
80
DỰ PHÒNG VÀ
NÂNG CAO SỨC KHỎE
Mục tiêu:
1.
Trình bày đưc các cấp độ
dự
phòng và
nội dung chăm sóc của từng cấp độ.
2.
Trình bày đưc các khái niệm và nội dung của
nâng cao sức khỏe
1. CÁC CẤP ĐỘ
DỰ
PHÒNG
1.1. Giới thiệu
Sự
thay
đổi
mô
hình
bệnh
tật
và
tử
vong
cho
thấy
các
nguyên
nhân
chính
của
bệnh
là
có
thể
phòng
ngừa
được.
Nhưng
thậm
chí
người
khoẻ
nhất
cũng
sẽ
không
chống cự
nổi khi đến một tuổi nào đó, và nguy cơ tử
vong cả
đời của bất cứ
quần thể
nào là 100%. Tuy nhiên, hầu hết các quần thể
bị
ảnh hưởng bởi những bệnh cụ
thể
có
thể
phòng ngừa được. Các
y tế
công cộng, các nhà
y xã hội học, nhà tâm lý học, nhà
kinh tế
y tế, các nhà nghiên cứu về
lao động,
các kỹ
sư vệ
sinh, các chuyên gia kiểm
soát ô nhiễm và vệ
sinh lao động... đều liên quan đến nỗ
lực phòng bệnh. Do sự
giới
hạn của
y
học điều trị
đã trở
nên rõ ràng và
các chi phí chăm
sóc
y
tế
ngày
càng gia
tăng
ở
tất cả
các quốc gia, vấn đề
phòng bệnh đang ngày càng trở
nên chiếm ưu thế.
1.2. Các cấp độ
dự
phòng
Các cấp độ
phòng bệnh: Có ba
cấp độ
dự
phòng, tương
ứng với các giai đoạn
phát triển bệnh khác nhau, đó là dự
phòng cấp I, dự
phòng cấp II và dự
phòng cấp III.
Biện pháp dự
phòng nhằm đến các yếu tố
nguy cơ hoặc các điều kiện có vai trò trong
việc
gây
ra
bệnh.
Dự
phòng
cấp
I
đóng
góp
hầu
hết
cho
sức
khoẻ
của
cả
cộng
đồng,
trong
khi
dự
phòng
cấp
II
và
cấp
III
thường
tập
trung
vào
những
người
đã
có
những
dấu hiệu của bệnh.
Bảng 1.
Các cấp độ
dự
phòng
Cấp độ dự phòng
Định nghĩa
Dự phòng ban đầu,
dự phòng cấp I
Tác động vào thời kì khỏe mạnh, nhằm làm giảm khả năng xuất
hiện của bệnh, hay chính là giảm tỷ lệ mới mắc, muốn đạt được
điều đó thì phải tăng cường các yếu tố bảo vệ, loại bỏ các yếu
tố nguy cơ. Tăng cường sức khỏe nói chung bằng tập luyện thể
dục thể thao, sinh hoạt ăn uống điều độ hợp vệ sinh... Chính là
tăng cường các yếu tố bảo về không đặc hiệu, tiêm chủng vắc
xin phòng bệnh là tạo ra các yếu tố bảo vệ đặc hiệu. Không hút
thuốc lá, bỏ hút thuốc là chính là loại bỏ yếu tố nguy cơ của
ung thư phổi,của các bệnh tim mạch
Dự phòng cấp II
Phát hiện bệnh sớm, khi bệnh mới chỉ có các dấu hiệu sinh học,
chưa có biểu hiện lâm sàng, khi phát hiện được bệnh thì tiến
hành can thiệp kịp thời sẽ ngăn chặn sự diễn biến tiếp tục của
bệnh; tùy theo mỗi bệnh và điều kiện y tế cho phép có thể thực
hiện các chương trình phát hiện bệnh khác nhau ở những quần
thể khác nhau... sẽ làm giảm tỷ lệ hiện mắc, giảm tỷ lệ tử
vong... Ví dụ phát hiện sớm cao huyết áp (một yếu tố nguy cơ
của nhiều bệnh tim mạch), dò tìm ung thư
Dự phòng cấp III
Là điều trị bệnh hợp lý nhằm ngăn chặn những diễn biến xấu
hay biến chứng của bệnh, hồi phục sức khỏe cho người bệnh.

81
Với bệnh truyền nhiễm điều trị triệt để cho người bệnh là loại
bỏ nguồn truyền nhiễm quan trọng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
1.2.1. Dự phòng cấp I
Dự phòng cấp I là tác động vào thời kì khỏe mạnh, nhằm làm giảm khả năng
xuất hiện của bệnh, hay chính là giảm tỷ lệ mới mắc, muốn đạt được điều đó thì phải
tăng cường các yếu tố bảo vệ, loại bỏ các yếu tố nguy cơ. Mục đích của dự phòng cấp
I là để giới hạn số mới mắc của bệnh bằng cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ đặc
trưng của bệnh. Dự phòng cấp I tác động đến: Toàn bộ quần thể với mục đích làm
giảm nguy cơ trung bình hoặc những người có nguy cơ do kết quả của những phơi
nhiễm đặc biệt (chiến lược cá thể nguy cơ cao). Do đó, có thể chia dự phòng cấp I
thành 2 cấp độ: dự phòng ban đầu và dự phòng cấp I. Dự phòng ban đầu chính là tác
động vào các yếu tố thuộc về lối sống, kinh tế, văn hóa của quần thể, các yếu tố đó
được quy kết là góp phần làm tăng nguy cơ bị bệnh.
Tăng cường sức khỏe nói chung bằng tập luyện thể dục thể thao, sinh hoạt ăn
uống điều độ hợp vệ sinh... Chính là tăng cường các yếu tố bảo về không đặc hiệu,
tiêm chủng vắc xin phòng bệnh là tạo ra các yếu tố bảo vệ đặc hiệu. Không hút thuốc
lá, bỏ hút thuốc là chính là loại bỏ yếu tố nguy cơ của ung thư phổi, của các bệnh tim
mạch (dự phòng căn nguyên). Ví dụ, dự phòng cấp I trong tai nạn thương tích là dự
phòng trước khi tai nạn thương tích xảy ra: Mục đích là không để xảy ra tai nạn
thương tích bằng cách loại bỏ các yếu tố nguy cơ hoặc không tiếp xúc với các yếu tố
nguy cơ gây nên tại nạn thương tích. Các biện pháp dự phòng ban đầu có thể bao gồm
việc lắp đặt rào chắn quanh các ao hồ, để phích nước nóng ở nơi an toàn mà trẻ em
không với tay tới được, sử dụng các thiết bị an toàn khi chơi thể thao...

82
1.2.2. Dự phòng cấp II
Dự phòng cấp II là phát hiện bệnh sớm, khi bệnh mới chỉ có các dấu hiệusinh
học, chưa có biểu hiện lâm sàng, khi phát hiện được bệnh thì tiến hành can thiệp kịp
thời sẽ ngăn chặn sự diễn biến tiếp tục của bệnh; tùy theo mỗi bệnh và điều kiện y tế
cho phép có thể thực hiện các chương trình phát hiện bệnh khác nhau ở những quần
thể khác nhau... sẽ làm giảm tỷ lệ hiện mắc, giảm tỷ lệ tử vong...
Dự phòng cấp II nhằm làm giảm bớt các hậu quả trầm trọng của bệnh thông qua
chẩn đoán và điều trị sớm. Chiến lược này bao gồm các phương pháp đo lường sẵn có
cho các cá thể và các quần thể để phát hiện sớm và can thiệp hiệu quả. Dự phòng cấp
II nhằm vào giai đoạn giữa của khởi phát bệnh và thời điểm chẩn đoán bệnh thông
thường, mục tiêu là làm giảm số hiện mắc của bệnh. Dự phòng cấp hai II chỉ có thể áp
dụng đối với các bệnh trong lịch sử tự nhiên của bệnh có giai đoạn sớm mà có thể phát
hiện và điều trị dễ dàng, vì vậy có thể ngăn chặn bệnh tiến triển đến giai đoạn nghiêm
trọng hơn. Hai yêu cầu chính để một chương trình dự phòng cấp II có ích đó là có
phương pháp phát hiện bệnh an toàn và chính xác, tốt nhất là từ giai đoạn tiền lâm
sàng, và có các phương pháp can thiệp hiệu quả. Ví dụ: dự phòng cấp II trong phòng
chống tai nạn thương tích là dự phòng trong khi tai nạn thương tích xảy ra. Mục đích
của việc dự phòng là làm giảm mức độ nghiêm trọng của các thương tổn khi xảy ra tai
nạn thương tích như đội mũ bảo hiểm xe máy để phòng tránh chấn thương sọ não khi
tai nạn giao thông xảy ra.
1.2.3. Dự phòng cấp III
Dự phòng cấp III là điều trị bệnh hợp lý nhằm ngăn chặn những diễn biến xấu
hay biến chứng của bệnh, hồi phục sức khỏe cho người bệnh. Dự phòng cấp III nhằm
làm giảm sự tiến triển hoặc biến chứng của bệnh và là khía cạnh quan trọng của điều
trị và phục hồi chức năng. Dự phòng cấp III là tập hợp của các biện pháp nhằm làm
giảm sự suy yếu, tàn tật và giảm thiểu những tổn thất do bệnh tật gây nên và tăng
cường, khuyến khích sự tự điều chỉnh của người bệnh trong các trường hợp nan y. Dự
phòng cấp III thường gặp khó khăn khi tách biệt với điều trị, bởi vì một trong những
mục tiêu trọng tâm của việc điều trị các bệnh mạn tính là phòng ngừa bệnh tái phát.
Phục hồi chức năng đối với người bệnh bị bại liệt, đột quỵ, chấn thương, mù lòa
và nhiều bệnh mạn tính khác là rất cần thiết để họ có khả năng tham gia vào cuộc sống
hàng ngày của xã hội. Dự phòng cấp III giúp cải thiện tốt tình trạng sức khỏe và thu
nhập cho người bệnh và gia đình. Một khía cạnh quan trọng của phòng bệnh cấp III
đặc biệt với những người trẻ tuổi bị bệnh hoặc chấn thương là phục hồi khả năng làm
việc và kiếm sống của họ. Nếu các hệ thống phúc lợi xã hội không hoạt động, thậm chí
một giai đoạn tạm thời của bệnh tật có thể gây nên những khó khăn lớn về kinh tế cho
cha mẹ và gia đình của người bệnh. Ví dụ: với bệnh truyền nhiễm thì dự phòng cấp III
điều trị triệt để cho người bệnh là loại bỏ nguồn truyền nhiễm quan trọng, bảo vệ sức
khỏe cộng đồng. Với chương trình phòng chống tai nạn thương tích thì dự phòng cấp 3
là dự phòng sau khi có tai nạn thương tích xảy ra với mục tiêu là làm giảm thiểu hậu
quả sau khi tai nạn thương tích xảy ra. Thực hiện biện pháp điều trị với hiệu quả tối đa
là điều kiện để giảm thiểu hậu quả của tai nạn thương tích, sự tàn tật và tử vong. Đồng
thời các biện pháp phục hổi chức năng cũng giúp cho nạn nhân hồi phục một cách tối
đa các chức năng của cơ thể.
2. NÂNG CAO SỨC KHỎE

83
2.1. Một số khái niệm
2.1.1. Truyền thông giáo dục sức khỏe
Sức khỏe là vốn qúy nhất của mỗi người, là nhân tố cơ bản trong toàn bộ sự
phát triển của xã hội. Có nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe của mỗi người: Yếu tố xã
hội, văn hoá, kinh tế, môi trường và yếu tố sinh học như di truyền, thể chất. Muốn có
sức khỏe tốt phải tạo ra môi trường sống lành mạnh và đòi hỏi phải có sự tham gia tích
cực, chủ động của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng vào các hoạt động bảo vệ và
nâng cao sức khỏe (NCSK). Đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-
GDSK) là biện pháp quan trọng giúp mọi người dân có kiến thức về sức khỏe, bảo vệ
và NCSK, từ đó có cách nhìn nhận vấn đề sức khỏe đúng đắn và hành động thích hợp
vì sức khỏe.
“Truyền thông - giáo dục sức khỏe giống như giáo dục chung, là quá trình tác
động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người, nhằm nâng
cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và
NCSK cho cá nhân, gia đình và cộng đồng”.
Truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung tác động vào 3 lĩnh vực: Kiến thức
của con người về sức khỏe, thái độ của con người đối với sức khỏe, thực hành hay
cách ứng xử của con người đối với bảo vệ và NCSK. Trong TT-GDSK chúng ta quan
tâm nhiều đến những vấn đề là làm thế nào để mọi người hiểu được các yếu tố có lợi
và yếu tố nào có hại cho sức khỏe, từ đó khuyến khích người dân các thực hành có lợi
cho sức khỏe và từ bỏ các thực hành có hại cho sức khỏe. Trên thực tế do thiếu hiểu
biết, nhiều hành vi có hại đến sức khỏe được người dân thực hành từ lâu, có thể trở
thành những niềm tin, phong tục tập quán vì thế để thay đổi các hành vi này cần thực
hiện TT-GDSK, thường xuyên, liên tục, bằng nhiều phương pháp khác nhau chứ
không phải là công việc làm một lần là đạt được kết quả ngay. Để thực hiện tốt TT-
GDSK đòi hỏi phải xây dựng chính sách, có kế hoạch lâu dài, có sự quan tâm đầu tư
các nguồn lực thích đáng. Mục đích quan trọng cuối cùng của TT-GDSK là làm cho
mọi người từ bỏ các hành vi có hại và thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe, đây
là một quá trình lâu dài, cần phải tiến hành theo kế hoạch, kết hợp nhiều phương pháp
khác nhau, với sự tham gia của ngành y tế và các ngành khác. Trong TT-GDSK chúng
ta quan tâm nhiều đến vấn đề là làm thế nào để mọi người hiểu được các yếu tố nào có
lợi và yếu tố nào có hại cho sức khỏe, từ đó khuyến khích, hỗ trợ nhân dân thực hành
hành vi có lợi cho sức khỏe và từ bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe.
2.1.2. Thông tin
Thông tin là quá trình chuyển đi các tin tức, sự kiện từ một nguồn phát tin tới
đối tượng nhận tin. Thông tin cho các đối tượng là một phần quan trọng của TT-
GDSK, nhưng TT-GDSK không chỉ là quá trình cung cấp các tin tức một chiều từ
nguồn phát tin đến nơi nhận tin mà là quá trình tác động qua lại và có sự hợp tác giữ
người TT-GDSK và đối tượng được TT-GDSK. Việc cung cấp các thông tin cơ bản,
cần thiết về bệnh tật, sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng là bước quan trọng để tạo
nên những nhận thức đúng đắn của cá nhân và cộng đồng về nhu cầu chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe. Các phương tiện thông tin đại chúng như đài, ti vi các ấn phẩm có vai trò
quan trọng trong việc cung cấp thông tin, trong đó có sức khỏe, bệnh tật.
2.1.3. Tuyên truyền

84
Tuyên truyền là hoạt động cung cấp thông tin về một chủ đề sức khỏe, bệnh tật
cụ thể nào đó, nhưng được lặp đi lặp lại nhiều lần, bằng nhiều hình thức như quảng
cáo trên các phương tiện báo, đài, ti vi, pa nô áp phích, tờ rơi. Trong tuyên truyền,
thông tin được chuyển đi chủ yếu là theo một chiều. Việc tuyên truyền rộng rãi những
vấn đề sức khỏe bệnh tật ưu tiên trên các phương tiện thông tin đại là một bộ phận
quan trọng trong chiến lược truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung. Tuyên truyền
qua quảng cáo có thể đưa lại kết quả tốt nhưng những thông điệp tuyên truyền liên
quan đến sức khỏe phải được kiểm duyệt chặt chẽ để đảm bảo những thông điệp đó là
đúng khoa học và có lợi cho sức khỏe, tránh những quảng cáo chỉ mang tính thương
mại thuần túy, thiếu cơ sở khoa học đã được chứng minh và có thể có hại cho sức khỏe
cộng đồng.
2.1.4. Nâng cao sức khỏe
Theo Hiến chương Ottawa – Canada- 1986, nâng cao sức khoẻ (NCSK) được
định nghĩa như sau:
“NCSK là quá trình giúp mọi người có đủ khả năng kiểm soát toàn bộ sức khỏe
và tăng cường sức khỏe của họ. Để đạt đưc tình trạng hoàn toàn khỏe mạnh về thể
chất, tinh thần và xã hội, các cá nhân hay nhóm phải có khả năng hiểu biết và xác
định các vấn đề sức khỏe của mình và biến những hiểu biết thành hành động để đối
phó đưc với những thay đổi của môi trường tác động đến sức khỏe”. Tuyên
ngôn Ottawa nhấn mạnh đến việc NCSK cần phải làm nhiều hơn chứ không chỉ là
cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đảm bảo hòa bình, nhà ở, giáo dục, cung cấp
thực phẩm, tăng thu nhập, bảo vệ môi trường bền vững, công bằng xã hội, bình đẳng là
tất cả các yếu tố cần thiết để đạt được sức khỏe. Thực hiện các nội dung này phải
khuyến khích mọi người hành động vì sức khỏe thông qua những hoạt động chính trị,
kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, hành vi và các yếu tố sinh học.
Như vậy, TT-GDSK chỉ là một bộ phận của NCSK nhằm nâng cao những hành
vi có lợi cho sức khoẻ. Mặc dù vậy, thuật ngữ NCSK thường được dùng để nhấn mạnh
những nỗ lực nhằm tạo ra hành vi sức khoẻ trong một khung cảnh xã hội rộng lớn hơn.
Cả NCSK và TT-GDSK đều có liên kết chặt chẽ với nhau, chúng thường được dùng
thay cho nhau và trong nhiều hoàn cảnh được dùng chung với nhau. Theo quan niệm
về NCSK thì sức khỏe được coi là nguồn lực của đời sống hàng ngày chứ không phải
chỉ là mục tiêu sống. Sức khỏe là khái niệm tích cực nhấn mạnh đến khía cạnh nguồn
lực của xã hội và của cá nhân. Vì thế, NCSK không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế
mà là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng dựa trên cơ sở là lối sống lành
mạnh để mạnh khỏe.
2.2. Nội dung của nâng cao sức khỏe
Nâng cao sức khỏe gồm các nội dung sau:
1) Xây dựng chính sách công cộng lành mạnh: NCSK dựa trên hệ thống tổ chức
chăm sóc sức khỏe phù hợp. Điều này có nghĩa là phải đưa sức khỏe vào chương trình
hành động của các nhà hoạch định chính sách của tất cả các ngành ở mọi tuyến từ
trung ương đến cơ sở. Những người có trách nhiệm trực tiếp xây dựng chiến lược,
chính sách xã hội phải nhận ra tác động đến sức khỏe của các quyết định mà họ đưa ra
và chấp nhận trách nhiệm của họ đối với các chính sách có ảnh hưởng đến sức khỏe
nhân dân. Những chính sách NCSK có những tác động khác nhau nhưng là những giải
pháp bổ sung cho nhau, bao gồm luật pháp, biện pháp tài chính, kinh tế, xã hội, thuế

