1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến tỉnh Ninh Bình.
Chúngi :
STT
Họ và tên
Ngày
tháng
m sinh
Nơi công tác Chức danh Trình độ
chuyên môn
Tỉ lệ
(%)
đóng
góp
1 Trần Văn Viện 10/6/1959
Phòng GD&ĐT
Nho Quan
P.Trưởng
Phòng GD
ĐHGD Chính
trị 20
2 Phan Thiết Khoa 16/5/1972
Phòng GD&ĐT
Nho Quan Chuyên viên
ĐHSP Văn 20
3 Quách Thị Quyên
19/05/1980
THCS Gia Lâm
Giáo viên CĐSP Sử- CD 20
4 Đinh Thị Loan 1985
Trường THCS
Qunh Lưu Giáo viên ĐHSP Sử 20
5 Trần Thị Kim Oanh
10/7/1972
Trường THCS
Qunh Lưu Hiệu trưởng ĐHSP Toán 20
Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
“Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Lịch Sử ở trường THCS
huyện Nho Quan”
I. CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG KIẾN: Phòng Giáo dục và đào tạo Nho Quan
II. THỜI GIAN ÁP DỤNG: Tm học 2015 – 2016; 2016 - 2017
III. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: Phương pháp dạy học
IV. TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
1. Nội dung sáng kiến
Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học nói chung, đổi mới hình thức tổ
chức hoạt động học môn Lịch sử nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết.
Đặc biệt, hiện nay học sinh chưa thực sự quan tâm coi trọng môn Lịch sử. Do
đó, việc đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Lịch Sử một trong
những nội dung nhằm góp phần đổi mới phương pháp dy học ng cao chất
lượng học bộ môn cho học sinh. Đồng thời, giúp giáo viên nhận thức
hướng đi tích cực khi tổ chức hoạt động học nhằm đa dạng a c hình thức
dạy học. Học sinh ngoài học trên lớp các em được trải nghiệm thực tế, được
nghe những câu chuyện lịch sử thật, được thấy những hiện vật, những liệu
2
cụ thể, được cm nhận, được tìm hiểu, thảo luận, hợp tác, được “hóa thân” vào
các nhân vật, sự kiện, nội dung lịch sử… giúp học sinh nâng cao khả năng tư duy
gắn thuyết với thực tiễn việc lĩnh hội kiến thức trở nên đơn giản hơn, sống
động hơn, khơi dậy các em niềm u thích môn Lịch sử, thái độ hứng thú, say
đối với môn học. n luyện nh ch động, tích cực, sáng tạo trong học tập.
Đó do nhóm Lịch sử của png GD&ĐT huyện Nho Quan thực hiện
đề i ng kiến kinh nghiệm: “Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học n
Lịch Sử cấp THCS”. Với mục đích từng bước đáp ứng yêu cầu của chương
trình đổi mới giáo dục lấy hoạt đng học làm trung m, nhằm tiếp cận dần với
hình trường hc mới và thực hiện hiệu quả chủ trương của Bộ GD&ĐT
về đổi mới phương pháp và hình thức dạy hc trong các n trường.
1.1. Giải pháp cũ thường làm
1.1.1. Nội dung giải pháp
Trong những năm gần đây, mặc đã tích cực tiến hành đổi mới phương
pháp dạy học tuy nhiên đ học sinh hứng thú, yêu thích và say mê học môn Lịch
s thì n là mt vấn đề mà nhiều giáo viên các trường THCS nói chung và c
trường THCS Nho Quan nói riêng vẫn còn đang lúng túng trong việc tìm ra
các giải pháp sao cho phù hợp.
Hình thức dạy học Lịch sử hiện nay chủ yếu vẫn kế thừa theo hình thức dạy
học truyền thống. Xét về bản chất, đây phương pháp dy học trên lớp,
những cách thức dạy học quen thuc được truyền từ u đời được bảo tồn,
duy trì qua nhiều thế hệ. Thực hiện lối dạy này, giáo viên từ chỗ người thuyết
trình, diễn giảng “thầy giảng trò nghe”, thì thầy đặt câu hỏi để thu hút nhiều
học sinh trả lời sau đó thầy phân tích, giải thích lại đhọc sinh nghe, nhớ, ghi
chép suy nghĩ theo với mục tiêu chuyển tdạy học lấy giáo viên m trung
tâm sang lấy học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên học sinh phải ghi chép nhiều,
các em chưa được quan sát thực tế, chưa hội thảo luận để phát huy tính
tích cực trong học tập.
1.1.2. Ưu điểm của giải pháp cũ
Về không gian và thời gian:
Không gian giới hạn trong mt phòng học chỉ với không q45 học sinh
theo schỉ đạo của Bộ GDT cho n giáo viên dquan sát, dễ điều hành.
Giúp giáo viên có thể truyền đạt một khối lượng kiến thức lớn trong mt khoảng
thời gian ngắn; Giáo viên hoàn toàn chủ động trong giờ giảng của mình, không
gặp khó khăn trở ngại đối với những vấn đcó thể nảy sinh trên lớp; học sinh
tiếp thu được nhiều kiến thức khi họ nhận được càng nhiều thông tin từ giáo
viên;
Thời gian đưc xác đnh là 45 phút trong một lớp, do đó giáo viên người
hoàn toàn chủ động về thời gian và nội dung giảng dạy; Giảm bớt những khó
khăn, thời gian cho giáo viên trong việc chuẩn bị, chỉ cần chuẩn bbài giảng
thuyết trình mt lần người giáo viên thể sdụng đgiảng dạy trong nhiều
lần. Còn các nhà trường cũng chủ động trong việc xây dựng kế hoạch dạy học.
3
Phương tiện, thiết bị và đồ dùng dy học: Giáo viên đã tăng cường sử dụng
tranh ảnh, lược đồ, phương tiện nghe nhìn như máy chiếu, Tivi, đài nh
hình vào trong giảng dạy. Hiện nay ng nghệ thông tin phát triển giáo viên
học sinh có thể tiếp cận với tranh ảnh, liệu, tài liệu từ mạng Internet… để làm
phong phú hơn cho bài giảng của mình.
Đối tượng: hc sinh của mt lớp với số lượng không quá 45 hc sinh theo
s chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, chính vậy giáo viên thquản một cách d
dàng không vất vả, đồng thời hoàn toàn chủ động trong giờ giảng của mình,
không gặp khó khăn trở ngại đi với những vấn đ thể nảy sinh trên lớp; học
sinh ít nên gihọc tập trung hơn, tiếp thu được nhiều kiến thức khi các em nhận
được càng nhiều thông tin từ giáo viên;
Mặc hiện nay việc sử dụng phương tiện, thiết b ứng dụng ng nghệ
thông tin trong các nhà trường được đẩy mạnh song con đường của đến với
học sinh chủ yếu phương pháp truyền thống, do vậy kết quả đạt được chưa
cao.
1.1.3. Hạn chế của giải pháp cũ
Đổi mới hình thức tổ chức dạy học trong môn Lịch sử s góp phần ng
cao chất lượng bài dy lịch s cũng nhiểu biết của học sinh. Hiện nay, hình
thức dạy học chủ yếu các nhà trường vẫn dạy học trên lớp với cách dạy
học theo phương pháp truyền thống mặccó những ưu điểm song cũng còn có
nhiều hạn chế:
Không gian và thời gian giới hạn thời gian chỉ 45 phút cho một tiết
học không gian bó hẹp, khép kín trong mt phòng học cho nên học sinh
không hội thời gian để quan sát, tìm hiểu, thu thập những liệu, tài
liệu từ thực tế để làm phong phú thêm cho bài học.
Đối ợng học học sinh của một lớp với số ợng không quá 45 em theo
s chỉ đo của Bộ Giáo dục - Đào tạo. Với số học sinh tham gia giới hạn do
đó các em ít được trao đổi, thảo luận, tương tác, khả năng hòa nhập cộng đồng
chưa . V phía giáo viên khi muốn truyền tải một nội dung kiến thức hay một
chủ đề o đó cho hc sinh trong cùng mt khối lớp hoặc các khối lớp khác
nhau lại phải thực hiện nhiều lần, khiến cho giáo viên vất vả, hoạt động thì lặp đi
lặp lại nhưng hiệu quả thu được không cao.
liệu thiết b dạy học ngoài sách giáo khoa, sách giáo viên tranh nh,
lược đồ, máy chiếu, loa đài, băng đĩa giáo viên học sinh còn ththu
thập liệu, tài liệu, tranh nh... trên mạng Internet nhưng việc sử dụng các
nguồn tư liệu, thiết bvà phương tiện dạy học còn mang tính hình thức chỉ nhằm
mục đích minh họa làm phong phú, sinh đng hơn cho nội dung bài giảng của
thầy, học sinh phải học thuộc lòng các kiến thức Lịch sử, nhớ các skiện một
cách máy móc, phải ghi chép nhiều, các em chưa được quan sát thực tế, chưa
hội thảo luận, hợp c, phát huy tính tích cực, không được hòa nhập vào cộng
đồng, trải nghiệm thực tế, không chủ đng trong việc lĩnh hội kiến thức từ thực
tế…
4
Do không khơi dậy được tình yêu, niềm say với n học cho học sinh
nên chất lượng đại trà, chất lượng mũi nhọn thường chưa cao. Việc lng ghép,
tích hợp kiến thức của nhiều môn học với nội dung phợp ng gặp nhiều khó
khăn dẫn đến các tiết học trở nên tẻ nhạt, học sinh thu đng tiếp nhận kiến thức
chay từ phía giáo viên.
1.2. Giải pháp mới cải tiến
Định ớng đổi mới phương pháp dạy học đã được c định trong nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII (1993), Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII (1996)
được thể chế hóa trong luật giáo dục sửa đi ban nh năm 2005 đã ghi
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học; Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng
thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên ”
Phát huy tính tích cực, chủ đng sáng tạo ca học sinh có nghĩa là phải thay
đổi cách dạy cách học. Chuyển từ hình thức dạy học lấy giáo viên làm trung
tâm hình thức lấy học sinh chủ thể hoạt động sang hình thức lấy hoạt động
học làm trung tâm, giáo viên người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn tạo n s
tương c tích cực giữa người dạy người học. Do đó chúng i đã tiến hành
một số hình thức tổ chức hoạt đng học theo định ớng pt triển năng lực học
sinh là
1.2.1. K chuyện lịch sử
Hình thức kể chuyện lịch sử như thế nào? Đtiến nh hoạt đng học
thông qua hình thức này chúng tôi đã gặp gỡ mời những chiến cách mạng,
chuyên gia lịch sử, những nhân chứng lịch sử đến tham dự buổi học và kể những
câu chuyện về lịch sử, đồng thời cùng trò chuyện, trao đổi giải đáp thắc mắc
của học sinh. Hình thức này rất có tác dụng trong việc giáo dục ởng, tình
cảm đạo đức cho hc sinh. Bởi vì, học sinh được tiếp xúc trực tiếp với những
con người thật - nhân chứng lịch sử - sức thuyết phục với học sinh hơn bt cứ
các phương tiện dạy học nào khác.
Chuyên gia lịch sử là những người am hiểu lịch sử, có trình độ chuyên môn
được đào tạo theo hướng chuyên sâu về một vấn đề lịch sử o đó.
Nhân chứng lịch s những người am hiểu lịch sử, những chiến ch
mạng lão thành tiêu biểu, những người thân của các nhân vật liên quan đến
lịch sử, những nhân chứng đã chứng kiến, tham gia các sự kiện trong thời điểm
lịch sử.
Thông qua việc tổ chức hoạt động hc bằng hình thức kể chuyện lịch s
giúp cho học sinh hiểu sâu hơn về ni dung bài học. Học sinh được trực tiếp
giao lưu, trò chuyện với nhân chứng lịch sử giúp các em hào hứng hơn với bài
học.
Để thực hiện đưc hoạt động y cần đảm bảo những yêu cầu sau: Có thể
tổ chức một buổi nói chuyện về nội dung lịch s riêng biệt hoặc thể lồng
ghép o một hoạt động ngoại khóa o đó, hoặc kết hợp với những buổi lễ,
ngày kỉ niệm một sự kiện lịch sử quan trọng, một danh nhân, lãnh tụ cách mạng,
những bui nghiên cứu lịch s địa phương…Đ một buổi nói chuyện về nội
5
dung lịch sđược thành ng thì giáo viên phải sự chuẩn bchu đáo nằm
trong Kế hoạch dạy học b môn được sự pduyệt của Ban giám hiệu nhà
trường.
Trước khi buổi i chuyện diễn ra thì giáo viên cần tập trung học sinh phổ
biến những quy định khi gặp gỡ nhân chứng lịch sử, sau đó giáo viên trao đổi
với nhân chứng về các vấn đề liên quan đến nội dung học sinh cần m hiểu nhờ
được giúp đỡ. Học sinh có thể trao đổi, đặt câu hỏi trực tiếp những thông tin cần
tìm hiểu.
Đối với người nói chuyện về lịch sử phải là những người am hiểu về lịch sử
được đào tạo chuyên sâu về lịch sử như chuyên gia lich sử, nhân chứng, các
chiến cách mạng lão thành tiêu biểu, những nhân chứng đã chứng kiến, tham
gia các sự kiện lịch sử, những người thân của các nhân vật liên quan đến lịch
s…Nội dung u chuyện phải liên quan đến các kiến thức cơ bn trong bài học
của bộ môn, chính xác tránh những chi tiết li kì không có giá trị khoa học, không
phù hợp với yêu cầu học tập. Kể chuyện phải làm cho người nghe xúc động, như
được sống lại với sự kiện ấy, như câu chuyện của các nhân chứng lịch sử hay
người kể lại đã thâm nhập với sự kiện
Khi tìm hiểu lịch sử địa phương Ninh Bình thông qua bài “Ninh Bình từ
năm 1919 đến cách mạng tháng tám năm 1945” chúng tôi đã tổ chức hoạt đng
ngoại khóa bằng hình thức kể truyện lịch sử tại trường THCS Quỳnh Lưu vào
ngày 25/2/2016. Chúng i đã mời Bác Đinh Kim Sinh thôn Anh Trỗi -
Quỳnh Lưu - Huyện Nho Quan một lão thành cách mạng một người trực
tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Nhật Quỳnh Lưu đã đến nói chuyện về
cách mạng tháng Tám Ninh Bình cthể phong trào chống Nhật Quỳnh
Lưu với sự tham dự của: chính quyền địa phương, đại diện phụ huynh học sinh,
lãnh đạo phòng GD&ĐT, học sinh toàn trường tổng số 339 em toàn thể giáo
viên dạy môn lịch sử tren địa bàn huyện Nho Quan.