GS.TS.NGND NGUYN TÀI CN
(02/5/1926 – 25/02/2011)
GS. Nguyễn Tài Cẩn
Cùng với GS Đào Duy Anh và GS Hoàng Xuân Hãn, GS Nguyễn Tài Cẩn là một trong
ba nhà nghiên cứu Việt ngữ học (tính đến thời điểm này) được nhận Giải thưởng Hồ Chí
Minh. GS Nguyễn Tài Cẩn cũng là người được giới nghiên cứu đánh giá cao trong các
lĩnh vực Ngữ pháp tiếng Việt; Nghiên cứu chữ Nôm và chquốc ngữ; Lịch sử và phương
ngữ tiếng Việt…
1. Sơ lược về tiểu sử
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn sinh ngày 02/5/1926 (năm Bính Dần) tại làng Thượng Thọ (nay
thuộc xã Thanh Văn), Thanh Chương, Nghệ An. Ông mất ngày 25/02/2011 tại Moskva
(Nga).
Lúc nhỏ, ông tiếp thụ Hán học trong một gia đình Nho học, sau đó theo học các trường
Quốc học Vinh và Quốc học Huế.
Sau Cách mạng Thángm, ông đã tham gia các công tác kháng chiến tại Nghệ An, là
đảng viên từ năm 1949.
Ông bắt đầu dạy học từ năm 1949. Năm 1952, ông được bổ nhiệm làm trlí Đại học lớp
đầu tại Liên khu Bốn,m 19531954 là Trưởng phòng chuyên môn của Khu Giáo dục
Liên khu Bốn.
Từ năm 1955 đến năm 1960 ông được Bộ Giáo dục cử làm chuyên gia Việt ngữ học đầu
tiên của nước ta tại Liên Xô (Trường Đại học Tổng hợp Leningrad). Năm 1960 ông bảo
vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ Ngữ văn đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô về Ngôn
ngữ học với đề tài Từ loại Danh từ tiếng Việt. Từ năm 1961 đến m 1971 ông làm Ch
nhiệm Bộ môn Ngôn ngữ học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1980 ông được
Nhà nước phong học hàm Giáo sư. Trong các năm 1982, 19881990, ông được mời thỉnh
giảng tại Trường Đại học tổng hợp Paris 7, năm 1991 tại Viện Đại học Cornell (Hoa Kì).
Năm 2000 Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về
các công trình Ngữ pháp và Lịch sử tiếng Việt.
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn là một trong những chuyên gia đầu ngành của Ngôn ngữ học
nước ta, ông đã đào tạo rất nhiều thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngôn
ngữ học, Việt ngữ học, Hán Nôm, bồi dưỡng rất nhiều cán bộ chuyên môn nay đã trưởng
thành. Ông có công ln trong việc xây dựng chuyên ngành Ngôn ngữ học tại Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội, nay là Khoa Ngôn ngữ học của Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong lĩnh vực nghiên cứu, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn là một chuyên gia Ngôn ngữ học am
hiểu sâu sắc nhiều lĩnh vực, đặc biệt là Việt ngữ học và Hán-m, ông là người thông
thái các phương diện đồng đại và lịch đại trong nhiều địa hạt (ngữ pháp, ngữ âm, từ
nguyên, văn tự) và đã dành nhiều thời gian để viết các giáo trình và chuyên khảo. Các tác
phẩm chính của ông đã được xuất bản là:
T loi danh t tiếng Vit (1975)
Ng pháp tiếng Vit (1975, 1977, 1996)
Ngun gc và s hình thành cách đọc Hán Vit (1979, 2000)
Mt s vấn đề v ch Nôm (1983)
Ng âm lch s tiếng Vit (1995)
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn còn là tác giả của nhiều bài báo khoa học xuất bản ở trong và
ngoài nước, nhiều báo cáo khoa học ở các Hội nghị Khoa học Quốc tế.
2. Các sách đã xuất bản
1. T loi Danh t trong tiếng Vit hiện đại. Nxb Khoa hc Xã hi, 1975.
2. Ng pháp tiếng Vit: Tiếng – T ghép Đon ng. Nxb Đại hc và Trung hc
Chuyên nghiệp, 1975. Nxb Đại hc Quc gia (tái bn nhiu ln).
3. Ngun gc và quá trình hình thành cách đọc Hán Vit. Nxb Khoa hc Xã hi, 1979.
Nxb Đại hc Quc gia (tái bn nhiu ln).
4. Mt s vấn đ v ch Nôm. Nxb Đi hc và Trung hc chuyên nghip, 1985.
5. Giáo trình lch s ng âm tiếng Việt (sơ tho). Nxb Giáo dc, 1995.
6. Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyn Trung Ngn. Nxb
Giáo dc, 1998.
7. Tìm hiu kĩ xảo hồi văn liên hoàn trong bài Vũ trung sơn thuỷ ca Thiu Tr. Nxb
Thun Hoá, 1998.
8. Mt s chng tích v ngôn ngữ, văn tự và văn hoá. Nxb Đại hc Quc gia, 2001.
9. Tư liệu Truyn Kiu: Bn Duy Minh Th 1872. Nxb Đại hc Quc gia, 2002.
10. Tư liệu Truyn Kiu: T bn Duy Minh Th đến bn Kiu Oánh Mu. Trung tâm
Nghiên cu Quc học. Nxb Văn hc, 2004.
Cố GS Nguyễn Tài Cẩn 19 năm “sửa”
bài "Nam Quốc Sơn Hà!"
Nhìn ra sai sót ca mình và cho ti khi nhm mt vẫn băn khoăn tìm cách dch nghĩa câu
cuối trong bài thơ ch Hán Nam quốc sơn - câu chuyn v c GS Nguyn Tài Cẩn đã
tht s làm nhiều người xúc động trong cuc hi tho v ông mang tên Tưởng nh GS
Nguyn Tài Cn (din ra ti Hà Ni vào hôm qua, 26/3/2011).
1. Câu chuyện về thầy mình và cơ duyên với bài thơ Nam quốc sơn hà (vẫn được coi là
của Lý Thường Kiệt) do ông Nguyễn Hùng Vĩ (giảng viên Trường ĐH Quốc gia Hà Nội)
kể lại. Theo đó, GS Nguyễn Tài Cẩn chính là người đầu tiên đưa ra những kiến giải mới
về nội dung câu thơ cuối trong bài thơ lịch sử này. Bởi bài thơ thất ngôn này có cách ngắt
nhịp 4-3 trong 3 câu đầu, trong khi câu thơ cuối chỉ đọc theo kiểu “phá cách” bằng nhịp 3-
4 thì mới có nghĩa như chúng ta vẫn hiểu. (Nhữ đẳng hành/khan thbại hư - tạm dịch
Chúng bay sbị đánh tơi bời).
Giảng viên Nguyễn Hùng Vĩ kể: Năm 1979, khi tham dự một cuộc hội thảo về bài thơ
này, GS Nguyễn Tài Cẩn đưa ra kiến giải đại ý rằng cách đọc như vậy là đúng, bởi việc
“phá cách” theo nhịp mới là điều đã từng có trong thơ cổ. Để rồi, trong một bài viết năm
1998, ông lại thẳng thắn cho biết lập luận của chính mình đó có nhiều điểm sai cơ bản.
Ngh
ĩa là, theo lời ông Vĩ, câu thơ cuối phải đọc “chuẩn” với nhịp chung 4-3 (Nhđẳng
hành khan/thủ bại hư) và người dịch cần đi tìm hiểu nghĩa chính xác của câu thơ này.
“Suốt 19 năm kể từ ngày ấy, thầy tôi không thôi băn khoăn về kiến giải của mình, tìm
cách gặp gỡ trao đổi, đọc thêm tài liu, lắng nghe các phản biện của đồng nghiệp, thừa
nhận sai sót của mình và đưa ra ý kiến mới mà chúng tôi vừa trích dẫn. Đó là sự trung
thực, cầu thị mà không phải nhà khoa học nào cũng có thể làm - ông Vĩ tâm sự - Trao đổi
với tôi về ý kiến của thầy, GS Bùi Duy Tân nhận xét: Cái đúng, cái mới nhiều khi khó
được chấp nhận bởi thói quen hình thành lâu ngày. Nhiều khi, một kiến giải khoa học hữu
lí nhưng vì phương tiện truyền thông ít thuận lợi nên không đến được với nhiều người và
không được góp phần nâng cao tri thức cộng đồng, để cho những ý kiến chưa chính xác
tồn tại lâu dài, cái sai này nối tiếp cái sai khác”.
2. Cố gắng hoàn thành m nguyn của thầy mình, ông Vĩ đã bnhiều thời gian tìm đọc v
à
đối chiếu các cách sử dụng hai chữ Hán “hành khan” trong Nam quốc sơn hà. T
ại cuộc tọa
đàm, bằng một số phân tích và lập luận, ông Vĩ đưa ra kiến giải: có lý do để hiểu “hành
khan” theo một nghĩa tương đương ở tiếng Việt là “xem ra”. Theo cách hiểu này, ghép
cùng 3 câu thơ đầu, bài Nam quốc sơn hà có thể được dịch nghĩa: (Sông núi nước Nam,
Nam đ
ế quản trị/Hiển nhiên đã định phận tại thiên thư/Cớ sao bọn giặc ngỗ ngược đến
xâm phạm/Mà chúng bay, xem ra, lại chịu bại ư?)
Có nghĩa, thay vì tuyên b“giặc Tống sẽ bị đánh tơi bời”, câu cuối của bài thơ cần được
hiểu thành lời động viên, khích lcủa thần linh với quân dân Đại Việt: “thực tế là vậy,
giặc Tống lại ngỗ ngược như thế, chẳng lẽ các người cam lòng chịu thất bại hay sao?” -
ông Vĩ giải thích - Cách hiểu này rất hợp với bối cảnh của bài thơ, khi những người nghe
Nam qu
ốc sơn hà lần đầu từ đền Trương Hống, Trương Hát chính là quân dân Đại Việt.
Cũng cần nói thêm, trong ngôn ngữ cổ, nghĩa của từ chúng bay, chúng m
ày, các ngươi...
cách xưng hô thường tình của bậc trên với kẻ dưới chứ không hề có nghĩa miệt thị gì”.
Rõ ràng, là lời tuyên bhướng về quân Tống hay lời động viên, khích lệ quân dân Đại
Việt chiến đấu, giá trị của bài thơ Nam quốc sơn hà vẫn không hề thay đổi. Và thực tế, dù
mới chỉ dừng ở một giải thiết được gợi mở, cách cắt nghĩa mới của cố của GS Nguyễn T
ài
Cẩn và đồng nghiệp vẫn mang lại sự phong phú hơn trong những huyền thoại về bài thơ
lịch sử này.
Ngư
ời mở lối tiên phong cho Việt ngữ học
Có tên gọi giản dị Tưởng nhớ GS Nguyễn Tài Cẩn, cuộc tọa đàm được coi nh
thắp muộn sau một tháng kể từ ngày nhà ngôn nghọc hàng đầu của Việt Nam qua đời.
Nh
ững gương mặt xuất hiện tại đây đa phần là học trò của ông qua nhiêu thế hệ - và tất
nhiên đang là những chuyên gia trong lĩnh vực ngôn ngữ học như GS Nguyễn Minh
Thuyết, GS Đinh Văn Đức, các PGS Vũ Đức Nghiệu, Phạm Hùng Việt, Trịnh Bá Phiến,
Phạm Văn Tình...
Các ý kiến tại cuộc tọa đàm đều nhắc tới cố GS Nguyễn Tài Cẩn (1926 - 2011) trong vai
trò người đặt ra nhiều nền móng cơ bản liên quan tới các vấn đề về hình thái, ngữ pháp,
cấu trúc... của tiếng Việt. Trong suốt nửa thế kỷ nghiên cứu kể từ 1960 tới nay, GS
Nguy
ễn Tài Cẩn đã âm thầm làm việc và lần lượt công bố hàng loạt cuốn sách: Từ loại
danh ttrong tiếng Việt hiện đại (1975), Ngữ pháp tiếng Việt (tiếng - từ ghép - đoản ngữ)
(1975), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán - Việt (1979), Một số vấn đề về
chữ Nôm (1985), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Sơ thảo, 1995), Tư liệu Truyện
Kiều: Từ bản Duy Minh Thị đến bản Kiều Oánh Mậu (2004)... - trong đó mỗi cuốn sách
đều là một công trình nghiên cứu công phu và đặc biệt có giá trị “khai phá” để tiếng Việt
phát triển đúng hướng.
Chiêu Minh
Văn Thùy – PHẢI CHĂNG GIÁO SƯ
NGUYỄN TÀI CẨN THẤY NGỌN MÀ
CHƯA BIẾT GỐC?
Lời người viết: Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (1926-2011) được coi là nhà ngữ học hàng đầu
Việt Nam. Ông được phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và tặng Giải thưởng Hổ Chí
Minh với những công trình nghiên cứu giá trị, trong đó nổi bật là Nguồn gốc và quá trình
hình thành cách đọc Hán – Việt. Tuy nhiên theo khảo cứu của chúng tôi, không phải cách
đọc Hán Việt được dạy lần cuối vào thời Đường là ngọn nguồn của tiếng Việt mà ngược
lại, chính từ tiếng Việt cổ đã sinh ra cách đọc Hán Việt cũng như ngôn ngữ Trung Hoa!
Xin công bố bài viết, mong nhận đựơc ý kiến thảo luận của các bậc thức giả.
* * *
Vào thập niên 80 thế kỷ trước, công trình Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc
Hán-Việt của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn được đánh giá là khám phá ngôn ngữ học quan
trọng,m thỏa mãn bức xúc của nhiều học giả, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới.
Đó là ý tưởng cho rằng: “Cách đọc Hán-Việt hiện nay chính là bắt nguồn từ cách đọc
chữ Hán đời Đường (618-907 sau CN) tại kinh đô Trường An, từ hệ thống ngữ âm tiếng
Hán được dạy lần cuối cùng tại Giao Châu trước khi Việt Nam giành được độc lập vào
thế kỷ thứ 10.” Nhờ đó ông được coi là người “đã soi rọi đến tận ngọn nguồn cách đọc
Hán-Việt, một cách đọc đã giúp người Việt Nam dễ dàng tiếp nhận những tinh hoa của
văn hóa Hán – một trong hai nền văn hóa lớn nhất phương Đông – mà không bị Hán hóa”
(*).
Để có ý tưởng này, giáo sư Cẩn cùng các học giả trước ông như H. Maspéro với cuốn
Tiếng địa phương Trường An đời Đường (Le dialecte de Tchang-an sous les Tang), B.
Karlgren với cuốn Khảo sát âm vị học tiếng Hán (études sur la phonologie chinoise)…
dựa trên hai định đề khoa học vững chắc của thế kỷ XX là:
Loài người được sinh ra từ nhiều vùng khác nhau. Người châu Á được hình thành tNam
Tây Tạng rồi di cư dần về phía đông nam và xâm nhập Đông Nam Á.
Văn hóa nhân loại được phát sinh từ vùng Lưỡng Hà, chuyển qua Trung Hoa và Ấn Độ
rồi vào Đông Nam Á. Vì vậy, ảnh hưởng của ngôn ngữ Trung Hoa đối với Việt Nam là
điều tất yếu.
Sang thế kỷ XXI, từ những nghiên cứu di truyền học, khoa học khẳng định:
Nhân loại được sinh ra đầu tiên tại địa điểm duy nhất là Đông Phi, 160.000 năm trước.
Người tiền sử từ châu Phi theo bờ biển Ấn Độ tới Việt Nam 70.000 năm trước. Khoảng
40000 năm trước, người từ Việt Nam lên khai phá đất Trung Hoa, 30000 năm trước, sang
chinh phục châu Mỹ.
Nhận định như vậy không còn là “giả thuyết làm việc” mà là kết luận khoa học vững
chắc, đã lật ngược những quan niệm “khuôn vàng thước ngọc” một thời, tạo cuộc cách