CHƯƠNG 2: QUAN HỆ PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
I. Khái niệm quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.
Quan hệ pháp luật HN&GD là những quan hệ gắn bó giữa cá
nhân với cá nhân trong gia đình. LHN&GD – bằng các qui phạm
pháp luật – đã xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với các bên
tham gia quan hệ đồng thời đặt ra các biện pháp nhằm bảo đảm
cho các quyền và nghĩa vụ đó được thực thi.
II. Như vậy, quan hệ pháp luật HN&GD là những quan hệ
xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình được các
quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh.
III. Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.
Chủ thể của quan hệ pháp luật HN&GD
Khách thể của quan hệ pháp luật HN&GD
Nội dung của quan hệ pháp luật HN&GD
1. Chủ thể quan hệ pháp luật HN&GĐ.
Chủ thể quan hệ pháp luật HN&GĐ là các bên tham gia quan
hệ pháp luật HN&GĐ trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ do
pháp luật hôn nhân và gia đình quy định.
Tham gia vào quan hệ pháp luật HN&GĐ, chủ thể quan hệ
pháp luật HN&GĐ
phải có Năng lực pháp luật HN&GĐ
Năng lực hành vi HN&GĐ
- Năng lực pháp luật HN&GĐ
* NLPL về gia đình được thừa nhận từ lúc cá nhân sinh
ra.
Ví dụ: trẻ em sinh ra được hưởng sự chăm sóc, nuôi
dưỡng của cha mẹ; được khai sinh và có họ tên, có quốc
tịch.
* NLPL về hôn nhân chỉ được thừa nhận khi cá nhân đạt
độ tuổi nhất định.
Khoản 1 Điều 8 LHN&GĐ 2014 quy định nam từ đủ 20
tuổi và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới đủ tuổi kết hôn.
* NLPL HN&GĐ không phải là thuộc tính tự nhiên mà là thuộc tính
pháp lý có giới hạn chủ thể quan hệ pháp luật HN&GĐ có thể
bị hạn chế trong một số trường hợp:
-Thứ nhất, khi pháp luật quy định chủ thể không được thực hiện
những hành vi pháp luật hoặc tham gia vào một quan hệ pháp
luật cụ thể;
Ví dụ: điều 51 LHN&GĐ 2014 hạn chế quyền ly hôn của người
chồng khi vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.