm 1967, Jocelyn Bell Antony Hewish đang nghiên cứu phổ phát xạ của các
quasar với một anten tuyến mới Cambridge, Anh quốc, khi y Bell để ý thất một tín hiệu
tuyến dạng xung lặp lại chừng mỗi giây một lần. Đó đối tượng đầu tiên thuộc một họ
nguồn phát tuyến mới gọi pulsar. Những sao neutron đang quay nhanh này, tàn của
các sao siêu mới khối lượng lớn, từ trường rất lớn, thể đạt tới 10 gigatesla; để so sánh,
hãy lưu ý ttrường của Trái đất chúng ta chỉ khiêm tốn 50 microtesla. Khi chúng quay
tròn, các pulsar phát ra bức xạ synchrotron dạng tia quét qua không gian giống như tia sáng
của đèn hải đăng, mang lại tín hiệu dạng xung các kính thiên văn của chúng ta thể nhìn
thấy.
Các kính thiên văn vô tuyến đã tìm thấy hàng nghìn pulsar với chu kì biến thiên từ một
mili giây cho đến vài giây. Năm 1974, quđạo của một pulsar trong một hệ đôi một sao
neutron bình thường, không phát xung, đã được nhìn thấy đang từ từ quay chậm lại đúng như
thể đang phát ra sóng hấp dẫn bằng chứng gián tiếp duy nhất chúng ta được từ
trước đến nay cho một tiên đoán chủ chốt của thuyết tương đối rộng Einstein.
Nền vi sóng vũ trụ
Năm 1965, trong khi đang cố gắng thực hiện những quan sát vi sóng đầu tiên của Dải
Ngân hà, Arno Penzias Bob Wilson thuộc Bell Labs Holmdel, New Jersey, nhận thấy
thiết bị của họ bị nhấn chìm trong tín hiệu nhiễu không giải thích được đến từ mọi hướng của
bầu trời. Đây hóa ra là một trong những khám phá thiên văn quan trọng nhất của thế kỉ 20: bức
xạ còn sót lại từ thời Big Bang, gọi là bức xạ nền vi sóng vũ trụ hay CMB.
Bức xy phổ giống hệt như phcủa một vật nhiệt độ 2,73 kelvin, một sự xác
nhận tuyệt vời của cái mà thuyết Big Bang tiên đoán. Cường độ của hầu như y hệt nhau
cho dù bạn nhìn về hướng nào: nếu bỏ qua sự biến thiên có hệ thống 1/1000 gây ra bởi chuyển
động của thiên của chúng ta trong trụ, thì cường độ của biến thiên không quá
1/100.000.
Những thăng giáng nhỏ u này chẳng quan trọng, nhưng chúng cung cấp rất
nhiều thông tin về sự phong phú của các loại khối lượng năng lượng khác nhau trong
trụ. Các phép đo CMB do Vệ tinh Khảo sát Vi ng Phi đẳng hướng Wilkinson (WMAP) cho
thấy chỉ 4% trụ là vật chất bình thường, còn 23% vật chất tối không nhìn thấy, được cho
cấu tạo từ những hạt chưa rõ, và 73% vật chất tối còn khó hiểu hơn nữa, bản chất của
vẫn còn là một bí ẩn.
Sứ mệnh Vệ tinh giám sát Planck của quan trụ châu Âu, phóng lên hồi năm
2009 trên cùng tên lửa mang kính thiên văn hồng ngoại Herschel, sẽ lập bản đồ CMB chi tiết
tinh vi hơn WMAP, lcòn phát hiện ra cả dấu vết của sóng hấp dẫn còn sót lại từ những
giai đoạn đầu của Big Bng.
Ma trận Kính thiên văn Rất Lớn
Hình ảnh cổ điển của nh thiên văn tuyến một cái đĩa vtinh tuyến mở to.
Các thí dnổi tiếng gồm các nh thiên văn thể điều khiển tại Jodrell Bank Anh, Đài
thiên văn Parkes New South Wales, Australia, Đài thiên văn tuyến quốc gia tại Green