
1
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
Đổi mới quan niệm về pháp luật, hệ thống pháp luật
và cấu trúc hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Ngày nhận: 17/09/2025 Ngày nhận bản sửa: 26/09/2025 Ngày duyệt đăng: 08/10/2025
Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc đổi
mới quan niệm về pháp luật, hệ thống pháp luật và cấu trúc hệ thống pháp
luật trở nên cấp thiết. Bài viết nhằm nhận diện những điểm không còn phù
hợp trong quan niệm ở Việt Nam về pháp luật, hệ thống pháp luật và cấu trúc
hệ thống pháp luật và gợi mở hướng khắc phục. Trên cơ sở khảo sát các giáo
trình, từ điển pháp lý, Hiến pháp và một số đạo luật liên quan của Việt Nam,
bài viết chỉ ra những đặc điểm chính trong quan niệm về pháp luật, hệ thống
pháp luật và cấu trúc hệ thống pháp luật đó là: (i) Khuynh hướng nhấn mạnh
pháp luật như công cụ quản lý của nhà nước hơn là nền tảng để bảo đảm
quyền con người và kiểm soát quyền lực; (ii) Còn thiên về “đơn nguồn” (văn
bản quy phạm pháp luật) trong khi thực tế đã công nhận điều ước, án lệ, tập
Rethinking contemporary conceptions of law, the legal system, and the structure of the legal
system in Viet Nam
Abstract: As Viet Nam enters a new phase of development, rethinking prevailing the conceptions of law,
the legal system, and its structure has become imperative. This article identifies key conceptual bottlenecks
in Vietnamese scholarship and practice and suggests remedies. Based on a review of leading textbooks,
legal dictionaries, the Constitution, and selected statutes, the analysis finds that: (i) law is still primarily
conceived as a tool of state management rather than a foundation for the protection of human rights
and checks on power; (ii) a statute-centric “single-source” understanding persists despite the formal
recognition of treaties, case law, and custom; (iii) the structure of the legal system is commonly reduced
to two layers (substantive content/formal sources) with insufficient attention to an operational layer; and
(iv) terminology, interpretive methods, and citation practices remain inconsistent. The paper therefore
proposes to reposition law as a rights- and accountability-based institution, consolidate a multi-source
approach, develop a three-layer structural model (content- form- operation), and standardize legal
terminology and interpretive techniques to advance legal development in Viet Nam.
Keywords: Law, Legal system, Structure of the legal system, Viet Nam
Doi: 10.59276/JELB.2025.11.3069
Vu Cong Giao
Email: giaovnu@gmail.com
Organization: University of Law - Vietnam National University Ha Noi
Vũ Công Giao
Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Đổi mới quan niệm về pháp luật, hệ thống pháp luật
và cấu trúc hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay
2Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
quán; (iii) Cấu trúc hệ thống pháp luật vẫn nghiêng về “hai lớp” (nội dung/hình
thức), chưa quan tâm thích đáng đến lớp vận hành; (iv) thuật ngữ, phương
pháp diễn giải và kỹ thuật viện dẫn chưa thống nhất. Từ đó, bài viết đề xuất
đổi mới quan niệm về ba vấn đề trên theo hướng định vị lại vai trò của pháp
luật, thừa nhận tiếp cận đa nguồn, phát triển mô hình cấu trúc ba lớp và chuẩn
hóa thuật ngữ- phương pháp diễn giải pháp luật ở Việt Nam.
Từ khóa: Pháp luật, Hệ thống pháp luật, Cấu trúc hệ thống pháp luật, Việt Nam
1. Giới thiệu
Kể từ Đổi mới (1986), Nhà nước Việt Nam
đã liên tục tiến hành cải cách pháp luật
nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Dù vậy, vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận về
những vấn đề nền tảng như pháp luật, hệ
thống pháp luật và cấu trúc của hệ thống
pháp luật. Bài viết nhằm trả lời các câu
hỏi: (i) những điểm nghẽn chủ yếu trong
nhận thức hiện nay về các vấn đề nêu trên
là gì; (ii) vì sao các điểm nghẽn đó cản trở
quá trình hoàn thiện pháp luật; và (iii) đổi
mới quan niệm về các vấn đề nêu trên theo
hướng nào để thích ứng bối cảnh mới. Bài
viết này sử dụng phương pháp phân tích
lý thuyết (doctrinal research) để tổng thuật
và đánh giá các diễn giải và quy định về
pháp luật, hệ thống pháp luật và cấu trúc
hệ thống pháp luật trong các giáo trình, từ
điển pháp lý và một số văn bản pháp luật
thực định của Việt Nam, đối chiếu, so sánh
với quan điểm phổ biến trên thế giới và với
những yêu cầu đặt ra với pháp luật trong
xã hội hiện đại, qua đó nhận diện những
hạn chế và hệ quả của những hạn chế trong
quan niệm truyền thống về 3 vấn đề này
ở Việt Nam hiện nay. Đóng góp mới của
bài viết là: (1) đề xuất định vị pháp luật
như nền tảng bảo đảm quyền và kiểm soát
quyền lực; (2) nhấn mạnh tiếp cận đa nguồn
thay cho tư duy “đơn nguồn” văn bản; (3)
kiến tạo mô hình cấu trúc ba lớp (nội dung-
hình thức- vận hành) và khuyến nghị chuẩn
hóa thuật ngữ, phương pháp giải thích và
kỹ thuật viện dẫn.
2. Quan niệm về pháp luật, hệ thống
pháp luật và cấu trúc hệ thống pháp luật
ở Việt Nam hiện nay
2.1. Quan niệm về pháp luật
Quan niệm trong các tài liệu học thuật
Dựa trên các giáo trình “Lý luận chung về
nhà nước và pháp luật” đang được sử dụng
rộng rãi ở các trường luật và một số từ điển
pháp lý, có thể khái quát các thuộc tính
cấu thành khái niệm “pháp luật” theo quan
niệm phổ biến của giới luật học ở Việt Nam
hiện nay như sau:
- Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung
do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện. Đây là thuộc tính mang tính phổ biến
được nêu trong định nghĩa pháp luật trong
nhiều giáo trình của các trường luật, trong
đó nhấn mạnh tính quy phạm, tính bắt buộc
chung, trình tự và thẩm quyền ban hành
và bảo đảm thi hành của Nhà nước với
pháp luật (Trường Đại học Luật Hà Nội,
2023; Đào Trí Úc & Hoàng Thị Kim Quế,
2023; Viện Khoa học Pháp lý- Bộ Tư pháp,
2006). Quan niệm này cũng được nêu trong
giáo trình Pháp luật đại cương do Bộ Giáo
dục và Đào tạo tổ chức biên soạn dành cho
bậc phổ thông, theo đó xem “pháp luật là
hệ thống quy tắc xử sự chung do Nhà nước
ban hành và bảo đảm thực hiện” (Bộ Giáo

VŨ CÔNG GIAO
3
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
dục và Đào tạo, 2015).
- Pháp luật mang bản chất giai cấp và tính
xã hội. Xuất phát từ lý luận Mác- xít, giáo
trình của một số trường luật xem pháp luật
là sự thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền,
đồng thời phục vụ lợi ích của giai cấp cầm
quyền và lợi ích chung của xã hội (Trường
Đại học Luật Hà Nội, 2023; Đào Trí Úc &
Hoàng Thị Kim Quế, 2023).
- Pháp luật là công cụ quản lý xã hội: Đây
cũng là thuộc tính mang tính phổ biến được
nêu trong định nghĩa pháp luật trong nhiều
giáo trình của các trường luật, nhấn mạnh
vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội
và trong việc thực hiện quyền lực nhà nước
(Trường Đại học Luật Hà Nội, 2023; Đào
Trí Úc & Hoàng Thị Kim Quế, 2023).
Ngoài những thuộc tính phổ biến trên đây,
trong diễn đàn học thuật gần đây, một số
nhà nghiên cứu đã đề xuất một số thuộc
tính mới và cách diễn đạt mới trong định
nghĩa về pháp luật, theo hướng bổ sung
hoặc nhấn mạnh các yêu cầu của nhà nước
pháp quyền mà tính thích ứng của pháp
luật với bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập
quốc tế và cách mạng khoa học công nghệ
đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
Quan niệm thể hiện qua Hiến pháp và các
luật chuyên ngành
Dựa trên Hiến pháp và một số đạo luật
chuyên ngành, có thể thấy quan niệm của
Nhà nước về các thuộc tính cấu thành khái
niệm “pháp luật” như sau:
- Pháp luật là công cụ bảo đảm quyền con
người, quyền công dân. Chương II Hiến
pháp năm 2013 đặt quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở vị
trí trung tâm, qua đó thể hiện quan niệm coi
Hiến pháp, pháp luật là công cụ ghi nhận,
bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền
công dân (Quốc hội, 2013). Quan niệm này
tiếp tục được thể hiện qua các luật chuyên
ngành, thể hiện sự phù hợp với định hướng
cải cách thể chế tại Nghị quyết 27-NQ/
TW của Đảng Cộng sản Việt Nam về tiếp
tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2022) và các tiêu chí
của nhà nước pháp quyền theo quan điểm
của các tổ chức quốc tế (United Nations,
2004; World Justice Project, 2024).
- Pháp luật là công cụ quản lý xã hội và tổ
chức quyền lực nhà nước. Thuộc tính này
cũng được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm
2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) qua các
quy định, Nhà nước “tổ chức và hoạt động
theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội
bằng Hiến pháp và pháp luật” (Quốc hội,
2013). Quan niệm này hướng đến tính hợp
hiến, tính thứ bậc của hệ thống pháp luật,
cũng như trong việc áp dụng pháp luật.
- Pháp luật có tính đa nguồn. Bên cạnh các
quy phạm pháp luật có tính truyền thống
do cơ quan nhà nước ban hành, Luật Điều
ước quốc tế năm 2016 thiết lập nguyên tắc
ưu tiên áp dụng các điều ước quốc tế: Việt
Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà nước
mình là thành viên, và trong trường hợp
xung đột với văn bản quy phạm pháp luật
thì điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng
(trừ Hiến pháp) (Quốc hội, 2016a). Bộ luật
Dân sự năm 2015 đã thừa nhận tập quán
và áp dụng tương tự pháp luật (Quốc hội,
2015); án lệ được lựa chọn, công bố và áp
dụng theo Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP
(Tòa án nhân dân tối cao, 2019). Về mặt
học thuật, trong một số giáo trình, ví dụ như
Giáo trình “Lý luận chung về nhà nước và
pháp luật” của Trường Đại học Luật- Đại
học Quốc gia Hà Nội, đã bắt đầu mở rộng
quan niệm về nguồn của pháp luật, theo đó
không chỉ xem pháp luật là hệ thống quy
tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành mà
còn do Nhà nước thừa nhận để áp dụng
(Đào Trí Úc & Hoàng Thị Kim Quế, 2023).
Những quy định và quan niệm này mở rộng
phạm vi “pháp luật” theo nghĩa thừa nhận

Đổi mới quan niệm về pháp luật, hệ thống pháp luật
và cấu trúc hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay
4Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nhiều nguồn (điều ước, tập quán, án lệ) để
phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế.
Tóm lại, trong cộng đồng học thuật Việt
Nam, khái niệm pháp luật được quan niệm
là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt
buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận, được nhà nước đảm bảo thực
hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Về phía Nhà nước, Hiến pháp năm 2013
(sửa đổi, bổ sung năm 2025) và một số luật
chuyên ngành đã thể chế hóa những quan
niệm đó qua nhiều quy định, đồng thời làm
rõ hoặc bổ sung một số thuộc tính khác của
pháp luật, ví dụ như bảo đảm quyền con
người (Quốc hội, 2013).
2.2. Quan niệm về hệ thống pháp luật và
cấu trúc hệ thống pháp luật
Cũng từ các giáo trình nêu trên và các văn
bản pháp luật hiện hành, có thể khái quát
quan niệm phổ biến ở Việt Nam về hệ
thống pháp luật và cấu trúc hệ thống pháp
luật như sau:
Quan niệm trong các tài liệu học thuật
Trong các tài liệu học thuật ở Việt Nam, hệ
thống pháp luật thường được hiểu là tổng
thể các quy tắc pháp lý có mối liên hệ nội
tại, thống nhất, được tổ chức theo thứ bậc
hiệu lực và phân tầng về nội dung (quy
phạm → chế định → ngành luật). Đây là
cách tiếp cận phổ biến trong giáo trình Lý
luận chung về Nhà nước và Pháp luật của
các trường luật lớn, như Trường Đại học
Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật- Đại
học Quốc gia Hà Nội,… (Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2023; Đào Trí Úc & Hoàng
Thị Kim Quế, 2023; Viện Khoa học Pháp
lý- Bộ Tư pháp, 2006).
Trong khi đó, khái niệm cấu trúc hệ thống
pháp luật thường được hiểu theo nghĩa là
cách thức tổ chức nội tại của hệ thống pháp
luật, phản ánh mối quan hệ giữa các bộ
phận, các thành tố trong hệ thống đó trên
cơ sở những nguyên tắc pháp lý nhất định.
Thông thường cấu trúc hệ thống pháp luật
được hiểu theo hai lớp bổ trợ nhau: (i) lớp
nội dung- thể hiện qua các quy phạm, chế
định, ngành luật (ví dụ các ngành luật hiến
pháp, hành chính, dân sự, hình sự,…); (ii)
lớp hình thức- thể hiện qua hệ thống nguồn
của pháp luật (chủ yếu là hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật theo thứ bậc). Cách
hiểu này thường được phản ánh trong các
mô tả thư mục, chương mục của các giáo
trình nêu trên và trong một số từ điển pháp
luật ở Việt Nam. Đây là một cách diễn giải
về cấu trúc hệ thống pháp luật chịu ảnh
hưởng từ truyền thống luật dân sự (Civil
Law) và tư duy phân cấp hệ thống pháp luật
theo hiệu lực của một số học giả quốc tế nổi
tiếng khác về lý thuyết pháp luật (Kelsen,
2009; Merryman & Pérez-Perdomo, 2019).
Quan niệm thể hiện qua Hiến pháp và các
luật chuyên ngành
Có thể xem đây là quan niệm của Nhà nước
về hệ thống pháp luật và cấu trúc của hệ
thống pháp luật, được thể chế hoá trong
Hiến pháp và các đạo luật. Về vấn đề này,
Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước
“tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và
pháp luật; quản lý xã hội bằng Hiến pháp
và pháp luật” (Quốc hội, 2013), qua đó xác
định hệ thống pháp luật là nền tảng cho
việc tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước
và quản trị quốc gia. Quy định này cũng thể
hiện quan niệm về tính thứ bậc của hệ thống
pháp luật mà trong đó Hiến pháp là văn bản
có hiệu lực tối cao. Cụ thể hoá quy định
của Hiến pháp, Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2025 xác định cấu trúc
thứ bậc của hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật từ trung ương đến địa phương,
đồng thời nêu ra nguyên tắc xử lý xung đột
giữa các loại văn bản và mối quan hệ giữa
pháp luật trong nước với điều ước quốc tế

VŨ CÔNG GIAO
5
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
(Quốc hội, 2025). Những quy định này cho
thấy Nhà nước nhìn nhận hệ thống pháp
luật như một trật tự phân tầng, có cơ chế xử
lý xung đột nội tại. Bên cạnh đó, trong mấy
năm gần đây ở Việt Nam, án lệ được Tòa
Án Nhân dân tối cao phát triển và hướng
dẫn áp dụng theo Nghị quyết 04/2019/NQ-
HĐTP (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số
02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025), qua
đó phản ánh quan niệm mở hơn về nguồn
và cấu trúc của hệ thống pháp luật (Tòa án
nhân dân tối cao, 2019, 2025). Ở bình diện
dân sự, như đã đề cập, Bộ luật Dân sự năm
2015 đã thừa nhận tập quán là nguồn và
việc áp dụng tương tự pháp luật, cũng cho
thấy quan niệm mở rộng về hệ thống pháp
luật (Quốc hội, 2015).
Liên quan đến vấn đề trên, Bộ Tư pháp đã
chủ trì xây dựng Bộ pháp điển trong đó sắp
xếp hệ thống pháp luật theo 45 chủ đề/đề
mục, thể hiện quan niệm của Nhà nước về
“cấu trúc hóa” hệ thống pháp luật hiện hành
để minh bạch hóa và tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tra cứu, áp dụng pháp luật (Bộ Tư
pháp, 2024).
Tóm lại, trong cộng đồng học thuật Việt
Nam, khái niệm hệ thống pháp luật được
quan niệm là tổng thể các quy phạm pháp
luật, văn bản quy phạm pháp luật được tổ
chức thành một chỉnh thể thống nhất, nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội; còn cấu trúc
hệ thống pháp luật là cách thức tổ chức
nội tại của hệ thống pháp luật, phản ánh
mối quan hệ giữa các bộ phận, các thành tố
trong hệ thống đó trên cơ sở những nguyên
tắc pháp lý nhất định. Về phía Nhà nước,
Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm
2025) và một số luật, đặc biệt là Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025
thể chế hóa những quan niệm đó thành hệ
thống pháp luật đa tầng, đa nguồn, có trật
tự và cơ chế áp dụng chặt chẽ.
3. Những bất cập, hạn chế trong quan
niệm về pháp luật, hệ thống pháp luật và
cấu trúc hệ thống pháp luật ở Việt Nam
Xét tổng quát, quan niệm về pháp luật, hệ
thống pháp luật và cấu trúc hệ thống pháp
luật ở Việt Nam hiện nay đã khá hợp lý,
cập nhật nhiều tư duy pháp lý tiến bộ của
nhân loại. Dù vậy, quan niệm về vấn đề
này ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế,
bất cập như sau:
Thứ nhất, tư duy về pháp luật, hệ thống
pháp luật vẫn nghiêng về việc xem đó là
công cụ quản lý xã hội và tổ chức quyền
lực hơn là nền tảng để bảo đảm quyền con
người và kiểm soát quyền lực theo tinh thần
của nhà nước pháp quyền (United Nations,
2004; World Justice Project, 2024; Quốc
hội, 2013). Cách tiếp cận đó làm mờ chức
năng của pháp luật là ghi nhận, bảo vệ, bảo
đảm quyền con người cũng như ngăn ngừa
sự lạm quyền theo như quy định của Hiến
pháp năm 2013 (Quốc hội, 2013).
Thứ hai, quan niệm về nguồn pháp luật còn
thiên về đơn nguồn là văn bản quy phạm
pháp luật. Mặc dù pháp luật hiện hành đã
thừa nhận điều ước quốc tế (ưu tiên áp dụng
khi khác với luật trong nước, trừ Hiến pháp)
(Quốc hội, 2016a), án lệ và tập quán dân sự,
nhưng trong thực tế vẫn coi trọng “văn bản
quy phạm pháp luật”- nguồn truyền thống-
gần như là nguồn pháp luật duy nhất. Hệ quả
là chưa hình thành được một hệ thống pháp
luật như một chỉnh thể đa nguồn phối hợp,
gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau để điều chỉnh các
quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp.
Theo phân tích của một số học giả quốc tế,
một hệ thống pháp luật như vậy dễ phát sinh
xung đột và giảm tính thích ứng (Merryman
& Pérez-Perdomo, 2019).
Thứ ba, cấu trúc hệ thống pháp luật vẫn
được hiểu theo nghĩa hẹp, cụ thể là theo mô
hình “hai lớp” (nội dung: quy phạm → chế
định → ngành; hình thức: thứ bậc nguồn).
Cách hiểu này bỏ qua lớp vận hành (giải

