
181
thì không tính lúc đó.
1.3. Phân tích và đánh giá mật độâ ởø lên lớp TDTT
+ Phân tích và đánh giá mật độ chung của giờ lên lớp TDTT
Nói chung, mật độ chung càng lớn càng tốt.Vì như thế có nghĩa thời gian lãng phí càng ít. Thông thường phân tích và đánh giá mật độä
chung từ những khía cạnh sau :
- Tỷ lệ thời gian sử dụng hợp lý là bao nhiêu ? Tỷ lệ giữa các thời gian của các nội dung hoạt động có hợp lý không ?
- Thời gian luyện tập của học sinh là bao nhiêu ? Mật độä luyện tập có hợp lý không ?
- Tỷ lệ thời gian không hợp lý là bao nhiêu ? Nguyên nhân.
- Đánh giá chung về mật độä chung của giờ lên lớp TDTT và kiến nghị.
Cần nhấn mạnh rằng, phân tích và đánh giá mật độâ chung của giờ lên lớp TDTT phải xuất phát từ thực tế, căn cứ vào nhiệm vụ của giờ lên
lớp, đặc điểm của nội dung, tình hình học sinh, điều kiện sân bãi, dụng cụ, thời tiết như thế mới dễ xác thực.
+ Phân tích và đánh giá mật độä luyện tập của giờ lên lớp TDTT
Mật độä luyện tập là một trong trong những tiêu chí quan trọng đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ cũng như chất lượng của giờ lên lớp TDTT.
Không có tiêu chuẩn tuyệt đối về mật độâ luyện tập cho mọi giờ lên lớp TDTT. Phải phân tích cụ thể mới xác đáng được.
2. Lượng vận động của giờ lên lớp TDTT
Có thể chia thành lượng vận động thể lực và lượng vận động tâm lý. Đó là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng của giờ
lên lớp TDTT. Nó có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thành nhiệm vụ của giờ lên lớp TDTT.
3. Lượng vận động thể lực (gọi tắt là lượng vận động)
+ Khái niệm và ý nghĩa. Đó là mức phụ tải về sinh lý mà cơ thể học sinh phải chịu đựng khi luyện tập một bài tập hoặc cả giờ lên lớp TDTT.
Nó cũng phản ánh sự tiến hóa của các chức năng sinh lý của người tập, vận động viên trong quá trình trên. Sử dụng lượng vận động hợp lý có
tác dụng tốt với rèn luyện thân thể, nắm vững kỹ thuật vận động, phòng tránh chấn thương… của học sinh. Bởi vì, sự cải thiện về hình thái, cùng
nắm vững các kỹ thuật vận động đều phải thông qua sự thích nghi với các khối lượng, cường độ vận động(có nghĩa là lượng vận động) nhất
định.
Tính hợp lý của lượng vận động thể lực chỉ là tương đối. Nó còn tùy thuộc vào biến đổi theo nhiệm vu,ï loại hình của giờ lên lớp TDTT, đặc
điểm của nội dung dạy học, sức khỏe và trình độä tập luyện của học sinh cũng như điều kiện dạy học. Cần phải căn cứ vào sự thay đổi về chức
năng cơ thể của học sinh mà kịp thay đổi, điều chỉnh lượng vận động sao cho có thể nâng cao thể chất cho học sinh tốt hơn.
+ Sự sắp xếp và phương pháp điều chỉnh lượng vận động. Căn cứ vào quy luật biến hóa chức năng của con người mà sắp xếp cho sát hợp. Nói
chung, lượng vận động nên tăng dần lên: luân phiên chuyển đổi giữa các mức:lớn, vừa, nhỏ. Đến cuối giờ lên lớp, lượng vận động nên nhỏ dần giúp
cho cơ thể học sinh về trạng thái tương đối yên tĩnh.

182
Trong toàn trình dạy học TDTT, lượng vận động sẽ nâng dần lên, có nhịp điệu theo sự tăng tiến của thể lực và trình độ tập luyện của học
sinh. Thông thường vào đầu học kỳ năm học, lượng vận động và cường độä của giờ lên lớp TDTT nhỏ, sau mới tăng dần lên. Khi sắp xếp lượng
vận động, cần chú ý mấy điểm sau:
- Căn cứ vào loại hình và yêu cầu của giờ lên lớp TDTT mà định lượng vận động cho phù hợp. Với cùng một nội dung dạy học nhưng lượng
vận động giờ ôn luyện bao giờ cũng lớn hơn giờ mới học.
- Phù hợp với thực trạng sức khỏe và trình độ tập luyện của học sinh (bao gồm lứa tuổi, giới tính).
- Cân nhàéc tới đặc điểm của nội dung phạm vi hoạt độâng, độâ khó, cường độ...
- Khi sắp xếp lượng vận động, cần căn cứ vào cường độâ lớn nhỏ mà định thời gian nghỉ giữa (cách quãng) cho phù hợp; sao cho tập luyện
và nghỉ ngơi chuyển đổi hợp lý cho nhau.
- Ngoài ra cũng còn phải suy xét tới một số nhân tố khác nhau như: trạng thái tâm lý, thể lực, chế độä sinh hoạt của học sinh, thời tiết, sân
bãi, dụng cụ...
Giáo viên không những phải tính toán đầy đủ về lượng vận động, dự kiến đường biểu diễn mạch khi chuẩn bị cho giờ lên lớp TDTT mà khi
lên lớp phải nhanh nhạy phát hiện, phân tích các biến đôåi khác thường của lượng vận động để có biện pháp điều chỉnh phù hợp và kịp thời.
Những biện pháp điều chỉnh đó là:
- Thay đổi nội dung luyện tập;
- Thay đổi một số yếu tố cơ bản của động tác (như tốc độä, tần số, biên độ);
- Thay đổi số lần lặp lại, thời gian tập kéo dài hoặc thời gian nghỉ cách quãng;
- Thay đổi trình tự và tổ hợp tập luyện; sắp xếp thời gian nghỉ hợp lý;
- Thay đổi phương pháp dạy học như dùng các phương pháp tập luyện tuần hoàn hoặc thi đấu;
- Thay đổi điều kiện tập luyện về diện tích, sân bãi, trọng lượng dụng cụ, điều kiện phụ gia.
+ Phương pháp đo lượng vận động của giờ lên lớp TDTT.
Có rất nhiều, dưới đây chỉ giới thiệu mấy phương pháp thường dùng:
Phương pháp quan sát thường được giáo viên dùng trong quá trình dạy học. Chủ yếu quan sát về chất lượng hoàn thành động tác, tính chính
xác của động tác, năng lực điều khiển thân thể, sự hô hấp, tiết mồ hôi, sắc mặt, nét mặt, tiếng nói, biểu hiện tình cảm, tính tích cực luyện tập của
học sinh... để phán đoán lượng vận động có thích hợp hay không ?
Cảm giác chủ quan tức là dựa vào cảm giác chủ quan của học sinh để phán đoán mức lượng vận động. Nó bao gồm các cảm giác về ăn, ngủ,
tinh thần, hứng thú luyện tập…Giáo viên nên thường xuyên theo dõi phản ứng của học sinh, kết hợp với những quan sát của mình để phân tích,
phán đoán, đánh giá lượng vận động.

183
- Đo các chỉ tiêu sinh lý về mạch, huyết áp, trao đổi khí, tần số hô hấp, thân nhiệt, protein niệu…. Thường dùng cách tương đối dễ làm là đo
mạch.
Cách và các bước đo mạch như sau:
Chuẩn bị:
+ Tìm hiểu nhiệm vụ, nội dung và phương pháp, tổ chức dạy học của giờ lên lớp TDTT.
+ Xác định cách đo và phân công người đo cho đối tượng được đo theo thời gian quy định trước hay sau mỗi luyện tập hoặc là kết hợp hai
cách đó. Điều này do tình hình cụ thể quyết định. Phải có phân công phối hợp rõ giữa người ghi và người đo.
+ Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ cần thiết như biên bản quan sát, đồng hồ bấm giờ.
+ Chọn đối tượng (học sinh) để theo dõi (đo mạch). Nói chung nên chọn đo một học sinh nam và học sinh nữ trung bình. Cần có trao đổi
trước về sự phối hợp đo với các học sinh này nhưng không nên tạo căng thẳng.
Tiến hành đo mạch
Trước giờ lên lớp TDTT (đôi phút) nên đo mạch học sinh vì lúc đó tương đối yên tĩnh; tránh gây cho các em những căng thẳng không cần thiết
làm mạch không chính xác.
Trong quá trình học tập trên lớp, thường sử dụng kết hợp cách đo định thời và cách đo trước và sau mỗi luyện tập. Cũng nên chú ý tới địa điểm đo
thích hợp. Nếu đo mạch trước và sau mỗi luyện tập mà thời gian luyện tập và thời gian nghỉ cách quãng tương đối dài thì trong các khoảng đó có thể
đo mấy lần mạch bổ sung. Như thế sẽ có thể phản ánh tương đối khách quan, toàn diện sự biến hóa của mạch trong quá trình này. Tuy vậy số lần đo
cũng nên thích hợp. Nhiều quá sẽ ảnh hưởng đến luyện tập của học sinh và giờ lên lớp. Còn ít quá thì không phản ánh tương đối đầy đủ, toàn diện
chính xác diễn biến của mạch (tức là tình hình vận động của học sinh). Nói chung trong giờ lên lớp TDTT khoảng 45 – 50 phút, chỉ nên đo khoảng 20
lần là vừa.
Mỗi lần đo mạch trong 10 giây; cố gắng nhanh, gọn để không ảnh hưởng đến tập luyện của học sinh; sau đó kịp thời ghi số liệu đó vào biên
bản quan sát.
Bảng 11: Ghi chép quá trình biến đổi mạch của học sinh trong GLL TDTT
Các phần
trong
GLL
Thời gian
đo
Nội dung
luyện tập
khi đo
mạch
Mạch
(10”)
Ghi chú
Trường Lớp Tổ Học sinh (người được theo dõi)
Giới tính Tuổi Ngày tháng Thời tiết

184
Giáo viên lên lớp Người theo dõi (đo)
Ngoài ra cũng phải chú ý đến các biểu hiện bên ngoài của đối tượng được theo dõi, các ảnh hưởng bên ngoài khác để có thể phân tích những
nguyên nhân gây nên biến đổi mạch toàn diện, xác thực hơn.
Sau giờ lên lớp phải kịp thời đo tình hình mạch hồi phục của học sinh. Nói chung cứ 2 - 3 phúùt đo một lần, đo khoảng 2 - 3 lần, đồng thời
tìm hiểu thêm cảm giác của học sinh. Cách thống kê và lập biểu đồ như sau:
Trường lớp tổ tên học sinh
Giới tính tuổi thời gian thời tiết
Giáo viên hướng dẫn người theo dõi
l. Thời gian và các phần của GLL 6. Cơ bản
2. Trước GLL 7. Ném lựu đạn
3. Nội dung hoạt động của GLL 8. Chạy 100 mét
4. Chuẩn bị 9. Kết thúc
5. Đi, chạy chậm, tập thể dục 10. Hoạt động hồi phục
11. Sau GLL TDTT
Căn cứ vào các lần đo mạch trong 10 giây, tính chuyển sang theo đơn vị phút, để tạo thành phác đồ biểu diễn mạch. Hình 51 giúp ta có thể
trực tiếp xem xét phân tích.

185
- Phân tích và đánh giá LVĐ của GLHTDTT:
Muốn đánh giá mức hợp lý của nó, phải căn cứ vào nhiệm vụ, loại hình, nội dung dạy học của GLL, đặc điểm của học sinh (sức khỏe lứa
tuổi, giới tính...), điều kiện tác nghiệp, thời tiết... Nói chung có thể phân tích về các mặt sau:
+ Căn cứ vào xu thế tổng quát của đường biểu diễn mạch toàn GLL mà đánh giá mức độ vận động hợp lý; xem có lợi cho rèn luyện thân thể
và nắm vững kỹ thuật vận động của học sinh hay không ?
+ Tính hợp lý của LVĐ nói chung và độâ cao, thời gian, số lần xuất hiện các “đỉnh mạch”? Mạch trung bình của mỗi phút trong GLL TDTT
là bao nhiêu? Thời gian dùng cho luyện tập? Cũng có thể tính trung bình từng phúùt của từng phần trong GLL. Trong đó có cả mạch trung bình
của mỗi phúùt khi học nội dung chính.
Có 2 cách tính mạch trung bình trên từng phút. Loại thứ nhất tương đối gọn dễ: Đem cộng tất cả số lần mạch đo được qua các lần chia cho
tổng số lần đo thì được mạch trung bình (MTB)
MTB =
n
...cba +++
.
Cách thứ hai là tính diện tích mạch. Cách này tương đối phức tạp, thường được ứng dụng trong trường hợp số lần đo tương đối ít, nhưng lại
có thể phản ánh tương đối khách quan về LVĐ của GLL TDTT. Cách làm như sau: Xác định tọa độä điểm đo mạch theo trình tự quan sát, từ đó
hình thành rất nhiều hình chữ nhật theo bậc thang. Sau đó tính ra tổng diện tích của các hình trong bậc thang đó, rồi đem chia cho tổng thời gian
của GLL TDTT (lấy đơn vị phút), ta sẽ được số mạch trung bình cho mỗi phút trong GLL đó. Công thức tính như sau:
Các diện tích hình chữ nhật mạch của các lần đo là X1, X2, X3,... Xn và tổng diện tích mạch là:
n321n1
X...XXXX ++++=
∑
−
Số mạch trung bình trong từng phúùt của GLL TDTT cụ thể nào đó là:
phuùt). vò(ñôn lôùp leân gian thôøi Toång
X
a1
∑
−
Chỉ dẫn về phương pháp đo mạch trong giờ lên lớp TDTT ởû trường phổ thông.
Đã có nhiều nghiên cứu chứng thực có thể lấy mạch đập làm chỉ báo tin cậy về lượng vận động của học sinh trong giờ lên lớp TDTT. Chỉ
dẫn tham khảo sau tương đối thích hợp hơn với các giờ chủ yếu về thể dục, điền kinh. Đo mạch, nên gắn đồng thời với phân tích mật độä chung
và mật độä vận động của giờ lên lớp. Cần phải đo mạch một lần trước lúc lên lớp (lúc tương đối yên tĩnh), ít nhất 2 lần trong phần khởi động, từ
6 lần trở lên trong phần cơ bản, l lần ngay sau khi kết thúc giờ lên lớp và l lần nữa sau 15 - 20 phúùt. Mạch cần được tính theo phúùt và ghi vào
biên bản. Tuy vậy, cũng không cần tính ngay ra trong cả phút vội. Trước hết hãy đo mạch trong 10giây bằng đồng hồ bấm giờ. Những số liệu đó
cần được ghi vào biên bản quan sát cùng với các ghi chú khác. Thông thường, mạch của trẻ 11 tuổi là 84 lần/phúùt; 12 tuổi - 82 lần, 13 tuổi - 80
lần... Theo những nghiên cứu về biến đổi mạch của học sinh lứa tuổi trên trong những giờ lên lớp thể dục là chính thì mạch sau phần khởi động

