
LUẬN VĂN:
Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ tại công ty
Artexport Việt Nam trong giai đoạn
hậu khủng hoảng kinh tế thế giới

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, những mối quan hệ kinh tế
ngày càng được mở rộng, việc hội nhập vào kinh tế khu vực và thể giới để phát
triển là nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi quốc gia. Việt Nam không thể đứng
ngoài luồng xoáy của sự vận động kinh tế thế giới đang diễn ra từng ngày, từng giờ
này. Bước sang thế kỉ 21, Việt nam đang đứng trước rất nhiều thời cơ cũng như
thách thức đối với quá trình phát triển nền kinh tế của mình.
Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
hướng về xuất khẩu trong giai đoạn hiện nay thì việc tận dụng nguồn nguyên liệu
sẵn có trong nước để phát triển những mặt hàng xuất khẩu là vấn đề hết sức cần
thiết. Trong chiến lược này, Đảng và Nhà nước ta đã xác định thủ công mỹ nghệ là
một trong những mặt hàng xuất khẩu chiến lược, có khả năng tăng trưởng cao,
không chỉ mang lại lợi ích kinh tế thiết thực mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rộng
lớn.
Chính sách mở cửa nền kinh tế đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho ngành xuất
khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã
có mặt trên 120 nước trên thế giới, tuy nhiên, hiện đang gặp những khó khăn không
nhỏ trong vấn đề sản xuất và đẩy mạnh lượng hàng xuất khẩu trong giai đoạn
khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay.
Xuất phát từ thực tại trên, trong quá trình thực tập tại công ty Artexport, qua
việc tìm hiểu và thu thập thông tin, em đã quyết định chọn đề tài: “Một số giải pháp
thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại công ty Artexport Việt Nam trong
giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới” làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt
nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công

ty Artexport sang các thị trường nước ngoài. Từ đó, rút ra những thành tựu Công ty
đã đạt được trong hoạt động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của mình, cũng như
những tồn tại và những nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Trên cơ sở dự báo về tình hình thị trường xuất khẩu thủ công mỹ nghệ, phân
tích những cơ hội và thách thức đối với công ty Artexport khi xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ sang thị trường nước ngoài. Từ đó, đề xuất các giải pháp cho Công
ty và các kiến nghị đối với nhà nước nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ của Công ty trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty
Artexport
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt hàng: tất cả các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Công ty
Artexport
- Về thời gian: từ năm 2006 đến năm 2009
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp duy vật lịch sử biện chứng và phương pháp
phân tích tổng hợp.
5. Kết cấu của chuyên đề thực tập
Ngoài danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu hình vẽ, lời mở đầu, kết luận
và danh mục tài liệu tham khảo, bài viết được kết cấu gồm 2 chương như sau:
Chương 1 – Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Artexport
trong thời gian qua
Chương 2 – Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại

Công ty Artexport trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế thế giới
Chương 1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
CỦA CÔNG TY ARTEXPORT TRONG THỜI GIAN QUA
1.1 MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY ARTEXPORT
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦ CÔNG
MỸ NGHỆ
Tên tiếng Anh: HANDICRAFT AND ART ARTICLES EXPORT IMPORT
JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: ARTEXPORT VIETNAM
Địa chỉ: 2A Phạm Sư Mạnh - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội - Việt Nam
Tel: (84.4) 38266576
Fax: (84.4) 38259275
Email: trade@artexport.com.vn
Website: http//www.artexport.com.vn
Ngày thành lập: 23/12/1964
Quyết định thành lập: 617/BNgT-TCCB ngày 23/12/1964 của Bộ Ngoại
thương
1.1.1.1 Giai đoạn 1964 - 1975
Năm 1964, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ
(ARTEXPORT) tiền thân là 2 phòng nghiệp vụ: Phòng Mây tre đan và phòng Sơn
mài được tách ra từ Tổng Công ty xuất nhập khẩu Tạp phẩm (TOCONTAP) và

được thành lập theo quyết định số 617/BNgT-TCCB ngày 23/12/1964 của Bộ Ngoại
thương (nay là bộ Công thương) với tên gọi là: Tổng Công ty xuất nhập khẩu thủ
công mỹ nghệ. Cơ sở vật chất ban đầu còn rất nghèo nàn, cán bộ quản lý kiêm
nghiệp vụ chỉ có 36. Chỉ sau một năm thành lập Công ty đã có kim ngạch xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ đạt 600.000 rúp đôla. Năm 1968, kim ngạch XK của
Artexport lên đến 6 triệu rúp đôla, tăng 10 lần chỉ sau 4 năm thành lập. Năm 1975,
kim ngạch xuất khẩu đạt tới 30 triệu rúp đôla, đồng thời số lao động làng nghề phục
vụ sản xuất và làm hàng xuất khẩu cho Artexport đã tăng từ 2 vạn lên 20 vạn người.
Ngoài thị trường xuất khẩu chủ yếu là Liên Xô và các nước XHCN, Artexport còn
tiếp cận được với một số thị trường TBCN như Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore,
Pháp, Ý, Tây Đức.
1.1.1.2 Giai đoạn 1976 – 1991
Đây là thời kỳ hòa bình thống nhất đất nước nhưng cũng là giai đoạn Công ty
chủ yếu xuất khẩu trả nợ và xuất khẩu theo đơn hàng đã ký theo Nghị Định Thư
hàng năm giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Tổng Công ty đã hướng dẫn tay nghề
làm hàng thủ công mỹ nghệ và đưa công ăn việc làm đến với người dân ở những
vùng mới giải phóng, đồng thời giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Năm 1976, Tổng Công ty XNK thủ công mỹ nghệ đặt chi nhánh tại TP. Hồ Chí
Minh và Đà Nẵng. Năm 1988, Công ty đã khắc phục mọi khó khăn sau khi đất nước
thực hiện công cuộc đổi mới, từng bước đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường thế
giới, do vậy kim ngạch xuất khẩu lên tới 98 triệu rúp đôla, chiếm tỉ trọng cao nhất
trong toàn ngành (toàn ngành Thương mại thời điểm này chỉ đạt 800 triệu rúp đôla).
Đây là giai đoạn phát triển cao của Công ty, đã sử dụng một lực lượng lao động lên
đến 40 vạn người ở khắp các miền đất nước. Cán bộ của Công ty được cử đi làm đại
diện thương mại ở nhiều nước trên thế giới và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là
đầu mối xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ở nước ngoài. Năm 1991, sự sụp
đổ của Liên xô và hệ thống chính trị ở các nước Đông Âu đã khiến Công ty mất tới
85% thị trường xuất khẩu hàng hóa của mình. Gánh nặng về các khoản nợ khó đòi
từ phía bạn cùng khoản vốn ứ đọng bởi lượng lớn hàng tồn ở các địa phương làm

