BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
--------------& -------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM –
LIÊN MINH CHÂU ÂU: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA VIỆT NAM
VÀO THỊ TRƯỜNG NÀY
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
TRẦN ANH HÙNG
Hà Nội - 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
--------------& -------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM –
LIÊN MINH CHÂU ÂU: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 8310106
Học viên: Trần Anh Hùng
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Huyền Phương
Hà Nội - 2020
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Tôi xin cam đoan rằng số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với
các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ
nguồn gốc. Kết luận khoa học trong luận văn là kết quả quá trình nghiên cứu khoa
học nghiêm túc của tôi, trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Anh Hùng
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................... i
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT ..................................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ ........................................................................................... v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ........................................................................................................ v
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ........................................................... vi
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................................. 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................................ 2
3. Mục đích của đề tài ...................................................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 5
6. Cấu trúc của đề tài ...................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU. ..................................................................................................... 7
1.1. Cơ sở lý thuyết về Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cơ hội và thách thức đối với các quốc gia tham gia. ......................................................................................... 7 1.1.1. Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ............................................................... 7 1.1.2. Cơ hội và thách thức đối với các quốc gia tham gia FTA thế hệ mới ................. 9
1.2. Tổng quan về liên minh Châu Âu và một số quốc gia tiêu biểu ......................... 11 1.2.1. Liên minh Châu Âu ........................................................................................... 11 1.2.2. Khái quát về thị trường một số Quốc gia tiêu biểu trong EU ............................ 13
1.3. Hiệp định thương mại tự do EVFTA .................................................................... 16 1.3.1. Tiến trình đàm phán ........................................................................................... 16 1.3.2. Nội dung cơ bản của Hiệp định ......................................................................... 18
1.4. Quy định trong EVFTA liên quan đến xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU .................................................................................................................................... 29
1.5. Tính tương thích giữa EVFTA và Pháp luật Việt Nam hiện hành .................... 30
CHƯƠNG 2. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU KHI EVFTA CÓ HIỆU LỰC ....... 32
2.1. Đặc điểm của sản phẩm thuỷ sản .......................................................................... 32 2.1.1. Thuỷ sản chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên ................................. 32 2.1.2. Thuỷ sản mang tính thời vụ ............................................................................... 33 2.1.3. Thuỷ sản mang tính phân tán ............................................................................. 33 2.1.4. Thuỷ sản mang tính tươi sống ........................................................................... 34 2.1.5. Thuỷ sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người .................................... 34 2.1.6. Thuỷ sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại và chất lượng ..................... 34
2.2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU giai đoạn 2015-2020 ........................................................................................................................ 35
iii
2.2.1. Khái quát về hoạt đông xuất khẩu Thuỷ sản của Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2020 .......................................................................................................................... 35 2.2.2. Khái quát tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU ......................... 37 2.2.3. Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường một số nước tiêu biểu: Hà Lan, Đức, Ý ......................................................................................................................... 39
2.3. Cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU khi EVFTA có hiệu lực ........................................................................ 40 2.3.1. Cơ hội ................................................................................................................ 40 2.3.2. Thách thức ......................................................................................................... 46
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM TẬN DỤNG CƠ HỘI VÀ VƯỢT QUA THÁCH THỨC ........................................................................ 54
3.1. Định hướng phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam ............................................... 54 3.1.1. Phát triển thuỷ sản bền vững ............................................................................. 54 3.1.2. Liên kết quốc tế trong sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản ...................................... 56 3.1.3. Phổ biến rộng rãi nội dung Hiệp định đến các doanh nghiệp XNK và ngư dân 56 3.1.4. Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – EU ................................................. 57 3.1.5. Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý và hỗ trợ thuỷ sản .................................. 58
3.2. Một số kiến nghị, giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trường EU trong những năm tới .................................................................................. 62 3.2.1. Nhóm giải pháp tận dụng cơ hội và hạn chế thách thức .................................... 62 3.2.2. Một số nhóm giải pháp với các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp và ngư dân 65 Thứ hai, giải quyết dứt điểm vấn đề thẻ vàng IUU: .................................................... 67
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 75
iv
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Mô tả
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
BĐKH
Biến đổi khí hậu
HNTQ
Hạn ngạch thuế quan
ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Brexit
Sự kiện Anh rút khỏi Liên minh Châu Âu
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
CPTPP
Dương
C/O
Giấy chứng nhận xuất xứ
EIF
Thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực
EU
Liên minh Châu Âu
FTA
Hiệp định Thương mại tự do
GAP
Tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
Chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không
IUU
được quản lý
SPS
Các biện pháp kiểm dịch động thực vật
Phương pháp phân tích các điểm Mạnh, điểm Yếu, Cơ hội
SWOT
và Thách thức
SPS
Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm
TBT
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại
Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình
TPP
Dương
VASEP
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
WTO
Tổ chức thương mại Thế giới
ĐBSCL
Đồng bằng sông cửu long
BĐKH
Biến đổi khí hậu
HNTQ
Hạn ngạch thuế quan
v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Lộ trình cắt giảm thuế của một số ngành hàng thuỷ sản ................................ 43
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam giai đoạn 2015-2020 ............................. 35
Biểu đồ 2.2: Tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam-EU giai đoạn 2015-2019 ......... 37
Biểu đồ 2.3: Xuất khẩu Việt Nam-một số Quốc gia tiêu biểu của EU (Hà Lan, Đức, Ý) ............................................................................................................................................. 39
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng của các FTAs vào ngành thuỷ sản Việt Nam ................................ 44
Biểu đồ 2.5: các thị trường lớn nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam ....................................... 45
Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng chi phí Logistics của một số quốc gia trên thế giới ....................... 48
theo GDP năm 2019 ........................................................................................................... 48
vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
cơ hội và thách thức đối với ngành thuỷ sản Việt Nam” bao gồm 03 nội dung
Luận văn: “Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu:
chính:
Chương 1, tác giả giới thiệu tổng quan về Hiệp định thương mại tự do Việt
Nam-Liên minh Châu Âu (EU)- sau đây gọi tắt là “EVFTA”, cụ thể là tác giả đã nêu
lên được những thông tin tổng quát về tình hình kinh tế thị trường EU và một số nước
thành viên tiêu biểu trong một vài năm trở lại đây. Đồng thời nêu rõ những cam kết
thuế quan và chính sách ưu đãi của EU cho các ngành hàng của Việt Nam. Từ đó, tác
giả có cơ sở để đánh giá những tiềm năng đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam sang thị trường EU, cũng như đưa ra những phân tích về cơ hội và thách
thức mà Việt Nam gặp phải trong quá trình đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản
sang thị trường này khi Hiệp định có hiệu lực.
Tiếp theo, Chương 2, luận văn tập trung nêu lên hiện trạng của xuất khẩu thuỷ
sản Việt Nam nói chung và hiện trạng của xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Liên
minh Châu Âu EU trong giai đoạn 2015-2020 nói chung và cụ thể đến một số quốc
gia tiêu biểu. Trọng tâm chính của phần này, luận văn đã phân tích, làm rõ những cơ
hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường
EU khi EVFTA có hiệu lực. Đây là căn cứ để đề xuất những giải pháp cho ngư dân,
doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuỷ sản để có thể tận
dụng tối đa EVFTA để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này.
Cuối cùng, ở Chương 3, trên cơ sở phân tích, tổng hợp lý thuyết và thực tiễn tại
nội dung của Chương 1 và Chương 2, tác giả đã đưa ra những định hướng phát triển
ngành thuỷ sản Việt Nam và các giải pháp nhằm giúp các cơ quan chức năng, các
doanh nghiệp và ngư dân trong ngành thuỷ sản tháo gỡ các khó khăn, thách thức
trước, trong và sau khi EVFTA có hiệu lực. Đồng thời tận dụng triệt để các lợi ích to
lớn mà Hiệp định mang lại.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động và xu hướng toàn cầu
hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ về quy mô, chiều sâu và đa dạng về hình thức hợp
tác. Việc mở cửa, hội nhập, hợp tác các quốc gia với quốc gia, giữa các tổ chức với
tổ chức và giữa quốc gia với tổ chức trở thành xu thế tất yếu. Trong những năm gần
đây, Việt Nam đã tham gia ký kết và đang trong quá trình đàm phán nhiều Hiệp định
thương mại với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới như: Khu vực mậu
dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA),
Khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA), Đối tác kinh tế toàn diện
ASEAN-Nhật Bản (AJCEP), Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA),
Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Ấn Độ (AIFTA), Hiệp định thương mại tự do
Việt Nam-Chi Lê (VCFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh Châu
Âu (EVFTA), ....
Trong số đó EVFTA là một trong những hiệp định quan trọng và tác động rất
lớn đến nền kinh tế Việt Nam, EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao,
cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và Liên Minh Châu Âu (EU).
EU là một tổ chức khu vực lớn nhất thế giới hiện nay có sự liên kết tương đối
chặt chẽ và thống nhất được coi là một trong ba siêu cường có vị thế chính trị ngày
càng tăng (đó là Mỹ, EU, TRUNG QUỐC). Sau gần 70 năm phát triển và mở rộng
con số thành viên của EU là 27 quốc gia (không bao gồm Anh, Brexit-Sự kiện Anh
rút khỏi Liên minh Châu Âu). Hiện nay, EU được coi là một tổ chức có tiềm năng to
lớn để hợp tác về mọi mặt, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và đầu tư.
Trong hơn 2 thập kỷ qua, thương mại song phương giữa hai thị trường Việt Nam
- EU đã tăng hơn 20 lần, với giá trị mỗi năm gần 50 tỷ Euro, đưa châu Âu thành thị
trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau Mỹ. Khi EVFTA có hiệu lực sẽ gia
tăng trung bình 0,1% GDP Việt Nam mỗi năm chỉ nhờ vào các tác động thương mại
thuần túy (nguồn: Ngân hàng HSBC Việt Nam). Và khi hiệp định này thực thi, những
tiêu chuẩn cao của EVFTA sẽ thúc đẩy tốc độ cải cách và hội nhập quốc tế của Việt
Nam. Đây được coi như chiếc chìa khóa mở cửa cho hàng hóa Việt Nam (đặc biệt là
2
giày da, may mặc, thủy sản và nông sản…) thâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng
hơn 500 triệu dân này. Thủy sản Việt Nam được đánh giá là một trong những ngành
được hưởng lợi khá lớn khi đạt được những cam kết về cắt giảm thuế suất sâu nhất
từ trước đến nay. Song song với đó, ngành Thuỷ sản cũng sẽ phải đối mặt với những
thách thức không nhỏ khi thâm nhập vào thị trường được đánh giá là khó tính trên
thế giới.
Chính vì thế, kỳ vọng về những lợi ích mà Hiệp định EVFTA mang đến được
đặt vào hoạt động xuất – nhập khẩu Thuỷ sản là rất lớn. Tuy nhiên, khi mà Hiệp định
EVFTA vừa được ký kết và chưa chính thức có hiệu lực, nhận biết của cơ quan quản
lý nhà nước, doanh nghiệp và ngư dân về cơ hội cũng như thách thức mà Hiệp định
này mang lại chắc hẳn là chưa được toàn diện và đầy đủ. Nếu không hiểu rõ về hiệp
định, hiểu rõ từng nội dung, mặt hàng, thị trường tác động như nào, thì đôi khi, cơ
hội sẽ trở thành thách thức. Trong quá trình thực hiện có thể gặp phải không ít những
khó khăn, thiếu sót, sai lầm, dẫn đến những hậu quả không đáng có.
Vì vậy luận văn “Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu
Âu: cơ hội và thách thức đối với ngành thuỷ sản Việt Nam”, hy vọng sẽ góp
phần đánh giá được một cách toàn diện về vấn đề này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu về Hiệp định EVFTA đã xuất hiện ngay từ khi Việt Nam và EU
khởi động các vòng đàm phán đầu tiên. Cho đến nay có thể liệt kê một số các nghiên
cứu như sau:
• Nghiên cứu trong nước
Công trình nghiên cứu: “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên minh Châu Âu: thực
trạng và triển vọng” của GS.TS Nguyễn Quang Thuấn (2010) Phân tích “Tác động
của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đến xuất nhập khẩu của các ngành
công nghiệp Việt Nam”.
Của Phạm Ngọc Phong, Đặng Thùy Linh và Nguyễn Thị Ánh Ngọc trên Tạp
chí Phát triển và Hội nhập (12/2016). “Kiến nghị chính sách của Cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam về Triển vọng Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh
Châu Âu” của Ủy ban tư vấn chính sách Thương mại quốc tế - VCCI (2013).
3
Bài viết “Đánh giá tác động theo ngành của Hiệp định thương mại tự do Việt
Nam - EU: Sử dụng các chỉ số thương mại” của Vũ Thanh Hương, Nguyễn Thị Minh
Phương trên Tạp chí ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 32, số 3 (2016).
Báo cáo “Vietnam - EU free trade agreement: Impact and policy implications
for Việt Nam” (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu: Tác
động và những kiến nghị về chính sách cho Việt Nam) của tác giả Nguyễn Bình
Dương, Đại học Ngoại thương Hà Nội.
Các nghiên cứu ở trên đề cập mối quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam và EU,
bên cạnh đó đề cập đến triển vọng phát triển mối quan hệ này ở góc nhìn vĩ mô của
toàn bộ nền kinh tế. Ở một số nghiên cứu đã có đề cập đến xuất nhập khẩu nói chung
của Việt Nam - EU và tập trung vào một số ngành công nghiệp chủ đạo. Đối với
EVFTA, nghiên cứu cũng chỉ ra các động cơ tham gia hiệp định của EU, đề cập đến
các điểm cần phải cân nhắc của Việt Nam nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục
cũng như đề cập đến cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, về các kỳ vọng và quan
ngại, các tác động đến thương mại, các cơ hội thách thức đặt ra và từ đó đưa ra các
giải pháp kiến nghị về mặt chính sách.
Như vậy các nghiên cứu trên đã đưa ra những cái nhìn tổng thể nhất về mối
quan hệ thương mại Việt Nam - EU và các tác động cơ bản của EVFTA lên nền kinh
tế, bên cạnh việc đưa ra nghiên cứu tổng quan, cũng có những nghiên cứu chỉ ra tác
động trên một số lĩnh vực nhất định như công nghiệp, nông nghiệp, dệt may, các
nhóm hàng cụ thể, tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra các nội dung của
Hiệp định liên quan đến Thuỷ sản, các vấn đề cụ thể mà xuất khẩu thuỷ sản của Việt
Nam sang EU và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu.
• Nghiên cứu nước ngoài
Báo cáo “The free trade agreement between Vietnam and the European Union:
Quantitative and qualitative impact analysis” (Hiệp định thương mại tự do giữa Việt
Nam và Liên minh Châu Âu: Phân tích tác động về định lượng và định tính) của
Mutrap (2011).
4
Báo cáo “Sustainable impact assessment EU - Vietnam FTA”(Đánh giá tác động
dài hạn của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu) của Mutrap
(2014).
Các nghiên cứu nước ngoài hiện có về EVFTA chủ yếu là các báo cáo của
Mutrap. Trong đó, giới thiệu mối quan hệ Thương mại và Đầu tư Việt Nam - EU, đề
cập đến Hiệp định EVFTA, đánh giá tác động về định lượng dựa trên mô hình cân
bằng tổng thể và đánh giá chi tiết các ảnh hưởng đến từng ngành, đặc biệt phân tích
các tác động với một số ngành chủ lực của Việt Nam như dệt may, giày dép, ô tô,
ngân hàng và lĩnh vực đầu tư. Bên cạnh đó cũng đưa ra các kiến nghị cụ thể để Việt
Nam hướng tới phát triển bền vững.
Như có thể thấy ở trên, có khá nhiều các nghiên cứu về EVFTA đã được thực
hiện trong thời gian qua, tuy nhiên các nghiên cứu này phần lớn còn ở góc độ tổng
quan, nghiên cứu vĩ mô cả nền kinh tế. Một số nghiên cứu chỉ ra tác động trực tiếp
của Hiệp định đến các hoạt động thương mại và đầu tư nói chung ở trên tất cả lĩnh
vực, ở các nghiên cứu khác tập trung vào nghiên cứu các ngành hàng quan trọng như
dệt may, da giày, ô tô, điện tử, các ngành công nghiệp khác, chứ chưa có một nghiên
cứu sâu sắc toàn diện nào về lĩnh vực Thuỷ sản, đặc biệt là xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam vào thị trường EU.
Như vậy, bài luận văn được thực hiện trong bối cảnh hiện nay, khi EVFTA đã
được hai bên ký kết, phê duyệt và đã đi vào thực thi từ ngày 01 tháng 08 năm 2020,
được coi như bài nghiên cứu đầu tiên khi chỉ ra cơ hội và thách thức mà ngành Thuỷ
sản, xuất khẩu thuỷ sản phải đối mặt khi EVFTA có hiệu lực. Đồng thời đưa ra các
giải pháp tận dụng cơ hội và vượt qua thử thách cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt
Nam.
3. Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài là phân tích những Cơ hội và Thách thức mà EVFTA mang
lại đối với hoạt đông xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU. Từ đó
đưa ra những định hướng phát triển thuỷ sản Việt Nam và giải pháp vượt qua thách
thức và tận dụng những cơ hội mà hiệp định mang lại nhằm thúc đẩy xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam sang thị trường này trong những năm tới.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, Tác giả tập trung nghiên cứu cơ hội và thách thức
đối với xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường EU khi EVFTA có hiệu lực.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: đối tượng của luận văn là các vấn đề về
lý luận và thực tiễn trong hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường
EU khi EVFTA có hiệu lực.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU trong giai
đoạn 2015-2019 (một số dữ liệu được tác giả cập nhật đến Quý I-2020);
- Thị trường EU nói chung và thị trường một số quốc gia tiêu biểu như Hà Lan,
Đức, Ý nói riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, căn
cứ vào đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của
bài khóa luận bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp so sánh
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và phần phụ lục, luận văn gồm ba chương:
Chương I. Tổng quan về hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh
Châu Âu.
Chương II. Cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt
Nam sang thị trường EU khi EVFTA có hiệu lực.
Chương III. Một số giải pháp để ngành thuỷ sản Việt Nam tận dụng cơ hội và
vượt qua thách thức.
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do những hạn chế về năng lực, trình độ cũng như
kinh nghiệm thực tiễn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy Cô và bạn đọc để luận văn được hoàn
thiện hơn.
6
Qua đây Tôi xin được gửi lời cám ơn sâu sắc đến sự hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình của TS. VŨ HUYỀN PHƯƠNG đã giúp tôi hoàn thành luận văn trong suốt
thời gian qua.
7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT
NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU.
1.1. Cơ sở lý thuyết về Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cơ hội và thách
thức đối với các quốc gia tham gia.
1.1.1. Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Hiệp định thương mại tự do (tiếng Anh: Free Trade Agreement; viết tắt: FTA).
Khái niệm FTA lần đầu được đưa ra ở Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(GATT) 1947, điều XIV, khoản 8b: “một khu vưc thương mại tự do được hiểu là một
nhóm gốm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuế quan trong đó thuế và các quy định
thương mại khác được dở bỏ đối với phần lớn các mặt hàng được xuất xứ từ lãnh thổ
đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ thuế quan đó.”
Thuật ngữ “Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới” được sử dụng để
chỉ các FTA với những cam kết sâu rộng và toàn diện, bao hàm những cam kết về tự
do thương mại hàng hóa và dịch vụ như các “FTA truyền thống”; mức độ cam kết
sâu nhất (cắt giảm thuế gần như về 0%, có thể có lộ trình); có cơ chế thực thi chặt chẽ
và hơn thế, nó bao hàm cả những lĩnh vực được coi là “phi truyền thống” như: Lao
động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa, cơ
chế giải quyết tranh chấp về đầu tư…
Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới có hơn 200 hiệp định thương
mại tự do có hiệu lực. Thành viên của các FTA có thể là các quốc gia (ví dụ Việt
Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ…) hoặc các khu vực thuế quan độc lập (ví dụ Liên minh
châu Âu, Hong Kong Trung Quốc…). Vì vậy, thông thường khi nói tới Thành viên
FTA, người ta hay dùng từ chung là “nền kinh tế”. Các FTA có thể là song phương
(02 Thành viên) hoặc đa phương/khu vực (nhiều hơn 02 Thành viên).
Phạm vi và các vấn đề được đề cập trong mỗi FTA là khác nhau, phụ thuộc vào
lựa chọn và thỏa thuận giữa các Thành viên FTA. Tuy nhiên, với tính chất chung là
hướng tới loại bỏ rào cản đối với phần lớn thương mại giữa các nền kinh tế thành
viên, một FTA thường bao gồm các nội dung chính sau:
8
(i) Nhóm các cam kết liên quan tới tự do hàng hóa (thương mại hàng hóa):
Nhóm này bao gồm các cam kết liên quan tới việc dỡ bỏ các rào cản đối với thương
mại hàng hóa giữa các Thành viên, cụ thể:
Ưu đãi thuế quan (thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu): Thường là một Danh mục
liệt kê các dòng thuế được loại bỏ và lộ trình loại bỏ thuế (loại bỏ ngay hay sau một
số năm).
Quy tắc xuất xứ: Bao gồm các cam kết về điều kiện xuất xứ để được hưởng ưu
đãi thuế quan và thủ tục chứng nhận xuất xứ.Ngoài ra, một số FTA giai đoạn sau này
còn có thêm các cam kết về các vấn đề thúc đẩy, hỗ trợ cho thương mại hàng hóa, ví
dụ:
• Hải quan và tạo thuận lợi thương mại: Bao gồm cam kết về quy trình, thủ
tục, minh bạch thông tin… trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa.
• Các nguyên tắc trong đối xử với hàng hóa nhập khẩu khi lưu thông trong
thị trường nội địa.
(ii) Nhóm các cam kết liên quan tới tự do dịch vụ (thương mại dịch vụ)
• Không phải FTA nào cũng có các cam kết về thương mại dịch vụ.
Thường thì các FTA được đàm phán ký kết ở giai đoạn sau này mới có
các cam kết về vấn đề này, thường sẽ bao gồm:
• Mở cửa thị trường dịch vụ: Thường là một Danh mục các dịch vụ cam
kết mở và các điều kiện mở cửa cụ thể
• Các nguyên tắc liên quan tới việc đối xử với nhà cung cấp dịch vụ nước
ngoài khi họ cung cấp dịch vụ vào Việt Nam hoặc cho tổ chức, cá nhân
Việt Nam
(iii) Nhóm các cam kết liên quan tới các vấn đề khác: Các FTA giai đoạn sau này
thường có thêm các cam kết về một hoặc một số các lĩnh vực khác không phải thương
mại hàng hóa, dịch vụ nhưng có vai trò quan trọng trong thương mại, đầu tư giữa các
Thành viên như:
• Đầu tư (có thể là cam kết về đầu tư độc lập hoặc cam kết về đầu tư gắn
với mở cửa thị trường dịch vụ)
• Sở hữu trí tuệ
9
• Cạnh tranh, minh bạch, chống tham nhũng
• Môi trường
• Lao động…
Số các lĩnh vực và mức độ chi tiết của các cam kết trong mỗi lĩnh vực là khác
nhau giữa các FTA, tùy thuộc vào sự quan tâm của các Thành viên và bối cảnh đàm
phán.
1.1.2. Cơ hội và thách thức đối với các quốc gia tham gia FTA thế hệ mới
1.1.2.1. Cơ hội
Về Kinh tế:
Thứ nhất, tham gia các FTA thế hệ mới giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu,
gia tăng xuất siêu cũng như thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu.
Một trong những yêu cầu cơ bản của các FTA là cắt giảm thuế quan đối với hầu
hết các dòng thuế về mức 0% và nhiều biện pháp phi thuế quan cũng cần phải được
xóa bỏ theo lộ trình. Đây chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp trong nước thúc đẩy
tăng trưởng xuất khẩu vào những thị trường mà quốc gia đó đã ký kết các FTA thế
hệ mới, từ đó góp phần gia tăng xuất siêu cũng như thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu.
Thứ hai, tham gia các FTA thế hệ mới giúp các quốc gia thu hút được nguồn
vốn FDI từ các quốc gia thành viên.
Với việc một số FTA thế hệ mới dành riêng một chương điều chỉnh về đầu tư,
trong đó có các cam kết về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, cũng như về cơ chế giải
quyết tranh chấp đầu tư, các quốc gia có thể trở thành điểm đến của luồng vốn đầu tư
nước ngoài từ những quốc gia thành viên của các FTA thế hệ mới.
Thứ ba, tham gia các FTA thế hệ mới giúp đẩy nhanh quá trình cải cách thể chế
kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện môi trường kinh doanh.
Nhiều FTA thế hệ mới đều hàm chứa các chương, với mức độ cam kết sâu rộng
khác nhau, để điều chỉnh về các vấn đề này. Thực thi tốt quy định trong các FTA thế
hệ mới sẽ giúp các quốc gia đảm bảo thể chế kinh tế được minh bạch hóa, kịp thời
ứng phó với tác động kinh tế thế giới. Các FTA thế hệ mới sẽ giúp các quốc gia kiện
toàn hơn bộ máy nhà nước, theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường
10
trách nhiệm, kỷ cương kỷ luật của nhân viên chính phủ, từ đó, hỗ trợ cho tiến trình
đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế.
Về pháp luật:
Lợi ích đối với các quốc gia khi tham gia FTA thế hệ mới thể hiện rõ nhất ở cơ
hội hoàn thiện pháp luật trong nước theo các cam kết mới. Những nước đang phát
triển khi tham gia vào các FTA thế hệ mới thường có hệ thống pháp luật chưa tương
xứng với yêu cầu của luật chơi chung. Do đó, thông qua việc tham gia các FTA thế
hệ mới, các nước đang phát triển có cơ hội hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước
theo những yêu cầu và chuẩn mực của luật chơi này.
1.1.2.2. Các thách thức và vấn đề đặt ra khi tham gia FTA thế hệ mới
Về kinh tế
Thứ nhất, thách thức từ khả năng cạnh tranh hạn chế của các doanh nghiệp trong
nước.
Báo cáo cũng chỉ ra khả năng thâm nhập và phòng vệ của doanh nghiệp trong
nước so với doanh nghiệp FDI cũng có nhiều hạn chế, vì nhiều nguyên nhân khác
nhau như: (i) Các doanh nghiệp trong nước chậm chuyển biến trong chiến lược về cắt
giảm chi phí, đảm bảo tiến độ giao hàng hay thực hiện tốt cam kết quốc tế; (ii) Doanh
nghiệp trong nước gặp khó khăn về tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như
vào phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, do thiếu khả năng đáp ứng yêu cầu của
chuỗi, nhất là về chất lượng sản phẩm.
Thứ hai, thách thức từ sự hấp thụ của nền kinh tế trước luồng vốn đầu tư nước
ngoài khi tham gia các FTA thế hệ mới. Bài học từ việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
sau khi các nước gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho thấy, khả năng
hấp thụ của nền kinh tế trước luồng vốn đầu tư nước ngoài “ồ ạt” có thể đặt ra nhiều
thách thức đối với các nước trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ ba, thách thức đối với thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách bị giảm khi
thuế nhập khẩu bị giảm mạnh vì các điều khoản ưu đãi thuế nhập khẩu của các Hiệp
định.
Thứ tư, thách thức đối với ngành Dịch vụ tài chính.
11
Thách thức đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, bao gồm: (i) Áp lực cạnh
tranh từ các nhà cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài; (ii) Nhu cầu đối với dịch vụ
tín dụng ngày càng cao, không dừng lại ở giá mà còn yêu cầu mức độ phong phú về
chủng loại và chất lượng dịch vụ; (iii) Các yêu cầu về ứng dụng công nghệ thông tin,
bảo mật thông tin, quản trị và bảo vệ an toàn dữ liệu thông tin trong lĩnh vực dịch vụ
tài chính ngày càng cao.
Thứ năm, sự hiểu biết và nhận thức của doanh nghiệp và các cơ quan ban ngành
về các FTA thế hệ nói chung còn hạn chế.
1.2. Tổng quan về liên minh Châu Âu và một số quốc gia tiêu biểu
1.2.1. Liên minh Châu Âu
EU hiện có 28 thành viên chính thức là Bỉ, Đức, Hà Lan, Luxembourg, Pháp,
Anh, Ý, Đan Mạch, Ireland, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Áo, Phần Lan, Thụy
Điển, Ba Lan, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Séc, Síp, Slovakia, Slovenia,
Bulgaria, Romania, Croatia. Trong đó nước Anh là thành viên trên danh nghĩa của
EU vì trong năm 2017, người Anh quyết định rời khỏi liên minh Châu Âu (sự kiện
Brexit). Nhiều chuyên gia nhận định rằng Đan Mạch sẽ tiếp bước Anh để rời khỏi tổ
chức này.
Đây là tổ chức liên kết khu vực lớn nhất, có tổ chức chặt chẽ nhất thế giới, gồm
những nước có chế độ chính trị, thể chế kinh tế giống nhau, tuy nhiên cũng có những
khác biệt về trình độ phát triển cũng như văn hóa, dân tộc, lịch sử.
Tiền tệ: Euro (EUR)
Nhập khẩu chính: Máy móc, xe cộ, máy bay, nhựa, dầu thô, hóa chất, dệt may,
kim loại.
Xuất khẩu chính: Máy móc, xe cơ giới, máy bay, nhựa, dược phẩm và hóa chất
khác.
Nhập khẩu chính từ các đối tác: Trung Quốc 15,89%, 11,97% của Mỹ, Nga
11,22%, 6,13% Na Uy, Thụy Sĩ 5,14% (nguồn: Theo thống kê của Ngân hàng thế
giới WB năm 2019).
12
Đối tác xuất khẩu chính: Mỹ 19,07%, Nga 8,03%, Thụy Sĩ 7,49%, Trung Quốc
6%, Thổ Nhĩ Kỳ 4.14% (nguồn: Theo thống kê của Ngân hàng thế giới WB năm
2019).
Time Zones: GMT, GMT + 1, GMT + 2.
(Nguồn: theo thống kê của Ngân hàng thế giới WB năm 2019) Với giá trị Tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) ở mức 17.300 tỷ USD, EU là cường quốc kinh tế lớn thứ
hai thế giới (đã từng là nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2014). EU chiếm 21%
GDP của thế giới, sau Mỹ (24%) và trước Trung Quốc (15%), Nhật Bản (6%), Ấn
Độ (3%) và Canada (2%), dân số đạt khoảng 511.805.088 người, tổng diện tích là
4.422.773 km² (nước có diện tích lớn nhất là Pháp với 554.000 km2 và nhỏ nhất là
Malta với 300 km2); EU là một trung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới có tốc độ
tăng trưởng kinh tế khá ổn định. Thu nhập quốc gia trên đầu người EU khoảng 41.000
USD/người trong năm 2019 so với của Việt Nam là 2.385 USD/ người. Với dân số
chiếm khoảng 6%, nhưng kim ngạch xuất nhập khẩu của EU chiếm 1/5 của Thế Giới.
Sự ổn định kinh tế của EU được xem là một trong những nhân tố chính giúp cho nền
kinh tế thế giới tránh được nguy cơ suy thoái toàn cầu. Sự lớn mạnh về kinh tế qua
quá trình nhất thể hóa và những bước đi xa hơn đã và đang đem lại cho EU một sức
mạnh kinh tế chính trị to lớn trên thế giới EU ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu. Hiển nhiên thị trường EU ngày càng rộng
lớn và đầy sức hấp dẫn đối với các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp xuất
khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Trong số các quốc gia thành viên EU. Mười tám nước
đã thông qua euro (EUR) là đồng tiền chung của họ. Các quốc gia này được gọi là
khu vực đồng euro. Hay còn được gọi là Liên minh Tiền tệ châu Âu (EMU) hoặc
Euroland.
Bên cạnh việc áp dụng một đồng tiền chung. Các quốc gia này cũng chia sẻ các
chính sách tiền tệ cùng một thiết lập của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB).
Vì điều đó, khu vực đồng euro vẫn tự hào là thị trường đầu tư hấp dẫn nhất cho
các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Là một liên minh kinh tế, khu vực đồng euro
có một hệ thống chuẩn của pháp luật, đặc biệt đối với thương mại. Kích thước của
13
toàn bộ nền kinh tế của họ quá lớn làm họ luôn trở thành người chơi lớn trên thị
trường thương mại quốc tế.
Tham gia tích cực trong thương mại quốc tế cũng có một tác động đáng kể đến
vai trò của đồng Euro như một đồng tiền dự trữ. Điều này là bởi vì các nước đã giao
dịch với khu vực đồng euro cần phải có một số lượng đáng kể của các đồng tiền dự
trữ để giảm bớt rủi ro tỷ giá và giảm thiểu chi phí giao dịch.
1.2.2. Khái quát về thị trường một số Quốc gia tiêu biểu trong EU
Hiện nay, EU gồm 27 thành viên (không bao gồm Anh - sự kiện Brexit), nhằm
khái quát hoá các đặc điểm chung và đơn giản hoá quá trình nghiên cứu, đánh giá về
thị trường này. Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu đánh giá
tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trường ba quốc gia, đó là: Hà Lan,
Đức, Ý. Bởi vì, đây là 3 thị trường lớn của EU, có những đặc điểm đặc trưng của thị
trường EU, là cửa ngõ để xâm nhập thị trường EU đối với các mặt hàng xuất khẩu.
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào 3 thị
trường này chiếm tới 40% tổng kim ngạch xuất khẩu vào 27 nước thành viên EU.
1.2.2.1. Thị trường Hà Lan
Thông tin cơ bản
Tên chính thức: Vương Quốc Hà Lan, vị trí địa lý: Nằm ở Tây Âu, diện tích:
41.526 km2, dân số: 16.877.351 người, thủ đô: Amsterdam, ngôn ngữ chính thức:
Tiếng Hà Lan, đơn vị tiền tệ: euro, GDP: 913,7 tỷ USD hạng 28 thế giới, GDP/ đầu
người: 53.139 USD đứng thứ 13 trên Thế giới, thể chế chính phủ: Quân chủ lập hiến
và Nghị viện (nguồn: Ngân hàng thế giới WB https://www.worldbank.org, 2019).
Tài nguyên thiên nhiên: khí ga, dầu mỏ, than bùn, đá vôi, muối, cát , sỏi và đất
trồng trọt.
Kinh tế, thương mại
Hà Lan có truyền thống là một nền kinh tế mở và giao dịch thương mại với các
nước khác được đặc biệt coi trọng. Hà Lan là nước đề xướng tích cực chính sách tự
do thương mại và là một thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
14
Hà Lan là một trong 4 nước xuất khẩu lớn nhất của EU và là 1 trong 10 xuất
khẩu lớn nhất thế giới, đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu thực phẩm. Trong 500 doanh
nghiệp lớn nhất thế giới thì Hà Lan có tới 14 doanh nghiệp.
Các mặt hàng nhập khẩu chính: Máy móc và thiết bị vận tải, hóa chất, nhiên
liệu, thực phẩm, quần áo. Các mặt hàng xuất khẩu chính: Máy móc và thiết bị vận tải,
hóa chất, nhiên liệu, thực phẩm.
Quan hệ với Việt Nam:
Quan hệ thương mại Việt Nam-Hà Lan không ngừng phát triển, kim ngạch
thương mại khá lớn và tăng đều hàng năm. Từ năm 2002, xuất khẩu sang Hà Lan bắt
đầu có chiều hướng tăng khá, trung bình khoảng 15%/năm.
Hà Lan đứng thứ 14/88 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam và đứng
thứ 2 trong số các nước EU có hoạt động đầu tư vào Việt Nam (sau Pháp).
Hà Lan luôn khẳng định giành cho Việt Nam vị trí ưu tiên trong chính sách hợp
tác phát triển. Mặc dù Hà Lan cắt giảm viện trợ cho các nước và số nước được hưởng
viện trợ, Việt Nam tiếp tục nằm trong danh sách 20 nước ưu tiên nhận viện trợ của
Hà Lan và là một trong số những đối tác phát triển quan trọng của Hà Lan.
1.2.2.2. Thị trường Cộng hoà Liên Bang Đức
Thông tin cơ bản
Tên chính thức: Cộng hòa Liên bang Đức, vị trí địa lý: nằm ở Trung Âu, giáp
với biển Baltic và biển Bắc Âu, nằm giữa Hà Lan và Ba Lan, nằm ở phía Nam của
Đan Mạch. diện tích: 357.022 km2, dân số: 80.996.685 người, thủ đô: Berlin, ngôn
ngữ chính thức: Tiếng Đức, đơn vị tiền tệ: euro, GDP: 3.693,204 tỷ USD, đứng thứ
4 trên Thế giới sau Mỹ, Trung, Nhật, GDP/ đầu người: 50,715 USD đứng thứ 16 trên
Thế giới.
Tài nguyên thiên nhiên: Than đá, than non, khí ga tự nhiên, quặng sắt, đồng,
nicken, uranium, hợp chất kali, muối, vật liệu xây dựng, gỗ, đất trồng.
Kinh tế, thương mại
15
Nền kinh tế Đức - nền kinh tế lớn thứ 4 trên thế giới về GDP (ngang giá sức
mua) và lớn nhất Châu Âu – Đức là một nước xuất khẩu hàng đầu về máy móc,
phương tiện vận tải, hóa chất và thiết bị gia đình và lợi ích từ một lực lượng lao động
có tay nghề cao. Đức ủng hộ tự do hoá thương mại. Bên cạnh tập trung vào thị trường
EU và Mỹ, Đức cũng tìm cách mở rộng các thị trường đang nổi lên ở châu Á- Thái
Bình Dương, Mỹ Latinh và Châu Phi.
Hàng nhập khẩu: máy móc, thiết bị xử lý dữ liệu, phương tiện giao thông, hóa
chất, dầu và khí ga, kim loại, thiết bị điện, dược phẩm, thực phẩm, nông sản.
Mối quan hệ với Việt Nam
Việt Nam và CHLB Đức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/9/1975. Từ đó
đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước ngày càng phát triển tích cực,
sâu rộng, hiệu quả và toàn diện.
Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam ở Châu Âu, chiếm 19% xuất
khẩu của ta sang EU (bằng cả Anh và Pháp cộng lại); và cũng là cửa ngõ trung chuyển
quan trọng của hàng hoá Việt Nam sang các thị trường khác ở châu Âu.
Là nền kinh tế hướng tới xuất khẩu, Đức coi Việt Nam là thị trường có tiềm
năng phát triển nhanh ở châu Á (chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ). Nhiều tập đoàn hàng
đầu của Đức đã mở các cơ sở và cam kết đầu tư lâu dài ở Việt Nam.
1.2.2.3. Thị trường Cộng hoà Ý
Thông tin cơ bản:
Vị trí địa lý: nằm ở phía Nam Châu Âu Diện tích: 301.338 km2, dân số:
61.680.122 người, thủ đô: Roma (Rome), ngôn ngữ: tiếng Ý, đơn vị tiền tệ: đồng
Euro, thể chế chính phủ: Cộng hoà (nguồn: Ngân hàng thế giới
https://www.worldbank.org, 2019).
Tài nguyên thiên nhiên: Than đá, thủy ngân, kẽm, calicacbonat, đá cẩm thạch,
barit, a mi ăng, đá bọt, khoáng chữa bệnh, khoáng chất fen spat, lưu huỳnh, khí gas
tự nhiên, dầu thô, cá và đất trồng.
Kinh tế thương mại:
16
Ý có một nền kinh tế công nghiệp đa dạng với tổng sản lượng và mức thu nhập
bình quân đầu người tương đương Pháp và Anh. Ý có hệ thống các công ty vừa, nhỏ
và siêu nhỏ, rất năng động và hiệu quả, đóng góp tới gần 2/3 tổng sản phẩm quốc dân.
Ý phải nhập khẩu hầu hết nguyên liệu thô dùng cho các ngành sản xuất công nghiệp
và hơn 75% nhu cầu về năng lượng. Hơn một thập kỷ qua, Ý đã theo đuổi một chính
sách tài chính thắt chặt nhằm đáp ứng các yêu cầu của các liên đoàn tài chính và tiền
tệ và do vậy đã được hưởng mức lãi suất thấp hơn cũng như kiểm soát được tỉ lệ lạm
phát ở mức thấp.
Quan hệ với Việt Nam:
Italia tích cực ủng hộ việc tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và Liên minh
Châu Âu, trên các diễn đàn quốc tế lớn cũng như việc bình thường hoá quan hệ giữa
Việt Nam và các tổ chức tài chính, thương mại, tiền tệ quốc tế. Những mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu của Việt Nam vào thị trường Italia là điện thoại và các loại linh kiện,
giày dép, cà phê, hàng dệt may và thuỷ sản. Việt Nam nhập từ Italia chủ yếu là máy
móc thiết bị cơ khí, phương tiện vận tải và nguyên liệu da.
1.3. Hiệp định thương mại tự do EVFTA
1.3.1. Tiến trình đàm phán
Trong bối cảnh các nước và các khu vực trên thế giới đang đặc biệt quan tâm
đến đẩy mạnh phát triển hợp tác với các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình
Dương, trong đó có Việt Nam, EU cũng đã nhận ra tiềm năng phát triển của thị trường
Việt Nam cũng như những nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân công
dồi dào. Ngược lại, khu vực EU từ trước đến nay vẫn luôn được đánh giá là một thị
trường lớn và đầy tiềm năng với trên 500 triệu dân, trữ lượng tài nguyên thiên nhiên
phong phú, với tổng GDP đạt trên 17.000 tỷ USD, kim ngạch ngoại thương chiếm
khoảng 31,5% tổng kim ngạch nhập khẩu trên thế giới (EU nhập khẩu 5.605.380.123
nghìn dollar trong tổng nhập khẩu của Thế giới là 17.795.040.828 nghìn dollar). Tuy
nhiên xuất khẩu của Việt Nam sang EU mới đạt 38,253,183 (chiếm 0,21 % trong tổng
kim ngạch nhập khẩu của EU), trong khi đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
EU mới chỉ chiếm 17,78 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (nguồn:
Tổng cục thống kê Việt Nam, 2019). Đây là mức rất thấp và chưa tương xứng với tiềm
17
năng của cả hai bên, cơ hội cho hàng hoá của Việt Nam xâm nhập vào thị trường EU
là rất lớn. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU như Máy tính, sản
phẩm điện tử, linh kiện, máy móc, dệt may, da giày, nông sản, thuỷ sản… Nếu
EVFTA có hiệu lực thì đây chính là cơ hội tuyệt vời cho các ngành nghề trên nói
riêng và tác động đến cả nền Kinh tế Việt Nam nói chung.
Nhận ra được những tiềm lực phát triển của đôi bên, Việt Nam và EU đã cùng
thống nhất để đi tới quá trình đàm phán hợp tác và thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa các
nước trong khu vực, EVFTA là một trong những hiệp định đánh dấu sự bắt đầu cho
tiến trình đó.
Những mốc thời gian chính:
Tháng 10 năm 2010: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU đã đồng
ý khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA.
Tháng 6 năm 2012: Bộ trưởng Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại
EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA.
Tháng 12 năm 2015: Kết thúc đàm phán và bắt đầu rà soát pháp lý để chuẩn bị
cho việc ký kết Hiệp định.
Tháng 6 năm 2017: Hoàn thành rà soát pháp lý ở cấp kỹ thuật.
Tháng 9 năm 2017: EU chính thức đề nghị Việt Nam tách riêng nội dung bảo
hộ đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước với nhà đầu tư (ISDS) ra
khỏi Hiệp định EVFTA thành một hiệp định riêng do phát sinh một số vấn đề mới
liên quan đến thẩm quyền phê chuẩn các hiệp định thương mại tự do của EU hay từng
nước thành viên. Theo đề xuất này, EVFTA sẽ được tách thành hai hiệp định riêng
biệt, bao gồm:
- Hiệp định Thương mại tự do bao gồm toàn bộ nội dung EVFTA hiện nay
nhưng phần đầu tư sẽ chỉ bao gồm tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài. Với Hiệp
định này, EU có quyền phê chuẩn và đưa vào thực thi tạm thời.
18
- Hiệp định Bảo hộ đầu tư (Hiệp định IPA) bao gồm nội dung bảo hộ đầu tư và
giải quyết tranh chấp đầu tư. Hiệp định IPA này phải được sự phê chuẩn của cả Nghị
viện Châu Âu và của Nghị viện các nước thành viên thì mới có thể thực thi.
Tháng 6 năm 2018: Việt Nam và EU đã chính thức thống nhất việc tách riêng
EVFTA thành hai hiệp định gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU
(EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA); chính thức kết thúc toàn bộ quá trình rà
soát pháp lý Hiệp định EVFTA; và thống nhất toàn bộ các nội dung của Hiệp định
IPA.
Tháng 8 năm 2018: Hoàn tất rà soát pháp lý Hiệp định IPA.
Ngày 17 tháng 10 năm 2018: Ủy ban châu Âu đã chính thức thông qua EVFTA
và IPA.
Ngày 25 tháng 6 năm 2019: Hội đồng châu Âu đã phê duyệt cho phép ký Hiệp
định.
Ngày 30 tháng 6 năm 2019: Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA và IPA.
Ngày 21 tháng 1 năm 2020: Ủy ban Thương mại Quốc tế Liên minh châu Âu
thông qua khuyến nghị phê chuẩn EVFTA.
Ngày 12 tháng 02 năm 2020, Nghị viện châu Âu đã bỏ phiếu phê chuẩn EVFTA.
Ngày 12 tháng 2 năm 2020: EVFTA và EVIPA được phê chuẩn bởi Nghị viện
châu Âu.
Ngày 8 tháng 6 năm 2020 Quốc hội Việt Nam phê chuẩn.
Đối với EVFTA, sau khi được phê chuẩn, Hiệp định này sẽ có hiệu lực kể từ
ngày 1/8/2020. Đối với EVIPA, về phía EU, Hiệp định sẽ còn phải được sự phê chuẩn
tiếp bởi Nghị viện của tất cả 27 nước thành viên EU (sau khi Vương quốc Anh hoàn
tất Brexit) mới có hiệu lực.
1.3.2. Nội dung cơ bản của Hiệp định
19
EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả
Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO).
Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm
theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và
cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại,
các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương
mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị
trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm
của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây
dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế.
Các cam kết của Việt Nam và EU trong một số lĩnh vực chính của Hiệp
định EVFTA và IPA như sau:
(1) Cắt giảm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu
(2) Hạn ngạch thuế quan
(3) Quy tắc xuất xứ
(4) Dịch vụ - Đầu tư
(5) Mua sắm của Chính phủ
(6) Sở hữu trí tuệ
(7) Thương mại và Phát triển bền vững
(8) Hiệp định IPA
1.3.2.1.Cam kết về Thuế
- Thuế nhập khẩu
Việt Nam và EU đều áp dụng một biểu thuế nhập khẩu chung cho hàng hóa có
xuất xứ của bên còn lại khi nhập khẩu vào lãnh thổ của nhau. Về cơ bản, cắt giảm
thuế nhập khẩu theo Hiệp định EVFTA được chia thành các nhóm sau:
i. Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay;
20
ii. Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu theo lộ trình;
iii. Nhóm áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ);
iv. Nhóm hàng hóa không cam kết.
- Cam kết thuế nhập khẩu của EU
Theo cam kết, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối
với 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
EU.
Tiếp đó sau 07 năm, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế,
tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của ta.
Đối với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại của Việt Nam, EU dành cho ta hạn
ngạch thuế quan (TRQ) với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.
- Cam kết thuế nhập khẩu của Việt Nam
Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 48,5% số dòng thuế, tương
đương 64,5% kim ngạch xuất khẩu của EU ngay khi Hiệp định có hiệu lực.
Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất
khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ này
tương ứng là 98,3% số dòng thuế và 99,8% kim ngạch xuất khẩu của EU.
Khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU ta áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập
khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng TRQ theo cam kết WTO.
- Thuế xuất khẩu
Về nguyên tắc, Việt Nam và EU cam kết không đánh thuế xuất khẩu đối với
hàng hóa khi xuất khẩu từ lãnh thổ một bên sang bên kia. Lý do của cam kết cắt giảm
thuế xuất khẩu là nhiều nước trên thế giới coi việc đánh thuế xuất khẩu là một hình
thức trợ cấp gián tiếp gây ra cạnh tranh không lành mạnh giữa hàng hóa của các nước.
- Hàng tân trang
Hai bên cam kết sẽ đối xử với hàng tân trang như đối với hàng mới tương tự.
Điều này có nghĩa là Việt Nam cho phép nhập khẩu hàng tân trang có xuất xứ EU với
mức thuế nhập khẩu, các loại thuế và phí khác tương tự như hàng mới cùng loại. Cam
21
kết này không ngăn cản một bên quyền được yêu cầu dán nhãn đối với hàng tân trang
nhằm tránh gây sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Việt Nam có thời gian chuyển đổi
là 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực để thực thi nghĩa vụ này. Cam kết về Hạn
ngạch thuế quan
Bên cạnh thuế nhập khẩu, Việt Nam và EU cũng áp dụng hạn ngạch thuế thuế
quan (HNTQ) đối với một số ít mặt hàng có xuất xứ từ Bên kia. Nội dung cam kết
này được quy định tại Phần B - Hạn ngạch thuế quan, Phụ lục 2-A của Hiệp định
EVFTA, bao gồm các nguyên tắc chính, cam kết cụ thể theo từng mặt hàng kèm theo
các quy định, yêu cầu tương ứng để được cấp HNTQ.
- Cam kết HNTQ của EU
• Cơ chế quản lý và phân bổ HNTQ
EU sẽ quản lý HNTQ theo luật của EU, với mục tiêu tạo thuận lợi thương mại
giữa các Bên theo hướng tận dụng tối đa lượng HNTQ.
• Danh mục mặt hàng được hưởng HNTQ và các cam kết cụ thể
Trứng và lòng đỏ trứng gia cầm, Tỏi, Ngô ngọt, Gạo, Tinh bột sắn, Cá ngừ,
Surimi, ường và các sản phẩm khác chứa hàm lượng đường cao, Đường đặc biệt,
Nấm, Ethanol, Mannitol, Sorbitol, Dextrin và các dạng tinh bột biến tính khác.
- Cam kết HNTQ của Việt Nam
Việt Nam vẫn duy trì việc áp dụng HNTQ theo cam kết WTO đối với lượng hạn
ngạch, phương thức quản lý và các điều khoản và điều kiện khác liên quan đến việc
phân bổ HNTQ. Thuế suất trong hạn ngạch đối với các mặt hàng được nhập khẩu từ
EU sẽ được xóa bỏ dần đều trong 11 năm kể từ ngày Hiệp định EVFTA có hiệu lực.
1.3.2.2. Cam kết về Quy tắc Xuất xứ
Hiệp định EVFTA quy định 3 phương pháp để xác định xuất xứ của một hàng
hóa, bao gồm: (i) hàng hóa có xuất xứ thuần túy; (ii) hàng hóa được gia công hoặc
chế biến đáng kể; và (iii) quy tắc cụ thể đối với từng mặt hàng (PSR).
Bên cạnh đó, quy tắc cộng gộp cho phép Việt Nam và các nước thuộc EU được
coi nguyên liệu của một hoặc nhiều nước thành viên khác như là nguyên liệu của
22
nước mình khi sử dụng nguyên liệu đó để sản xuất ra một hàng hóa có xuất xứ
EVFTA.
1.3.2.3. Cam kết về Dịch vụ và Đầu tư
Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một
môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên.
- Cam kết trong một số ngành dịch vụ chính
Trong các ngành dịch vụ, cam kết của Việt Nam có đi xa hơn cam kết trong
WTO. Cam kết của EU cao hơn trong cam kết trong WTO và tương đương với mức
cam kết cao nhất của EU trong những Hiệp định gần đây của EU.
Các lĩnh vực mà Việt Nam cam kết thuận lợi cho các nhà đầu tư EU gồm một
số dịch vụ chuyên môn, dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch
vụ phân phối, cụ thể như sau:
- Dịch vụ ngân hàng:
Việt Nam cam kết sẽ xem xét thuận lợi việc cho phép các tổ chức tín dụng EU
nâng mức nắm giữ của phía nước ngoài lên 49% vốn điều lệ trong 02 ngân hàng
thương mại cổ phần của Việt Nam. Tuy nhiên, cam kết này chỉ có hiệu lực trong vòng
05 năm (hết thời hạn 05 năm Việt Nam sẽ không bị ràng buộc bởi cam kết này), không
áp dụng với 04 ngân hàng thương mại cổ phần mà nhà nước đang nắm cổ phần chi
phối là BIDV, Vietinbank, Vietcombank và Agribank. Bên cạnh đó, việc thực hiện
cam kết này sẽ phải tuân thủ đầy đủ các quy định về thủ tục mua bán, sáp nhập cũng
như các điều kiện an toàn, cạnh tranh, bao gồm giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần áp dụng
đối với từng nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trên cơ sở đối xử quốc gia, theo quy định
của pháp luật của Việt Nam.
- Dịch vụ bảo hiểm:
Việt Nam cam kết cho phép nhượng tái bảo hiểm qua biên giới, cam kết dịch
vụ bảo hiểm y tế tự nguyện theo luật trong nước. Riêng đối với yêu cầu cho phép
thành lập chi nhánh công ty tái bảo hiểm, Việt Nam chỉ cho phép sau một giai đoạn
quá độ.
- Dịch vụ viễn thông:
23
Việt Nam cam kết mức tương đương như trong Hiệp định CPTPP. Đặc biệt đối
với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng không có hạ tầng mạng, Việt Nam cho phép
EU được lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sau một giai đoạn quá độ.
- Dịch vụ vận tải:
Đối với dịch vụ gom hàng và dịch vụ vận chuyển công-ten-nơ rỗng, ngay sau
khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cho phép các hãng tàu EU thực hiện các dịch vụ
này trên tuyến Quy Nhơn-Cái Mép, sau 05 năm Việt Nam sẽ cho phép thực hiện dịch
vụ vận chuyển công-ten-nơ rỗng trên tất cả các tuyến. Với dịch vụ nạo vét, Việt Nam
cho phép doanh nghiệp EU lập liên doanh tới 51% để cung cấp dịch vụ tại Việt Nam.
Đối với dịch vụ mặt đất ở sân bay, Bộ Giao thông vận tải cũng đồng ý sau 05 năm kể
từ khi Việt Nam mở cửa cho khu vực tư nhân sẽ cho phép các doanh nghiệp EU lập
liên doanh với đối tác Việt Nam, trong đó vốn của phía nước ngoài không quá 49%,
để đấu thầu cung cấp dịch vụ này. 03 năm sau đó, hạn chế vốn nước ngoài sẽ là 51%.
- Dịch vụ phân phối:
Việt Nam đồng ý bỏ yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế sau 5 năm kể từ khi Hiệp
định có hiệu lực, tuy nhiên Việt Nam bảo lưu quyền thực hiện quy hoạch hệ thống
phân phối trên cơ sở không phân biệt đối xử. Việt Nam cũng đồng ý không phân biệt
đối xử trong sản xuất, nhập khẩu và phân phối rượu, cho phép các doanh nghiệp EU
được bảo lưu điều kiện hoạt động theo các giấy phép hiện hành và chỉ cần một giấy
phép để thực hiện các hoạt động nhập khẩu, phân phối, bán buôn, bán lẻ.
- Các nghĩa vụ chung về thương mại dịch vụ và đầu tư
• Tiếp cận thị trường:
• Đối xử quốc gia:
• Đối xử tối huệ quốc:
• Các yêu cầu hoạt động:
Đối với những ngành/phân ngành liệt kê trong Biểu cam kết cụ thể, hai bên cam
kết không áp dụng các yêu cầu hoạt động như: quy định tỷ lệ hoặc mức xuất khẩu
nhất định đối với hàng hóa hoặc dịch vụ, quy định tỷ lệ hoặc mức nội địa hóa nhất
24
định, ràng buộc số lượng hoặc giá trị nhập khẩu với số lượng hoặc giá trị xuất khẩu
hoặc nguồn thu ngoại tệ gắn với khoản đầu tư…
1.3.2.4. Cam kết về Mua sắm của Chính phủ
- Kết cấu của Chương Mua sắm của Chính phủ
Cam kết trong lĩnh vực Mua sắm của Chính phủ mà Việt Nam và EU thống nhất
nhằm tăng cường tính minh bạch, hiệu quả của mua sắm công, đảm bảo chi tiêu hiệu
quả ngân sách Nhà nước. Theo đó, Chương Mua sắm của Chính phủ trong Hiệp định
EVFTA gồm 2 phần chính:
• Các quy định chung về quy tắc, thủ tục áp dụng trong quá trình lựa chọn nhà
thầu;
• Cam kết mở cửa thị trường mua sắm của Chính phủ của Việt Nam và EU:
bao gồm 2 Phụ lục là cam kết của Việt Nam mở cửa cho nhà thầu EU và 01 Phụ
lục là cam kết của EU mở cửa cho nhà thầu Việt Nam.
- Các nội dung chính trong Chương Mua sắm của Chính phủ
• Nguyên tắc chung cho tất cả các gói thầu thuộc phạm vi EVFTA:
o Minh bạch;
o Nguyên tắc đối xử quốc gia và không phân biệt đối xử;
o Sử dụng đấu thầu rộng rãi;
o Chống gian lận;
o Đấu thầu điện tử.
• Nhóm các nguyên tắc đối với thủ tục đấu thầu rộng rãi:
o Công khai thông tin về việc đấu thầu trên mạng/trên báo và miễn phí;
o Công bố sớm kế hoạch mời thầu hàng năm;
o Phải đảm bảo các thời hạn nộp hồ sơ thầu.
• Nhóm các nguyên tắc đối với thủ tục đấu thầu lựa chọn:
25
o Thủ tục thầu không tạo ra rào cản bất hợp lý cho sự tham gia của các nhà
thầu đáp ứng điều kiện;
o Thông báo mời thầu phải được đưa ra đủ sớm để nhà thầu có thể chuẩn bị
hợp lý;
o Chỉ có thể sử dụng Danh sách nhà thầu đã đăng ký (cho các gói thầu nói
chung) nếu đã tạo cơ hội hợp lý để các nhà thầu đều có tham gia.
- Các gói thầu mua sắm công Việt Nam cam kết mở cửa cho nhà thầu EU
Theo EVFTA, Việt Nam cam kết cho phép nhà thầu EU được tham gia các gói
thầu đáp ứng được đồng thời 03 điều kiện nêu trong Phụ lục 9C: Giá trị gói thầu; Cơ
quan mua sắm; Hàng hóa, dịch vụ cần mua sắm. Ngoài ra, cũng có một số trường hợp
ngoại lệ mà các gói thầu không phải tuân thủ các quy định của Chương. Có thể chia
• Các ngoại lệ liên quan đến loại hoạt động;
• Các ngoại lệ liên quan đến loại hàng hóa;
• Các ngoại lệ liên quan đến dịch vụ;
• Các ngoại lệ đối với dịch vụ xây dựng;
• Ngoại lệ liên quan đến Biện pháp ưu đãi trong nước;
• Các ngoại lệ khác.
làm các nhóm:
- Các gói thầu mua sắm công mà EU cam kết mở cửa cho Việt Nam
Các điều kiện về gói thầu mua sắm công mà EU cam kết mở cửa cho nhà thầu,
hàng hóa, dịch vụ Việt Nam được nêu trong Phụ lục 9B, Chương 9 của Hiệp định
EVFTA cũng bao gồm 03 nhóm điều kiện đồng thời (về cơ quan mua sắm, về loại
hàng hóa/dịch vụ mua sắm và về ngưỡng giá trị).
1.3.2.5. Cam kết về Sở hữu Trí tuệ
Cam kết về sở hữu trí tuệ của Hiệp định EVFTA gồm cam kết về bản quyền,
phát minh, sáng chế, cam kết liên quan tới dược phẩm và chỉ dẫn địa lý,… Về cơ bản,
26
các cam kết về sở hữu trí tuệ của Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật
hiện hành.
- Quyền tác giả và quyền liên quan
Việt Nam cam kết sẽ gia nhập Hiệp định về Quyền tác giả (WCT) và Hiệp ước
về Biểu diễn và Bản ghi âm (WPPT) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
trong vòng 3 năm kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực. Hiệp định EVFTA quy
định thời hạn bảo hộ kéo dài ít nhất 50 năm và bảo hộ độc quyền của người biểu diễn
trong sao chép, phân phối, công bố, phát sóng đến công chúng cuộc biểu diễn đã định
hình.
- Nhãn hiệu
Hai Bên cam kết áp dụng thủ tục đăng ký thuận lợi, minh bạch, bao gồm việc
thiết lập một cơ sở dữ liệu điện tử công khai về các hồ sơ đăng ký nhãn hiệu, đồng
thời cho phép thu hồi nhãn hiệu đã đăng ký nhưng không sử dụng thực tế trong vòng
ít nhất 5 năm.
- Kiểu dáng công nghiệp
Việt Nam cam kết gia nhập Thỏa ước La-hay về Đăng ký quốc tế kiểu dáng
công nghiệp (1990) trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực và sẽ
bảo hộ kiểu dáng công nghiệp với thời gian ít nhất 15 năm.
- Thực thi
Hiệp định có quy định về kiểm soát tại biên giới nếu phát hiện hàng xuất khẩu
có dấu hiệu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
- Chỉ dẫn địa lý (GI)
Khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bảo hộ trên 169 chỉ dẫn địa lý của EU
(bao gồm 28 thành viên) chủ yếu là rượu và thực phẩm. EU sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa
lý của Việt Nam. Các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đều liên quan tới nông sản, thực
phẩm nổi tiếng có tiềm năng xuất khẩu cao như trà Mộc Châu, cà phê Buôn Ma Thuột
v.v.. tạo điều kiện cho một số chủng loại nông sản của Việt Nam xây dựng và khẳng
định thương hiệu của mình tại thị trường EU.
- Cam kết về đối xử tối huệ quốc (MFN)
27
Khác với việc coi các ưu đãi trong thương mại hàng hóa và dịch vụ trong khuôn
khổ các FTA là trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc MFN (các thành viên trong một
FTA có thể dành cho nhau ưu đãi trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ mà không bị
coi là vi phạm nguyên tắc MFN của WTO), theo Hiệp định TRIPS của WTO, liên
quan tới quyền sở hữu trí tuệ, nếu một thành viên WTO dành bất kỳ lợi thế, ưu đãi,
ưu tiên, miễn trừ nào cho chủ thể mang quốc tịch của một nước thành viên WTO khác
thì cũng phải dành đối xử đó cho các chủ thể mang quốc tịch của tất cả các nước
thành viên WTO.
1.3.2.6. Cam kết về Thương mại và Phát triển bền vững
Chương Thương mại và phát triển bền vững trong Hiệp định EVFTA gồm 17
Điều với các nội dung chính gồm: Đa dạng sinh học, Biến đổi khí hậu, Quản lí tài
nguyên rừng và thương mại lâm sản, Quản lý bền vững nguồn tài nguyên sinh vật
biển và sản phẩm nuôi trồng thủy sản, Lao động và Minh bạch hóa. Cụ thể như sau:
- Đa dạng sinh học
Các Bên thừa nhận chủ quyền tài nguyên của các quốc gia và quyền quyết định
việc được phép tiếp cận nguồn gen là của Chính phủ mỗi Bên và tùy thuộc vào pháp
luật trong nước. Các Bên sẽ nỗ lực tạo điều kiện cho việc tiếp cận nguồn gen với mục
đích đúng đắn, tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn gen phải có sự đồng ý được thông báo
trước của Bên cung cấp, trừ khi Bên đó quy định khác.
- Biến đổi khí hậu
Các Bên cam kết sẽ thực thi, hợp tác nhằm đạt được các mục đích liên quan đến
biến đổi khí hậu được quy định trong một số hiệp định quốc tế về môi trường gồm
Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu năm 1992, Nghị định thư
Kyoto liên quan đến Công ước UNFCCC và Hiệp định Paris.
- Quản lý tài nguyên rừng bền vững và thương mại lâm sản
Tăng cường thúc đẩy thương mại lâm sản từ những khu rừng được quản lý bền
vững, trao đổi thông tin về các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ.
- Quản lý bền vững nguồn tài nguyên sinh vật biển và sản phẩm nuôi
trồng thủy sản
28
Cam kết tuân thủ các Công ước quốc tế về Luật Biển, các hiệp định về bảo tồn
tài nguyên sinh vật biển. Trong đó, hai Bên nhấn mạnh tích cực tham gia đấu tranh
chống lại việc đánh bắt cá bất hợp pháp, thúc đẩy phát triển ngành nuôi trồng thủy
sản theo hướng bền vững dựa trên các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
- Lao động
Cam kết tiếp tục và duy trì các nỗ lực nhằm phê chuẩn các công ước cơ bản của
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và xem xét việc thông qua các công ước khác được
ILO phân loại là phù hợp với thời điểm hiện tại, có tính đến điều kiện trong nước.
Ngoài ra, các Bên tái khẳng định cam kết của mình về việc thực hiện có hiệu quả luật
pháp và quy định trong nước và các Công ước của ILO đã được phê chuẩn.
- Minh bạch hóa
Các Bên phải công khai, minh bạch các vấn đề gồm: quá trình xây dựng và thực
thi pháp luật, các biện pháp liên quan đến bảo vệ môi trường có thể ảnh hưởng tới
thương mại đầu tư; đối thoại, trao đổi và chia sẻ thông tin liên quan đến quá trình xây
dựng, thực thi các chiến lược, chính sách, quy định pháp luật về các hiệp định đa
phương về môi trường, biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, lâm nghiệp, thủy sản và
tài nguyên biển; và đảm bảo sử dụng các thông tin và bằng chứng khoa học, các
hướng dẫn, tiêu chuẩn quốc tế một cách thích hợp trong quá trình xây dựng và thực
thi các biện pháp bảo vệ môi trường.
1.3.2.7. Cam kết trong Hiệp định IPA
- Về bảo hộ đầu tư
Hai bên cam kết sẽ dành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc với đầu tư của
nhà đầu tư của Bên kia, với một số ngoại lệ, cũng như sự đối xử công bằng, thỏa
đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ, cho phép tự do chuyển vốn và lợi nhuận từ đầu tư ra
nước ngoài, cam kết không trưng thu, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư mà không
có bồi thường thỏa đáng, cam kết bồi thường thiệt hại phù hợp cho nhà đầu tư của
bên kia tương tự như nhà đầu tư trong nước hoặc của bên thứ ba trong trường hợp bị
thiệt hại do chiến tranh, bạo loạn, v.v...
- Về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước
29
Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh giữa một Bên và nhà đầu tư của Bên
kia, hai bên thống nhất ưu tiên giải quyết tranh chấp một cách thiện chí thông qua
đàm phán và hòa giải.
Trong trường hợp không thể giải quyết tranh chấp thông quan tham vấn và hòa
giải thì mới sử dụng đến cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong Hiệp định
này. Phán quyết của cơ quan phúc thẩm và phán quyết của Tòa trọng tài sơ phẩm nếu
không bị kháng cáo trong vòng 90 ngày kể từ ngày ban hành được coi là phán quyết
cuối cùng, các bên tranh chấp không có quyền kháng cáo nữa. Việc thi hành phán
quyết được thực hiện theo pháp luật của quốc gia nơi phán quyết được thi hành.
Hai bên thống nhất nếu cùng tham gia vào một Hiệp định thành lập cơ chế giải
quyết tranh chấp đa phương về đầu tư hoặc cơ chế phúc thẩm đa phương về đầu tư
thì có thể chấm dứt việc thực hiện hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư song
phương theo Hiệp định này.
1.4. Quy định trong EVFTA liên quan đến xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào
EU
Hiệp định EVFTA được ký kết có tới 90% số dòng thuế suất của mặt hàng thủy
sản được cam kết cắt giảm về 0% (trừ cá ngừ đóng hộp và cá viên) với lộ trình dài
nhất là 7 năm., mức thuế nhập khẩu thủy sản vào EU hiện nay trung bình là 14%;
trong đó, nhiều mặt hàng chịu thuế cao tới 26%.
Nhưng khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực thì có khoảng 840 dòng thuế suất cơ
sở, chiếm khoảng 50% số dòng thuế đối với sản phẩm thủy sản sẽ giảm về 0%; số
còn lại có lộ trình cắt giảm từ 3 -7 năm, thực phẩm từ thủy sản cũng được xóa bỏ thuế
sau 6 - 8 năm. Một số mặt hàng đặc biệt như: cá ngừ đóng hộp và surimi, EU dành
cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và 500 tấn.
Ngoài ra, hầu hết các sản phẩm mực, bạch tuộc đông lạnh đang có mức thuế cơ
bản 6-8% sẽ được giảm ngay về 0%, các sản phẩm khác như surimi được giảm từ
14,2% về 0%, cá cờ kiếm từ 7,5% về 0%.
Đối với sản phẩm tôm, tôm sú đông lạnh (HS 03061792) được giảm thuế từ
mức cơ bản 20% xuống 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực. Các sản phẩm tôm khác
30
theo lộ trình 3-5 năm, riêng tôm chế biến lộ trình giảm thuế 7 năm. Đối với sản phẩm
cá tra lộ trình giảm thuế 3 năm, riêng cá hun khói lộ trình 7 năm. Sản phẩm cá ngừ
đông lạnh được giảm thuế về 0% ngay, trừ thăn cá ngừ đông lạnh (loin) cần lộ trình
7 năm và sản phẩm cá ngừ hộp có hạn ngạch hưởng thuế 0% là 11.500 tấn (nguồn:
Bộ công thương Việt Nam, 2020).
Cam kết tuân thủ các biện pháp bảo tồn, quản lý và khai thác bền vững nguồn
lợi thủy sản nêu trong các Công ước được liệt kê; cam kết hợp tác chặt chẽ trong vấn
đề IUU; cam kết hợp tác, trao đổi thông tin về các vấn đề liên quan tới việc kiểm soát,
giám sát, thực thi các biện pháp quản lý đánh bắt hản sản.
Như vậy, Hiệp định EVFTA đi vào thực thi là lực đẩy rất lớn cho hoạt động
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU.
1.5. Tính tương thích giữa EVFTA và Pháp luật Việt Nam hiện hành
Rà soát pháp luật hải quan Việt Nam với các cam kết EVFTA về hải quan và
tạo thuận lợi thương mại cho thấy trong tổng thể pháp luật Việt Nam đã cơ bản tương
thích với yêu cầu của EVFTA về vấn đề này. Hiện chỉ còn 01 quy định trong pháp
luật hải quan là chưa tuân thủ EVFTA (liên quan tới cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ
và vừa tiếp cận cơ chế doanh nghiệp ưu tiên). Tuy nhiên, cam kết EVFTA trong lĩnh
vực này không chỉ yêu cầu về pháp luật mà nhiều trường hợp đòi hỏi hiệu quả thực
tế thực thi. Do đó, trong khi về mặt pháp luật, Việt Nam sẽ chỉ phải tiến hành 01 sửa
đổi văn bản pháp luật liên quan, trong thực tiễn cải cách thủ tục hải quan và minh
bạch hóa các quy định hải quan, Việt Nam cần rất nhiều nỗ lực cải thiện để có thể
thực thi đầy đủ các cam kết trong EVFTA về vấn đề này. Mặc dù chưa thực hiện rà
soát nhưng sơ bộ có thể thấy pháp luật chuyên ngành trong các lĩnh vực hiện có quy
định về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (thuộc 09 lĩnh vực)
hiện đang có các quy định chưa tương thích với cam kết EVFTA, ít nhất trong các
vấn đề (i) phương pháp quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan; (ii) phí, lệ phí và (iii)
hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ trong hồ sơ xuất nhập khẩu. Trong tổng thể, để thực thi
hiệu quả các cam kết EVFTA về hải quan và tạo thuận lợi thương mại, Việt Nam cần:
31
- Tiếp tục tăng cường cải cách thủ tục hải quan, đặc biệt là từng bước triển khai
đầy đủ và hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia;
- Rà soát pháp luật về kiểm tra chuyên ngành, phát hiện các điểm chưa tương
thích, sửa đổi pháp luật chuyên ngành cho phù hợp với EVFTA đồng thời tăng cường
cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành để thủ tục này theo kịp bước cải cách chung
trong hệ thống hải quan, mang lại lợi ích chung cho toàn hệ thống.
TỔNG KẾT CHƯƠNG I
Trong chương 1, Tác giả đã nêu rõ cơ sở lý thuyết về Hiệp định thương mại tự
do, Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tổng quan về Liên minh Châu Âu và một
số quốc gia tiêu biểu trong mối quan hệ xuất nhập khẩu với Việt Nam những năm gần
đây (Hà Lan, Đức, Ý). Đồng thời Tác giả cũng trình bày các nội dung cơ bản của
Hiệp định Thương mại tự do EVFTA, các cam kết về thuế quan mà hai bên sẽ áp
dụng trong thời gian Hiệp định có hiệu lực đặc biệt là các nội dung ảnh hưởng trực
tiếp đến xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường EU. Từ đó, tác giả có cơ sở
để đánh giá về cơ hội và thách thức mà Việt Nam gặp phải trong quá trình xuất khẩu
thuỷ sản sang thị trường EU khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực.
32
CHƯƠNG 2. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU KHI EVFTA CÓ
HIỆU LỰC
2.1. Đặc điểm của sản phẩm thuỷ sản
2.1.1. Thuỷ sản chịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên
Thuỷ sản mang những đặc tính của hàng nông sản, các điều kiện tự nhiên bao
gồm địa hình (miền núi, đồng bằng, bờ biển), vị trí địa lý (mạng lưới sông ngòi, kênh
rạch), nguồn nước, mặt nước, nguồn lợi thuỷ sản, khí hậu (các dạng thiên tai bất
thường như bão, lũ hạn hán,..), thời tiết (nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, chế độ mưa, chế
độ gió,…), các yếu tố hải dương học,…có tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng và
phát triển, chủng loại thuỷ sản. Từ đó tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng,
giá cả, nguồn hàng thuỷ sản cho xuất khẩu. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì năng
suất và chất lượng sẽ cao và ngược lại, nếu thời tiết không thuận lợi sẽ dẫn tới chất
lượng nông sản giảm, giá thành cao. Đây là điều kiện tiên quyết của ngành nông
nghiệp nói chung và thuỷ sản nói riêng.
Vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung: nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ,
đặc biệt phát huy thế mạnh nuôi biển, tập trung vào một số đối tượng chủ yếu như:
tôm các loại, sò huyết, bào ngư, cá song, cá giò, cá hồng...
Vùng ven biển Nam Trung Bộ: nuôi trồng thủy sản trên các loại mặt nước mặn
lợ, với một số đối tượng chủ yếu như: cá rô phi, tôm các loại...
Vùng Đông Nam Bộ: Bao gồm 4 tỉnh là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa
– Vũng Tàu và TP.HCM, chủ yếu nuôi các loài thủy sản nước ngọt hồ chứa và thủy
sản nước lợ như cá song, cá giò, cá rô phi, tôm các loại....
Vùng ven biển ĐBSCL: gồm các tỉnh nằm ven biển của Đồng Bằng Sông Cửu Long
như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang…Đây là
khu vực hoạt động thủy sản sôi động, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên tất cả các loại
mặt nước, đặc biệt là nuôi tôm, cá tra - ba sa, sò huyết, nghêu và một số loài cá biển.
Các tỉnh nội vùng: Bao gồm những tỉnh nằm sâu trong đất liền nhưng có hệ
thống sông rạch khá dày đặc như Hà Nội, Bình Dương, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng
33
Tháp, An Giang, thuận lợi cho nuôi trồng các loài thủy sản nước ngọt như: cá tra -
basa, cá rô phi, cá chép…
Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, với điều kiện lý tưởng có hệ thống kênh
rạch chằng chịt và nhiều vùng giáp biển, đã trở thành khu vực nuôi trồng và xuất khẩu
thủy sản chính của Việt Nam. Theo thống kê, năm 2011 cả nước có 37 tỉnh có doanh
nghiệp xuất khẩu thủy sản, trong đó các tỉnh có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn
nhất lần lượt là Cà Mau (chủ yếu nhờ kim ngạch xuất khẩu lớn của Minh Phú, Quốc
Việt), TP.HCM, Cần Thơ, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Sóc Trăng…
2.1.2. Thuỷ sản mang tính thời vụ
Việc nuôi trồng, thu hoạch nông sản thường được tiến hành theo mùa vụ nhằm bảo
đảm tính phù hợp với điều kiện thời tiết ở nơi nuôi trồng. Năng suât, chất lượng, giá cả của
thuỷ sản có sự biến động tùy thuộc vào từng mùa vụ. Vào chính vụ sản lượng lớn, chất
lượng đồng đều, phong phú về chủng loại, giá rẻ. Trái vụ hoặc thời tiết không thuận lợi thì
sản lượng thấp, chất lượng không đồng đều, giá thành cao. Tính mùa vụ là một trong những
đặc trưng rõ nét nhất của các mặt hàng thuỷ sản nói chung.
2.1.3. Thuỷ sản mang tính phân tán
Mỗi loại thuỷ sản khác nhau phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết, khác nhau.
Do đó sẽ nuôi trồng và phát triển ở những vùng khác nhau như:
Đối với tôm: là loài sống phù hợp ở các vùng nước lợ gần biển. Với đặc trưng
này, Miền Trung, Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng
Tàu…), Đồng Bằng Sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc
Trăng, Cà Mau, Kiên Giang) là nơi tập trung sản lượng tôm nuôi nhiều nhất cả nước
Đối với cá tra – basa: là loài cá nước ngọt sống khắp lưu vực sông Mekong, ở
những nơi mà nước sông không bị nhiểm mặn từ biển. Với đặc tính này nên những
tỉnh nằm dọc sông Tiền và sông Hậu thường rất thuận lợi cho việc nuôi cá tra, basa
Mặt khác, do chủ yếu được đánh bắt nuôi trồng ở khu vực nông thôn, nhưng
phần lớn được tiêu thụ ở khu vực thành thị và xuất khẩu, nên các khu vực nuôi trồng
cũng cần phù hợp với tình hình giao thông, vận tải.
34
2.1.4. Thuỷ sản mang tính tươi sống
Tính tươi sống dẫn tới một điều bất lợi của mặt hàng này đó là chúng rất dễ bị
hỏng và kém chất lượng. Hơn nữa, chùng loại, số lượng, chất lượng cũng rất khác
nhau. Vì vậy khi thu mua cần tiến hành nhanh chóng, kịp thời và đặc biệt lưu ý tới
việc phân loại, chế biến bảo quản, vận chuyển, có phương thức kinh doanh phù hợp
với đặc điểm của từng loại. Giá cả hàng nông sản xuất khẩu phụ thuộc vào chất lượng.
Chất lượng hàng nông sản không những phụ thuộc vào khâu sản xuất mà còn phục
thuộc rất nhiều vào khâu bảo quản chế biến. Vì vậy các doanh nghiệp phải đặc biệt
quan tâm đến việc chế biến và bảo quản nông sản.
2.1.5. Thuỷ sản phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người
Chất lượng hàng nông sản tác động trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Nên yêu cầu về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm được đặc biệt coi trọng và được
quy định chặt chẽ trong quá trình sản xuất chế biến, bảo quản. Ngày nay chất lượng
trở thành công cụ cạnh tranh khá hiệu quả, muốn xâm nhập được vào các thị trường
khó tính thì đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng cao, đáp ứng được cãc tiêu chuẩn
cần thiết mà thị trường nhập khẩu đặt ra.
2.1.6. Thuỷ sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại và chất lượng
Mỗi loại hàng khác nhau thì có điệu kiện sinh trưởng, phát triển khác nhau, thu
mua, chế biến theo cách riêng, dẫn đến chất lượng không đồng đều. Thói quen tiêu
dùng và sự đánh giá trên về cùng một mặt hàng trên các thị trường khác nhau cũng
khác nhau, cụ thể có sự khác nhau rất lớn giữa các thị trường Châu Âu, Châu Á, Châu
Phi, Trung Đông.
35
2.2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU giai đoạn
2015-2020
2.2.1. Khái quát về hoạt đông xuất khẩu Thuỷ sản của Việt Nam trong giai đoạn
2015 – 2020
Trong những năm qua, thuỷ sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam ra thị trường thế giới. Hoạt động xuất khẩu bắt đầu từ những năm 80
của Thế kỷ trước và có tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong những năm gần đây. Việt
Nam được coi là một nước có tốc độ tăng trưởng Thuỷ sản nhanh nhất, sản lượng
không ngừng tăng trong giai đoạn 2015-2019, mặc dù năm 2015 là năm khó khăn đối
XK Thuỷ sản của Việt Nam giai đoạn 2015-2019
đv: 1000 Dollars
10.000.000
8.787.104
9.000.000
8.543.583
8.309.103
8.000.000
7.047.675
7.000.000
6.568.766
6.000.000
5.000.000
4.000.000
3.000.000
2.000.000
1.540.660
1.000.000
0
với Thuỷ sản toàn cầu.
Năm
2015
2016
2017
2018
2019
Quý I-2020
Biểu đồ 2.1: Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam giai đoạn 2015-2020
(nguồn: tác giả tổng hợp từ Tổng cục Hải quan/ Bộ Tài chính, Báo cáo Xuất khẩu
Việt Nam qua các năm từ 2015-2020).
- Trong 5 năm qua, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam luôn đứng thứ
4 trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, sau dệt may, da giầy và dầu thô.
- Thành tựu của ngành thủy sản thể hiện bằng kết quả xuất khẩu tăng nhanh về
cả giá trị và sản lượng trong giai đoạn 2015 – 2019. Năm 2019, sản phẩm thủy sản
được xuất khẩu sang 158 nước và vùng lãnh thổ. 3 thị trường chính là EU chiếm 15%,
36
Mỹ 17% và Nhật Bản 17% và đang có những thị trường tiềm năng như Trung Quốc
(17%) và ASEAN (8%). Số nhà máy và công suất cấp đông của các cơ sở chế biến
tăng rất nhanh trong giai đoạn 2015- 2019. Khu vực ĐBSCL đã hình thành một số
công ty quy mô lớn như Tập đoàn Thuỷ sản Minh Phú, Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn,
công ty Cổ phần Hùng Vương…
- Năm 2019, giữa những bất lợi vì thuế chống bán phá giá cao, thẻ vàng IUU và
giá trung bình xuất khẩu giảm, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã cán đích với kết
quả không như mong đợi với gần 8,6 tỷ USD, giảm 2,5% so với năm 2018. Hai sản
phẩm thủy sản nuôi chủ lực là tôm và cá tra đều giảm với mức tương ứng 7,1% và
8,5% so với năm trước, các mặt hàng hải sản cũng bị giảm mạnh ở xuất khẩu mực,
bạch tuộc, bù lại cá ngừ, các loại cá biển khác và hải sản khác vẫn giữ tăng trưởng
dương nên kéo lại phần nào tỷ lệ sụt giảm trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản
của cả nước. xuất khẩu sang thị trường Mỹ, EU, Hàn Quốc, Australia và Canada đều
giảm trong khi xuất khẩu sang Nhật Bản, Trung Quốc và các thị trường khác trong
top 10 thị trường lớn nhất vẫn tăng so với năm trước.
Đầu năm 2020, Đại dịch Covid 19 bùng phát và lây lan mạnh trên toàn cầu khiến
cho sản xuất và xuất khẩu thủy sản của cả nước bị ảnh hưởng nặng nề. Ước tính xuất
khẩu thủy sản trong 3 tháng đầu năm 2020 giảm gần 15% so với cùng kỳ năm ngoái
chỉ đạt 1.540 triệu USD. Trong đó, xuất khẩu sang những thị trường lớn bị ảnh hưởng
dịch bệnh đều giảm mạnh, xuất khẩu sang EU giảm 40% (giảm sâu nhất) , sang Trung
Quốc giảm 25%, Hàn Quốc giảm 24%, Nhật Bản giảm 19%.
Diễn biến Đại dịch Covid còn đang rất phức tạp tại các nước trên thế giới, do
vậy, trong vài tháng tới, tình hình xuất khẩu chắc chắn tiếp tục bị tác động giảm.
Doanh nghiệp chưa thể thoát khỏi tình trạng bị sụt giảm, hoãn/hủy đơn hàng, vận tải
hàng hóa khó khăn, việc thanh toán cũng không thuận lợi, sẽ có không ít doanh nghiệp
(nhất là những doanh nghiệp nhỏ) không thể trụ vững vì thiếu vốn để duy trì, để quay
vòng kinh doanh.
Do vậy, doanh nghiệp thủy sản đang rất cần sự hỗ trợ của Chính phủ, các bộ
ngành liên quan nhằm giảm bớt áp lực và khó khăn do ảnh hưởng của Covid-19: miễn
37
nộp kinh phí Công đoàn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm giá điện, thuê kho
lạnh, gia hạn thanh toán điện, giãn nợ, cho vay lãi suất thấp, giảm các thủ tục hành
chính, thanh tra, kiểm tra và chuẩn bị phương án và điều kiện để hỗ trợ, thúc đẩy sản
xuất xuất khẩu sau dịch.
2.2.2. Khái quát tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU
Biểu đồ 2.2: Tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam-EU giai đoạn 2015-2019
(nguồn: tổng hợp từ thống kê xuất khẩu thuỷ sản hàng năm củaVASEP http://vasep.com.vn)
EU là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản Việt
Nam với giá trị xuất khẩu chiếm hơn 17% các năm 2015 2016 2017, 16,72% năm
2018 và 15,12% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2019 và có quá trình tăng
trưởng tương đối ổn định trong những năm qua.
Trong giai đoạn 2015-2019, nhìn chung giá trị hàng hoá tăng, từ 1,175 tỷ USD
năm 2015 lên đỉnh 1,480 năm 2017 và năm 2019 giảm 11,9% so với 2018 xuống còn
1,297 năm 2019 và 4 tháng đầu năm 2020 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường EU
chỉ đạt 215,8 triệu USD giảm 19,3% so với cùng kỳ năm 2019.
Lý giải cho xu hướng: các chính sách kinh tế Vĩ mô đã tác động mạnh mẽ đến
chất lượng và sản lượng Thuỷ sản Việt Nam để có thể xâm nhập vào thị trường khó
tính như EU, sản lượng gia đoạn trung hạn, dài hạn chắc chắn sẽ tăng, tuy nhiên có
38
sự sụt giảm 2019 là bởi vì EU thắt chặt các quy định về thẻ vàng IUU, khiến cho thuỷ
sản Việt Nam chưa kịp thay đổi để thích ứng. Tháng 11 năm 2019, Đoàn thanh tra
của Tổng vụ Biển và Thủy sản châu Âu thuộc EC đã sang Việt Nam lần 2 để kiểm
tra, rà soát quá trình khắc phục thẻ vàng của Thuỷ sản Việt Nam, dự kiến tháng 6 năm
2020 sẽ có chuyến kiểm tra lần 3 tại Việt Nam, tuy nhiên do ảnh hưởng nghiêm trọng
của dịch Covid nên lịch trình này có khả năng cao sẽ hoãn.
Về việc sản lượng 4 tháng đầu năm của 2020 xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào
EU giảm mạnh hoàn toàn nằm trong sự ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid lên nền
kinh tế toàn cầu nói chung và xuất khẩu thuỷ sản nói riêng.
Nhìn chung giá trị xuất khẩu của các ngành hàng tiêu biểu như Tôm, Cá Tra, Cá
Ngừ là các mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất khẩu vào EU, các mặt hàng này biến
động hàng năm về cơ bản là đồng pha với tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam vào EU, tăng đều từ 2015 và giảm nhẹ ở 2019.
Thêm một lý do mà kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản giảm có thể là do một số
Doanh nghiệp cố tình găm hàng lại đợi EVFTA có hiệu lực để hưởng lợi từ hiệp định,
dẫn đến tình trạng giảm lượng cung hàng hoá năm 2019 2020.
39
2.2.3. Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường một số nước tiêu biểu: Hà
350,00
Đơn vị: triệu USD
Hà lan
300,00
250,00
Đức
200,00
150,00
Ý
100,00
50,00
0,00
Lan, Đức, Ý
Năm
2015
2016
2017
2018
2019
Biểu đồ 2.3: Xuất khẩu Việt Nam-một số Quốc gia tiêu biểu của EU
(Hà Lan, Đức, Ý)
(nguồn: tổng hợp từ thống kê xuất khẩu thuỷ sản hàng năm của VASEP website
http://vasep.com.vn)
Hà Lan, Đức, Ý là những thị trường lớn nhất của xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
vào EU. Đồng thời, ba quốc gia này có những đặc điểm về thị trường, chính sách điển
hình có thể đại diện cho thị trường chung EU và chiếm hơn 40% tổng giá trị xuất
khẩu của Việt Nam vào EU.
Trong đó, có thể dễ dàng nhận thấy Hà Lan là thị trường lớn nhất với 173,13
triệu USD năm 2015 và cao nhất là 308,98 triệu USD năm 2017, sau đó giảm dần về
173,13 triệu USD năm 2019. Trong những năm gần đây, mối quan hệ ngoại giao giữa
Việt Nam và Hà Lan rất tốt, đó là lý do Hà Lan là một trong số những thị trường xuất
khẩu hàng hoá lớn nhất của Việt Nam, tiếp đó là đến Đức và Ý.
40
Đức là một thị trường tương đối ổn định và khắt khe, kim ngạch nhập khẩu thuỷ
sản Việt Nam hàng năm ít bị biến động. Năm 2019 các thị trường đều giảm theo xu
hướng chung. Người Đức không mua những sản phẩm thuỷ hải sản nhập khẩu bị
nhiễm độc do tác động của môi trường hoặc do chất phụ gia không được phép sử
dụng. Đối với sản phẩm thuỷ hải sản đã qua chế biến, người Đức chỉ dùng những sản
phẩm đóng gói có ghi rõ họ tên sản phẩm, nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản và sử
dụng, mã số và mã vạch.
2.3. Cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
sang thị trường EU khi EVFTA có hiệu lực
2.3.1. Cơ hội
2.3.1.1. Cơ hội thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các quốc gia tiêu biểu của
EU (Hà Lan, Đức, Ý) có mối quan hệ tốt với Việt Nam
- Hà Lan:
Trải qua hơn 45 năm kể từ khi Việt Nam và Hà Lan chính thức thiết lập quan
hệ ngoại giao (1973), hai nước đã xây dựng được mối quan hệ hữu nghị và hợp tác
tốt đẹp. Quan hệ Việt Nam - Hà Lan hiện được đánh giá là điển hình của mối quan
hệ năng động và hiệu quả.
Trong những năm gần đây, quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa
Hà Lan - Việt Nam không ngừng phát triển. Hà Lan đã trở thành đối tác thương mại
quan trọng hàng đầu của Việt Nam tại châu Âu với kim ngạch thương mại tăng đều
qua các năm. Hà Lan đứng thứ 14/88 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam
và đứng thứ 2 trong số các nước EU có hoạt động đầu tư vào Việt Nam (sau Pháp).
Hà Lan luôn khẳng định giành cho Việt Nam vị trí ưu tiên trong chính sách hợp tác
phát triển. Mặc dù Hà Lan cắt giảm viện trợ cho các nước và số nước được hưởng
viện trợ, Việt Nam tiếp tục nằm trong danh sách 20 nước ưu tiên nhận viện trợ của
Hà Lan và là một trong số những đối tác phát triển quan trọng của Hà Lan.
Những con số trên là dấu hiệu tích cực và sẽ gia tăng nhanh hơn trong tương lai,
nhất là khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam EU được ký kết và đi vào thực hiện,
41
góp phần đưa Việt Nam và Hà Lan trở thành cầu nối cho nhau tại hai thị trường nhiều
tiềm năng là Đông Nam Á và EU.
- Đức:
Đức ủng hộ EU sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam, thúc
đẩy đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam-EU nhằm tăng cường tối
đa kinh tế, thương mại giữa hai nước.
Năm 2019, Việt Nam được Đức xếp hạng đối tác thương mại thứ 40/144 nước
xuất khẩu hàng hoá vào Đức, hạng 55/144 nước nhập khẩu hàng hoá từ Đức và hạng
47/144 nước đối tác thương mại chính trên kim ngạch hai chiều.
Hàng năm, Đức chi khoảng 550 tỷ USD cho nhập khẩu hàng tiêu dùng. Hàng
hóa nhập khẩu vào Đức không chỉ phục vụ cho thị trường Đức mà còn tiếp tục được
xuất khẩu sang 27 nước thành viên EU và các nước Châu Âu khác. Chính vì vậy, Đức
có thể được hỗ trợ trong việc chuyển giao công nghệ tốt hơn nhất là với những hàng
hóa tiêu dùng của Việt Nam như dệt may, giày dép, thủy sản sẽ có thêm nhiều cơ hội
tại EU. CHLB Đức không chỉ là đối tác song phương trực tiếp với Việt Nam mà đây
còn là một trong số ít đối tác chiến lược của Việt Nam, Đức cũng là cửa ngõ cho hàng
Việt Nam sang thị trường các nước EU.
- Ý:
Việt Nam và Ý chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 23/3/1973. Quan
hệ chính trị giữa hai nước từ đầu những năm 90 được củng cố và phát triển, Ý là nước
Tây Âu đầu tiên tích cực ủng hộ việc tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và Liên minh
châu Âu, trên các diễn đàn quốc tế lớn, cũng như việc bình thường hóa quan hệ giữa
Việt Nam và các tổ chức tài chính, thương mại, tiền tệ quốc tế.
Kim ngạch thương mại Việt Nam - Ý tăng đều trong những năm qua, hiện Ý
đang là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam trong khối EU và Việt Nam là đối
tác thương mại lớn nhất của Ý trong khối ASEAN.
42
Quan hệ hợp tác truyền thống với các nước thành viên của EU tốt và ngày càng
phát triển chính là một điều kiện cực kỳ có lợi cho quá trình xâm nhập của Việt Nam
vào EU.
2.3.1.2. Cơ hội từ Cam kết cắt giảm thuế quan và hạn ngạch thuế quan từ Hiệp định
Thương mại tự do Việt Nam – EU.
Theo cam kết, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối
với 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
EU.
Tiếp đó sau 07 năm, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế,
tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của ta.
Đối với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại của Việt Nam, EU dành cho ta hạn
ngạch thuế quan (TRQ) với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.
Cụ thể đối với hàng hoá thuỷ sản như sau:
Khi hiệp định EVFTA có hiệu lực, các sản phẩm hải sản như: hàu, điệp, mực..
sẽ được giảm thuế nhập khẩu từ 20% về ngay mức 0%. Các sản phẩm mực, bạch tuộc
đông lạnh hiện đang có mức thuế 6 - 8% sẽ giảm ngay về 0%, cá cờ kiếm từ 7,5% về
0%. Riêng cá ngừ đóng hộp và surimi sẽ chịu hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500
tấn và 500 tấn.
Đối với sản phẩm tôm - sản phẩm chủ lực của Việt Nam vào EU, tôm hùm xanh
ướp đá, tôm sú HOSO, DP đông lạnh; tôm sắt PD tươi đông lạnh; tôm mũ ni vỏ…
(mã HS 03061100) sẽ được giảm ngay từ 12,5% hiện tại xuống 0%. Tôm sú đông
lạnh, tôm sú nguyên con… (mã HS 03061710) cũng có mức thuế từ 20% về 0% ngay
khi Hiệp định có hiệu lực.
Các sản phẩm tôm khác theo lộ trình 3-5 năm, riêng tôm chế biến lộ trình giảm
thuế 7 năm. Với sản phẩm cá ngừ, EU cam kết xóa bỏ thuế quan cho cá ngừ tươi sống
và đông lạnh ngay khi EVFTA có hiệu lực. các sản phẩm khác có lộ trình giảm thuế
từ 3-7 năm. Riêng cá ngừ đóng hộp và surimi sẽ chịu hạn ngạch thuế quan lần lượt là
43
11.500 tấn và 500 tấn. Các sản phẩm cá tra có lộ trình 3 năm, trừ cá tra hun khói cần
7 năm để về mức 0%...
Bảng 2.1: Lộ trình cắt giảm thuế của một số ngành hàng thuỷ sản
(Nguồn: VASEP, 2019)
Ngày 12/2/2020, ngay sau khi thông tin Nghị viện châu Âu vừa bỏ phiếu thông
qua EVFTA và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu
thủy sản Việt Nam đã phát đi những bản so sánh chi tiết mức thuế nhập khẩu mà EU
áp dụng cho các mặt hàng thủy sản của Việt Nam với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp
của Việt Nam, như Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Ecuador, Trung Quốc. Bên cạnh
hàng loạt sản phẩm thủy sản chế biến đang có mức thuế cơ bản khá cao (20%) sẽ
ngay lập tức về 0% khi EVFTA có hiệu lực, như hàu, điệp, mực, bạch tuộc, nghêu,
sò, bào ngư chế biến, tôm sú đông lạnh (HS 03061792)..., thì những sản phẩm tôm,
cá tra, cá ngừ... thuộc nhóm có lộ trình giảm thuế trong thời gian 3 - 7 năm cũng có
mức thuế nhập khẩu hấp dẫn hơn. “Khả năng tăng cạnh tranh so với các đối thủ chưa
có hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU, như Thái Lan, Ấn Độ là rất cao. Các
bản so sánh này đã được VASEP tính toán ngay khi các thông tin về EVFTA được
công bố, cung cấp cho doanh nghiệp hội viên làm cơ sở cho các kế hoạch đầu tư, kinh
doanh mới. Doanh nghiệp đã vào cuộc từ sớm” (nguồn: Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó
tổng thư ký VASEP, 2020).
44
Phải nói thêm, không ít sản phẩm thủy sản chế biến của Việt Nam đang được
EU đơn phương cho hưởng Chế độ Ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) như tôm nguyên
liệu đông lạnh, tôm chế biến đông lạnh, nên đang có nhiều lợi thế hơn các sản phẩm
của Thái Lan, Trung Quốc. Năm 2018, Việt Nam là nhà cung cấp tôm chế biến lớn
nhất cho EU, với 22,6% thị phần. EU đã và đang là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn
thứ hai của Việt Nam, sau Mỹ, luôn chiếm 17 - 18% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam sang các thị trường...(nguồn: VASEP, 2019).
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng của các FTAs vào ngành thuỷ sản Việt Nam
(nguồn: Công ty cổ phần Chứng khoán Phú Hưng, 2019)
Hiện tại tỷ trọng của EVFTA tác động vào thuỷ sản Việt Nam là chưa cao, lý
do bởi vì EVFTA chưa chính thức có hiệu lực, các điều kiện, điều khoản của Hiệp
định chưa được áp dụng trong quá trình xuất nhập khẩu.
2.3.3.2. Cơ hội: Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ký FTA với EU nay
Đây là sự kiện rất có ý nghĩa vì Hiệp định EVFTA là một hiệp định thương mại
tự do đầu tiên được Nghị viện mới của châu Âu bỏ phiếu thông qua. Đây cũng là hiệp
định đầu tiên của EU với một nước đang phát triển trong khu vực châu Á-Thái Bình
Dương. Ý nghĩa của cuộc bỏ phiếu này được thể hiện ở một số khía cạnh như sau:
45
Đây là tín hiệu cho thấy Việt Nam đã trở thành đối tác có uy tín hơn trong việc
thực hiện các cam kết quốc tế về kinh tế-thương mại, mặc dù còn nhiều hạn chế về
nguồn lực cũng như trình độ phát triển. Điều này có ảnh hưởng to lớn đến xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam, bởi vì, việc được hưởng lợi đầu tiên từ FTA sẽ giúp thuỷ sản
Việt Nam đi trước một bước so với các đối thủ cạnh tranh.
2.3.3.3. Cơ hội: xâm nhập được vào thị trường EU, thuỷ sản Việt Nam có thể xâm
nhập được các thị trường khó tính trên thế giới
Thị trường EU hết sức khó tính, không chỉ với thuỷ sản Việt Nam mà đối với
các quốc gia xuất khẩu thuỷ sản nói chung. Hiện nay EU là thị trường lớn thứ 4 của
Việt Nam về thuỷ sản, tiêu chuẩn về thuỷ sản nhập khẩu của EU là rất cao và khắt
khe, từ chất lượng thành phẩm đến quy trình đánh bắt, chăn nuôi. Mức độ đánh giá
của EU cho hàng hoá có thể coi là có quy chuẩn toàn cầu. Việc thuỷ sản Việt Nam
có thể cố gắng đáp ứng được quy chuẩn của EU sẽ có thể dễ dàng được chấp nhận uy
tín đối với các thị trường khác tăng lên đáng kể. khi người tiêu dùng yên tâm và tin
tưởng về quy chuẩn của EU thì lượng tiêu thụ, danh tiếng của hàng Việt Nam sẽ tăng
theo. Không những thế, việc tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của Eu sẽ giúp thuỷ
sản Việt Nam về chất lượng và ngư trường phát triển bền vững.
Biểu đồ 2.5: các thị trường lớn nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam
(Nguồn: Tác giả xử lý số liệu theo thống kê của Tổng cục Thống kê, năm 2019)
46
2.3.2. Thách thức
2.3.2.1. Các tiêu chuẩn ngành và rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng thuỷ sản
Với xu hướng ký kết các hiệp định tự do thương mại, các biện pháp phi thuế
quan ngày càng được sử dụng phổ biến và tinh vi. Mức độ cần thiết và lý do sâu xa
dẫn đến việc bảo hộ sản xuất nội địa của từng nước cũng khác nhau, đối tượng cần
bảo hộ cũng khác nhau khiến cho các hàng rào phi thuế càng trở nên đa dạng và khắt
khe. Thị trường EU có những yêu cầu đặc thù, quy định chặt chẽ về chất lượng, vệ
sinh an toàn thực phẩm. Với các quy định nghiêm ngặt này, Việt Nam thuộc nhóm
danh sách có nguy cơ gặp khó khăn với sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Những rào cản
như thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, các quy định kiểm tra hóa chất, kháng
sinh, bảo vệ nguồn lợi IUU, hay chương trình thanh tra riêng biệt đang và sẽ được
tăng cường áp dụng, đặc biệt là khi EVFTA mới được ký kết và sẽ có hiệu lực trong
thời gian không xa. Điều này sẽ khiến cho xuất khẩu thủy sản, vốn là mặt hàng mà
Việt Nam có lợi thế so sánh sẽ gặp phải không ít khó khăn.
Một số hàng rào phi thuế quan:
- Các biện pháp hạn chế định lượng: Đây là các biện pháp nhằm trực tiếp giới hạn
khối lượng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu vào một quốc gia. Do đó, có tính chất
bảo hộ rất cao, bao gồm cấm nhập khẩu, hạn ngạch và cấp phép nhập khẩu không tự
động.
- Các biện pháp quản lý về giá: Các biện pháp quản lý giá nhập khẩu hay giá bán
tại thị trường EU thông qua việc quy định giá tối đa, giá tính thuế, các khoản phí và
phụ thu có thể có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
vào EU.
- Hàng rào kỹ thuật và các biện pháp vệ sinh dịch tễ: Các biện pháp cần thiết để
bảo vệ môi trường, sức khỏe con người và động thực vật, ngăn ngừa các hành động
xấu,... mà EU cho là thích hợp, với điều kiện là các biện pháp đó không được áp dụng
theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện, hay hạn chế vô lý đối với thương
mại quốc tế. Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật phổ biến nhất được EU sử dụng
47
gồm: (1) Quy định đối với sức khỏe và an toàn vệ sinh thực phẩm; (2) Tiêu chuẩn
của EU về quản lý chất lượng; (3) Quy định của EU về bảo vệ môi trường và nguồn
lợi (ISO 14000, EMAS, IUU, quy định của EU về trách nhiệm xã hội).
- Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời: Thuộc nhóm này là các biện pháp
tự vệ, chống trợ cấp và chống bán phá giá. Xu hướng gần đây cho thấy EU sử dụng
khá thường xuyên các biện pháp này trong việc hạn chế nhập thủy sản vào thị trường
EU.
- Các biện pháp quản lý hành chính: Qui định về thanh toán, qui định về đặt cọc,
qui định về kích cỡ hàng hóa, qui định về quảng cáo, vị trí thông quan.
Có thể thấy EU áp dụng rất đa dạng các loại rào cản để kiểm soát luồng hàng
hoá nhập khẩu, bảo vệ người tiêu dùng nội địa cũng như bảo vệ môi trường. Hệ thống
rào cản này hết sức phức tạp, có thể làm “nản lòng” không ít doanh nghiệp xuất khẩu
nước ngoài có mong muốn chiếm lĩnh thị trường EU. Xu hướng chung trong việc sử
dụng các biện pháp phi thuế quan của EU là chuyển từ các biện pháp mang tính chất
hạn chế định lượng trực tiếp sang các biện pháp tinh vi hơn như chống trợ cấp, tự vệ,
tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp hạn chế nhập khẩu gắn với yêu cầu tuân thủ các
tiêu chuẩn môi trường và lao động, yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Vụ việc có ảnh
hưởng nghiêm trọng gần đây nhất đối với thủy sản xuất khẩu vào EU là việc EU áp
đặt thẻ vàng đối với thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, là một trong những nguyên
nhân chính dẫn đến kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này biến động trong năm
2018.
Tuy nhiên, trong công tác đáp ứng với các rào cản phi thuế vẫn còn một số bất
cập, hạn chế như: Chất lượng hàng thủy sản xuất khẩu vào EU chưa đều và chưa ổn
định; Các con giống mới chỉ đảm bảo mức độ cơ bản, chưa tạo ra được các loại giống
sạch có khả năng kháng bệnh cao; Chất lượng thủy sản sau thu hoạch chưa được kiểm
soát tận gốc; Còn có tình trạng lạm dụng hóa chất, kháng sinh trong sản xuất, khai
thác, bảo quản thủy sản. Những hạn chế trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân chính
bao gồm: Nhận thức về nguy cơ và hậu quả của rào cản phi thuế đối với xuất khẩu
thủy sản vào thị trường EU của một số doanh nghiệp còn khá hạn chế; Việc kiểm soát
48
chất lượng thủy sản, đặc biệt là các công đoạn trước chế biến còn khá hạn chế; Công
tác truy xuất nguồn gốc đôi khi chưa được chú trọng và thiếu hệ thống; Công tác nuôi
trồng thủy sản chưa thực sự được quy hoạch, triển khai tổng thể, phù hợp với đặc
điểm từng vùng và từng loại thủy sản.
2.3.2.2. Chi phí vận chuyển và bảo quản đối với mặt hàng thuỷ sản
Đặc thù của nông sản, thủy sản có chu kỳ sử dụng ngắn, dễ hư hỏng, tính thời
vụ và theo mùa, do đó đòi hỏi tính chuyên nghiệp trong dịch vụ logistics. Tuy nhiên,
ngành logistics phục vụ sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản của Việt Nam hiện
nay vẫn còn nhiều bất cập. Trong đó, nổi cộm nhất là chi phí logistics đắt đỏ
Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc vận chuyển và bảo quản thuỷ sản sau thu
hoạch gặp khó khăn với chi phí thực hiện lớn, chiếm một phần không nhỏ trong giá
thành sản phẩm, làm giảm khả năng cạnh tranh về giá của hàng hoá khi cạnh tranh
với các quốc gia khác tại thị trường EU.
Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng chi phí Logistics của một số quốc gia trên thế giới
theo GDP năm 2019
(nguồn: theo ước tính của Công ty TNHH KPMG Việt Nam năm 2019).
Tỷ lệ chi phí logistics của Việt Nam/GDP đang cao nhất thế giới, cao hơn rất
nhiều so với các nước lân cận và các khu vực EU, Bắc Mỹ. Cụ thể, chi phí
49
logistics/GDP cho hàng thủy sản ở nước ta là 25%; Trung Quốc chỉ 18%; Thái Lan
10,7%; vùng châu Á - Thái Bình Dương là 13,5%; châu Âu 9,2%, Bắc Mỹ 8,6%”
(Nguồn: Báo cáo của VASEP, 2019).
Tại VN, hàng hóa phải đi qua quá nhiều trung gian, từ khâu cung ứng nguyên
liệu cho sản xuất, đến khâu phân phối hàng hóa tới tay người tiêu dùng, làm tăng chi
phí giao dịch, tăng giá bán. Trong chuỗi này, các bên tham gia đều cố gắng trục lợi
cho chính mình, và vì thiếu thông tin, nên các thành viên trong chuỗi chỉ biết có bên
quan hệ trực tiếp với DN mình mà chẳng biết đến các thành viên khác và kết quả là
thổi phồng chi phí logistics.
Việt Nam là một trong số ít quốc gia có lợi thế về thủy sản, nhưng giá thành sản
xuất ngày càng cao đã hạn chế khả năng cạnh tranh, phát triển. Ở vựa thủy sản quốc
gia ĐBSCL có trên 70% sản lượng phải chở container lên TP Hồ Chí Minh và Bà Rịa
-Vũng Tàu để xuất khẩu, khiến chi phí vận tải cao hơn 10 - 40% tùy từng tuyến.
Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam khảo sát từ tháng 3 - 4/2019
với các doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp chủ hàng, cho thấy những yếu kém
của logistics hiện nay. Theo đó, “Khó khăn lớn nhất gặp phải khi làm việc với nhà
cung cấp dịch vụ logistics là chi phí không như mong đợi chiếm 72,2%; thiếu sự cải
tiến liên tục 30,6%; chất lượng dịch vụ không như cam kết 27,8%. Còn ba vấn đề lớn
các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics gặp phải là nguồn nhân lực còn hạn chế
chiếm 60%; giá cước thay đổi thất thường và thiếu kinh nghiệm quản trị chuỗi cung
ứng đều 40%”.
Theo chia sẻ từ phía doanh nghiệp xuất khẩu, nếu có dịch vụ tiếp vận hậu cần
hợp lý hơn, hàng hóa có thể xuất khẩu trực tiếp từ ĐBSCL, không phải đưa lên TP
Hồ Chí Minh thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn, khoảng
30 - 40%; khi đó, tính cạnh tranh của các mặt hàng nông sản sẽ cao hơn.
2.3.2.3. Năng lực cạnh tranh
EU là thị trường lớn, tiềm năng, nhưng cũng là thị trường cực kỳ khó tính, chất
lượng là yếu tố hàng đầu đối với mọi loại sản phẩm, hàng hoá, thuỷ sản cũng không
phải là ngoại lệ.
50
Thủy sản dù là mặt hàng mũi nhọn của ngành nông nghiệp với nhiều tiềm năng
phát triển, tuy nhiên năng lực cạnh tranh so với thị trường quốc tế vẫn còn nhiều hạn
chế. Đây là một trong những khó khăn đòi hỏi ngành hàng phải "thay đổi".
Trong khi đó, cơ sở hạ tầng, hoạt động bảo quản sản phẩm sau thu hoạch còn
hạn chế, chưa có nhiều doanh nghiệp chế biến sản phẩm thủy sản khai thác đáp ứng
được yêu cầu của EU. Việc ứng dụng khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật trong khai
thác thủy sản còn hạn chế, tổn thất sau thu hoạch còn cao, chất lượng nguyên liệu
thủy sản khai thác giảm do bảo quản, dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp, hàng hoá vẫn
thiên về số lượng chứ không phải là chất lượng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản chưa có sự thay đổi đột phá
để nâng cao uy tín và danh tiếng trên thị trường thế giới.
2.3.2.4. Tại thị trường EU tính cộng đồng của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản
còn yếu,
Các doanh nghiệp Việt Nam vốn bị kém thế cạnh tranh trên thương trường quốc
tế do cung cách làm ăn manh mún, chạy theo lợi nhuận trước mắt mà ít nghĩ đến cục
diện chung. Việc liên kết để đáp ứng những đơn đặt hàng lớn chỉ thuận lợi trong
những bước đầu, sau đó, các doanh nghiệp thường tìm cách xé lẻ, giành riêng hợp
đồng cho mình để rồi dẫn đến tình trạng luôn nghi kỵ, đối phó lẫn nhau và sẵn sàng
giành giựt quyền lợi riêng cho công ty mình mà không nghĩ đến cục diện chung.
Ví dụ một mình cà phê Trung Nguyên với hoài bão xây dựng thương hiệu cho
nông sản Việt Nam mà không có sự tiếp sức của những doanh nghiệp cùng ngành
nghề thì biết đến chừng nào mới thực hiện được. Nhưng thực tế, không ít doanh
nghiệp lại không thể cởi mở, liên kết với nhau, thậm chí có khi còn chơi xấu, cạnh
tranh không lành mạnh với nhau. Hệ quả là không những không nâng cao sức cạnh
tranh mà còn yếu đi vì sự tranh mua, tranh bán, thậm chí hạ uy tín của nhau. Trên
thực tế, vấn đề liên kết doanh nghiệp đã được đặt ra rất nhiều lần ở tất cả các hiệp
hội, ngành nghề tuy nhiên nhiều quan chức có thẩm quyền cũng “bó tay” trước thói
quen cố hữu của rất nhiều doanh nghiệp là “mạnh ai nấy làm”. Xét về khía cạnh liên
kết hợp tác của các doanh nhân trong quá trình hoạt động kinh doanh để cùng phát
51
triển và theo nguyên tắc cùng có lợi, tính cộng đồng của doanh nhân Việt Nam còn
quá rời rạc và ở mức thấp, thể hiện ở ngay trong phạm vi một ngành nghề, một địa
phương và rộng hơn là trong phạm vi cả nước; các doanh nhân ít khi tìm được tiếng
nói chung, lợi ích chung mang tính sống còn cho sự phát triển bền vững của nền kinh
tế. Sự liên kết giữa các "nhà", sự liên kết theo cụm, vùng nguyên liệu đang ở mức
thấp.
Theo nhiều nhà kinh doanh nước ngoài, các nhà kinh doanh Việt Nam không
coi trọng chữ tín, hay viện dẫn các lý do khách quan để khước từ việc thực hiện cam
kết, gây nhiều phiền toái trong quan hệ với các đối tác nước ngoài. Từ cá nhân đến
cơ chế, phải đau lòng nhận ra là người Việt chưa tin người Việt.
2.3.4.4. Thách thức về vấn đề về thẻ vàng IUU (chống đánh bắt cá bất hợp pháp,
không báo cáo và không được quản lý)
Tháng 10 năm 2017, Ủy ban Châu Âu (EC) đã cảnh báo “thẻ vàng” đối với sản
phẩm thủy sản khai thác của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Châu Âu vì chưa
tuân thủ các quy định về chống khai thác IUU.
Kể từ khi Ủy ban châu ÂU (EC) phạt thẻ vàng IUU đối với thủy sản Việt Nam,
sản lượng xuất khẩu sang thị trường này bắt đầu có dấu hiệu chững lại. Việc này đã
tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh, đánh bắt bởi đây là thị trường xuất khẩu
thủy sản lớn thứ 2 của Việt Nam. Quyết định cảnh báo “Thẻ vàng” của EC được công
khai trên các website và đang làm mất uy tín nghiêm trọng với hải sản Việt Nam, qua
đó gia tăng nguy cơ bị Mỹ và những thị trường tiềm năng khác có hành động tương
tự.
Sau 2 năm EC cảnh báo thẻ vàng đối với hải sản khai thác của Việt Nam, xuất
khẩu hải sản của Việt Nam sang thị trường EU đã bị tác động rõ rệt, giảm 6,5% còn
gần 390 triệu USD trong năm 2018 và tiếp tục chững lại trong 8 tháng đầu năm năm
2019 với 251 triệu USD. Từ vị trí thứ 2 trong các thị trường nhập khẩu hải sản Việt
Nam, sau thẻ vàng, thị trường EU đã tụt xuống đứng thứ 5 và tỷ trọng của thị trường
sụt giảm từ 18% xuống 13% (nguồn: Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng thư ký
VASEP).
52
Trong thời gian bị thẻ vàng, toàn bộ container hàng hải sản xuất khẩu sang EU
đều bị giữ lại kiểm tra nguồn gốc khai thác gây mất thời gian và phát sinh thêm chi
phí kiểm tra nguồn gốc 500 bảng Anh/container, phí lưu cảng. Nhưng rủi ro lớn nhất
là tỷ lệ lớn các container hàng bị từ chối trả lại, tổn thất cho cho việc xuất khẩu hải
sản sang EU khi bị thẻ vàng trung bình có thể lên đến 10.000 Euro/container (nguồn:
VASEP, 2019).
Cụ thể, nếu như trước đây hải sản xuất vào EU được thông quan tự động thì nay
bị chặn lại từ cảng để kiểm tra nguồn gốc khai thác khiến thời gian thông quan kéo
dài lên 10 -15 ngày. Điều này không chỉ phát sinh chi phí lưu cảng, chi phí kiểm tra
mà còn ảnh hưởng đến thời gian nhận hàng, kế hoạch kinh doanh của nhà nhập khẩu.
Đến hết tháng 1 năm nay, Việt Nam có 13.150 tàu lắp đặt thiết bị giám sát hành
trình, trong đó có 2.372 tàu có chiều dài trên 24 m (đạt 92 %) và 10.778 tàu từ 15 m
đến dưới 24 m (chỉ đạt 37%) (nguồn: Tổng cục Thuỷ sản, năm 2019). Công tác kiểm
soát tàu nước ngoài cập cảng Việt Nam để nhập khẩu sản phẩm thủy sản còn yếu.
Trong công tác theo dõi tàu cá, khả năng của cơ quan chức năng trong việc xác định
tàu cá có được khai thác tại vùng biển cho phép hay không còn hạn chế. Tình trạng tàu
cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài chưa có dấu hiệu giảm, tiếp tục diễn biến
phức tạp. Công tác truy xuất nguồn gốc thủy sản vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của
EC về kiểm soát theo chuỗi tính hợp pháp của sản phẩm xuất sang thị trường Châu
Âu…
Những đòi hỏi khắt khe về quy tắc xuất xứ, vấn đề bán phá giá, trợ cấp và sử
dụng các công cụ phòng vệ thương mại cũng là trở ngại lớn đặt ra cho các doanh
nghiệp thủy sản Việt Nam trong việc tiếp cận thị trường EU. Một hệ thống quy tắc
xuất xứ đơn giản, linh hoạt, phù hợp với tình hình Việt Nam và cho phép Việt Nam
được hưởng các lợi ích chính đáng từ EVFTA sẽ là điều kiện tiên quyết cần đảm bảo.
Yêu cầu này là hoàn toàn hợp lí đứng từ góc độ lợi ích (lợi ích lớn nhất có được từ
việc ký kết EVFTA là việc EU cắt giảm thuế quan cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam).
Vì vậy, việc chứng minh về nguồn gốc hợp pháp của thủy sản là một thách thức đối
với ngành này.
53
TỔNG KẾT CHƯƠNG 2
Trong chương 2, luận văn đã nêu lên hiện trạng của xuất khẩu thuỷ sản Việt
Nam sang thị trường Liên minh Châu Âu EU nói chung và thị trường một số quốc
gia tiêu biểu như Hà Lan, Đức, Ý nói riêng trong giai đoạn 2015-2020.
Trọng tâm chính của Chương 2 và của bài luận văn này nằm ở mục 2.3, ở đây
Tác giả đã nêu bật lên cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
khi EVFTA có hiệu lực.
Đây là căn cứ để đề xuất những giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam vào thị trường EU trong những năm tiếp theo nhằm tận dụng
EVFTA một cách hiệu quả nhất.
54
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM
TẬN DỤNG CƠ HỘI VÀ VƯỢT QUA THÁCH THỨC
3.1. Định hướng phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam
3.1.1. Phát triển thuỷ sản bền vững
Một là, đánh giá đầy đủ nhu cầu thế giới, đặc biệt là EU để tập trung tái cơ cấu
ngành thủy sản. Gắn tái cơ cấu ngành thủy sản theo từng vùng, từng địa phương, thích
ứng với sự biến động của nền kinh tế, dự báo trước các cuộc khủng hoảng về kinh tế,
chính trị, cũng như các đại dịch y tế như Covid-19 hiện nay.
- Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Việt Nam. Kết hợp tái cơ cấu
ngành thủy sản với tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị từ cung cấp nguyên liệu đầu
vào, sản xuất đến nuôi trồng, khai thác, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nhằm giảm chi
phí, giá thành, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả.
Chuyển từ nuôi trồng, khai thác theo phương thức truyền thống sang hiện đại -
hoá, ứng dụng công nghệ cao.
Tổ chức lại hoạt động khai thác, đẩy mạnh nuôi trồng, hiện đại hoá quản lý, đẩy -
mạnh ứng dụng khoa học công nghệ.
Tái cấu trúc ngành khai thác thủy sản, gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo -
vệ môi trường.
Đồng thời, hiện đại hóa tàu thuyền, trang thiết bị, bảo đảm nâng cao hiệu quả -
khai thác thủy sản.
- Tái cơ cấu ngành thủy sản, chuyển mạnh sang nuôi trồng biển. Phải xác định
đây là nhiệm vụ đột phá trong tái cấu trúc ngành thủy sản trong giai đoạn tới nhằm
thúc đẩy tăng trưởng thủy sản, chuyển dịch cơ cấu lao động từ đánh bắt sang nuôi
trồng, giải quyết nhiều việc làm, nâng cao đời sống cho người dân.
Hai là, trên cơ sở tái cơ cấu ngành thủy sản, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ
ngành liên quan và các địa phương tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung và lập mới
các quy hoạch theo Luật Quy hoạch.
Trong đó, phải đẩy nhanh tiến độ lập Quy hoạch Sử dụng biển quốc gia. Xác
định đầy đủ các khu vực biển, đảo có tiềm năng lợi thế để phát triển ngành thủy sản.
Từ đó làm cơ sở cho việc đầu tư khai thác và nuôi biển.
55
Đồng thời Quy hoạch Sử dụng biển quốc gia phải gắn với việc điều tra, đánh
giá đầy đủ về nguồn lợi thủy sản trên biển để làm cơ sở xây dựng kế hoạch khai thác
thủy sản phù hợp với nguồn lợi thủy sản.
Bên cạnh đó, tập trung xây dựng Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam
giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2045. Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn phối hợp Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức lập Quy hoạch các vùng kinh tế
và hướng dẫn các địa phương lập Quy hoạch tỉnh theo Luật Quy hoạch.
Trong đó xác định rõ các quy hoạch cần tích hợp vào Quy hoạch vùng và Quy
hoạch tỉnh như Quy hoạch hạ tầng thuỷ sản, giao thông, thủy lợi, điện, thông tin
truyền thông, cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền, các khu vực nuôi trồng thuỷ sản cả
trên biển và đất liền…
Ba là, trên cơ sở quy hoạch, các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực
hiện các quy hoạch cho từng năm và 5 năm. Xác định rõ cơ cấu nguồn vốn để đầu tư
thực hiện các quy hoạch.
Đồng thời, xác định cụ thể các dự án, các nhiệm vụ ưu tiên để huy động các
nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Ưu tiên vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho các dự
án hạ tầng cấp thiết như: cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền, các dự án hạ tầng nuôi
trồng thuỷ sản, trong đó tập trung cho khu vực duyên hải và khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long.
Với các dự án nuôi trồng thuỷ sản tập trung (cả các dự án nuôi biển), thì huy
động các nguồn vốn xã hội (của doanh nghiệp và người dân trong và ngoài nước) để
đầu tư.
Bốn là, rà soát lại các cơ chế chính sách hiện có để sửa đổi, bổ sung, xây dựng
mới các chính sách hỗ trợ phát triển ngành thủy sản. Tổng kết thực hiện Nghị định
Số: 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 7/7/2014 về một số chính sách phát triển
thuỷ sản để điều chỉnh lại những nội dung còn hạn chế, chưa phù hợp (như cơ chế về
tín dụng cho ngành thủy sản).
Xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển các đội tàu Viễn Dương, phát
triển dịch vụ hậu cần nghề cá, các chính sách khuyến khích ứng dụng khoa học công
nghệ, đổi mới sáng tạo trong phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
56
Đặc biệt là các chính sách hỗ trợ, khuyến khích nuôi biển và hỗ trợ đào tạo,
chuyển đổi nghề cho ngư dân, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển ngành thủy sản.
Năm là, tăng cường công tác kiểm soát quá trình đầu tư phát triển, khai thác,
nuôi trồng, chế biến, bảo quản sản phẩm thủy sản nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả
đầu tư các dự án hạ tầng, các dự án đóng mới tàu thuyền; đồng thời kiểm soát chất
lượng sản phẩm thủy sản.
Sáu là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm mở rộng thị trường cho sản phẩm thuỷ
sản Việt Nam; đồng thời trong việc phân định vùng biển, lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và hợp tác đánh cá với các quốc gia trong khu vực và các vùng đại dương.
Huy động nguồn lực để trang bị hợp tác khoa học cho các hoạt động tập trung lĩnh
vực thủy sản.
3.1.2. Liên kết quốc tế trong sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản
So với các quốc gia cạnh tranh và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á,
Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh về nguồn lợi thuỷ sản, giống loài đa dạng, thiên
nhiên khí hậu thuận lợi. Tuy nhiên lại thua kém về mặt công nghệ, khoa học kỹ thuật,
chất lượng sản phẩm dẫn đến giá thành tương đối cao.
EVFTA có hiệu lực, giữa Việt Nam và EU có cơ hội nhiều hơn trong hợp tác
toàn diện về mọi mặt. Đây là cơ hội để các Doanh nghiệp thuỷ sản tìm kiếm cơ hội
hợp tác với các Doanh nghiệp của EU trong khâu sản xuất (kỹ thuật, công nghệ, bảo
quản, chế biến) và xuất khẩu (logistics, phân phối, marketing, PR). Hợp tác chặt chẽ
với Doanh nghiệp của EU là một chiến lược khôn ngoan để xâm nhập thị trường khó
tính này.
Các cơ quan chức năng cần tạo hành lang pháp lý để thúc đẩy các doanh nghiệp
FDI của EU đầu tư vào Việt Nam. Trong đó, việc góp cổ phần cùng với các doanh
nghiệp Việt Nam cần được ưu tiên. Cần gắn chặt lợi ích của các doanh nghiệp EU
với các doanh nghiệp Việt Nam, điều này sẽ tạo tiền đề cho việc xâm nhập thị trường
EU. Lúc này, các doanh nghiệp EU chính là cầu nối hiệu quả, mạnh mẽ.
3.1.3. Phổ biến rộng rãi nội dung Hiệp định đến các doanh nghiệp XNK và ngư
dân
57
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) hiện đang đến giai đoạn
nước rút, đi vào thực thi.
“Nếu không hiểu rõ từng nội dung, mặt hàng, thị trường tác động như nào, thì
đôi khi, cơ hội đó sẽ trở thành thách thức”- để hiểu, biết hơn về Hiệp định thì thông
tin truyền thông báo chí rất quan trọng. Đặc biệt là truyền tải thông tin đến từng cơ
quan, bộ, ngành, địa phương nắm rõ Hiệp định, để có biện pháp hành động cụ thể,
tận dụng được cơ hội từ hiệp định này. Nếu báo chí nắm được rõ thì sẽ lan tỏa, định
hướng cho dư luận.
“Riêng về hoạt động phổ biến tuyên truyền, bên cạnh khóa tập huấn trực tiếp,
cần đổi mới phương thức tiếp cận, bằng việc tổ chức khóa tập huấn online, để thông
tin được phủ sóng và có tính lan tỏa cao.
Đặc biệt, để thực hiện Hiệp định hiệu quả, điều quan trọng là hỗ trợ các doanh
nghiệp bởi phần lớn doanh nghiệp hiện này thuộc loại vừa và nhỏ. Cần đổi mới
phương thức tiếp cận thông tin, tổ chức khóa tập huấn trực tuyến để phủ sóng thông
tin và mang tính lan tỏa cao.
Bên cạnh đó để hiệp định có hiệu quả nhất, cần làm những nội dung sau:
Tổ chức các hội thảo phổ biến về Hiệp định, thành phần là đại diện ngư dân,
doanh nghiệp và cơ quan quản lý: điều này sẽ giúp các bên hiểu rõ nhất về hiệp định,
quan trọng hơn là để ngư dân, doanh nghiệp bên chất vấn, góp ý về khó khăn vướng
mắc trong quá trình thực hiện giúp cơ quan quản lý có phương án tối ưu.
3.1.4. Phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – EU
Chính phủ cần có các chính sách phát triển quan hệ thương mại Việt Nam-EU
một cách hiệu quả để tận dụng triệt để lợi thế của EVFTA cho nền kinh tế nói chung
và ngành thủy sản nói riêng.
Các cơ quan ban ngành giữa các bên cần phối hợp hoạt động một cách chặt chẽ,
linh hoạt. Đề xuất thành lập một tiểu ban bao gồm nhiều cơ quan có liên quan của
Việt Nam và EU để triển khai EVFTA, tiểu ban này có thể bao gồm đại diện của các
tổ chức như: cơ quan quản lý thuỷ sản (cụ thể là Tổng cục thuỷ sản), hiệp hội xuất
khẩu thuỷ sản (VASEP), hiệp hội các doanh nghiệp thuỷ sản, Kiểm dịch thực vật,
Hội nghề cá Việt Nam, Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,…
58
Tăng cường liên kết hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng và hải quan. Hoạt động
thanh toán quốc tế cần được đẩy mạnh, tập trung vào việc đẩy nhanh thời gian thanh
toán, tăng cường liên kết các ngân hàng giữa Việt Nam và EU trong quốc trình thực
hiện hợp đồng ngoại thương, tạo điều kiện để doanh nghiệp hai bên tăng sự tin tưởng
và đảm bảo an toàn khi thực hiện xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, hải quan và thuế cũng
cần có sự liên kết chặt chẽ, các cơ quan hải quan cần nghiên cứu kỹ quy trình làm
việc của nhau để tạo điều kiện để các doanh nghiệp giảm thiểu tối đa các thủ tục hành
chính và giảm các vướng mắc trong vấn đề thuế quan, hướng dẫn doanh nghiệp nắm
rõ và sử dụng quota-hạn ngạch, lộ trình cắt giảm thuế để tận dụng một cách hiệu quả.
Tạo điều kiện để các doanh nghiệp EU vào Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng,
nâng cao chất lượng dịch vụ logistics để các hoạt động thương mại diễn ra suôn sẻ,
tiết kiệm thời gian, chi phí và tăng cường sự hiểu biết của doanh nghiệp về hoạt động
logistics tại địa bàn EU để tìm ra các giải pháp tối ưu cho các hoạt động thương mại.
3.1.5. Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý và hỗ trợ thuỷ sản
Luật Thuỷ sản 2017 đã luật hóa các nội dung liên quan đến chống đánh bắt bất
hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU) trong đó có khuyến nghị của
Ủy ban Châu âu (EC). Nội dung này được quy định rải rác trong các Điều và các
chương của Luật. Luật Thuỷ sản đã được sửa đổi dựa trên các nguyên tắc của Công
ước Luật biển 1982, Hiệp định biện pháp quốc gia có cảng của FAO, Hiệp định đàn
cá di cư của Liên Hợp quốc, Bộ luật nghề cá có trách nhiệm của FAO, Kế hoạch hành
động quốc tế của FAO về khai thác IUU, Hướng dẫn của FAO về thực hiện trách
nhiệm quốc gia treo cờ, tập trung vào 9 khuyến nghị của EC.
Cụ thể, các khuyến nghị đó được thể hiện trong các nội dung sau:Quy định số
lượng và phân bổ hạn ngạch giấy phép khai thác của tàu theo nghề trên các vùng biển
và phân cấp cho địa phương để cấp phép cho từng tàu cá; Quy định nội dung quản lý
đầu ra theo hạn ngạch các loài di cư và các loài có tính kết đàn.
Tuy nhiên để EVFTA thực sự đạt hiệu quả và tác động tích cực nhất đối với
ngành thuỷ sản, thì cần bổ sung, sửa đổi, hoàn hiện những nội dung sau:
Thứ nhất, cần xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủy sản, trong đó
trước mắt tập trung xây dựng Luật Thủy sản (sửa đổi) theo đúng tiến độ và đảm bảo
59
phù hợp với thực tiễn và xu hướng phát triển của ngành thủy sản. Cụ thể, cần sửa đổi
Luật Thủy sản theo hướng:
(i) Về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, cần sửa đổi, bổ sung quy định về
nguồn hình thành Quỹ tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xác định rõ nguồn cấp ban đầu của
NSNN cho Quỹ tái tạo nguồn lợi thủy sản. Sửa đổi quy định về khu bảo tồn biển, khu
bảo tồn vùng nước nội địa theo hướng quy định rõ cách thức quản lý, tiêu chí quản
lý, phân cấp quản lý. Phân định rõ thẩm quyền quản lý đối với khu bảo tồn vùng nước
nội địa và kiểm soát các loài thủy sinh vật ngoại lai của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường.
(ii) Về khai thác thủy sản, bổ sung quy định quản lý đối với một số nghề khai
thác thủy sản không sử dụng tàu cá; quy định về vùng khai thác, quản lý nghề khai
thác. Sửa đổi quy định về tiêu chí cấp Giấy phép khai thác thủy sản đảm bảo phù hợp
với tiêu chí đăng ký và đăng kiểm tàu cá. Sửa đổi quy định về đăng ký kinh doanh để
phù hợp với Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp.
(iii) Về nuôi trồng thủy sản, bổ sung quy định về quản lý vật tư đầu vào trong
nuôi trồng thủy sản (thức ăn thủy sản, chất xử lý cải tạo môi trường trong nuôi trồng
thủy sản, giống thủy sản...) đảm bảo phù hợp với Luật Đầu tư và việc quản lý nuôi
trồng thủy sản theo chuỗi giá trị. Sửa đổi các trường hợp Nhà nước thu hồi mặt nước
biển để nuôi trồng thủy sản, một số quy định về thời hạn giao, cho thuê mặt nước
biển cho phù hợp với Luật Đất đai. Bổ sung quy định xác định rõ thẩm quyền của các
tổ chức thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong quản lý nhà nước về
mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản, tránh chồng chéo với trách nhiệm, thẩm quyền
của ngành tài nguyên và môi trường trong quản lý tổng hợp tài nguyên biển. Sửa đổi,
làm rõ nội hàm một số thuật ngữ cho phù hợp với Luật Tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ
thuật, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa như: tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn
ngành, thú y thủy sản, thuốc thú y… Bổ sung quy định về quan trắc cảnh báo môi
trường trong nuôi trồng thủy sản; quy định về việc thừa nhận lẫn nhau về các tiêu
chuẩn trong nuôi trồng thủy sản; quy định về quản lý bè cá dùng trong nuôi trồng
thủy sản.
60
(iv) Về tàu cá và dịch vụ hoạt động thủy sản, bổ sung một điều quy định về Hệ
thống thông tin quản lý tàu cá. Sửa đổi quy định về thủ tục hành chính trong phê
duyệt hồ sơ thiết kế, đóng mới, cải hoán tàu cá; quy định tàu cá đóng mới, cải hoán
theo mẫu truyền thống không bắt buộc có hồ sơ thiết kế, nhưng bắt buộc phải có hồ
sơ hoàn công đảm bảo cải cách thủ tục hành chính. Bổ sung quy định quản lý đối với
các cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá; định hướng phát triển tàu cá và xử lý đối với các
tàu cá nhỏ để phát triển nghề cá hiện đại; quản lý đối với các loại vật tư dùng trong
khai thác thủy sản. Sửa đổi quy định về cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão
cho tàu cá theo hướng quy định cụ thể về cơ chế quản lý, tổ chức quản lý của cảng
cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá.
(v) Bổ sung quy định về đồng quản lý nghề cá trong hoạt động thủy sản nhằm
phát huy tính hiệu quả của hình thức quản lý này, nâng cao ý thức, trách nhiệm của
người dân trong hoạt động thủy sản. Theo đó, các quy định về mô hình, cách thức tổ
chức hoạt động đồng quản lý, cơ quan có thẩm quyền thành lập, kinh phí hoạt động,
quyền hạn và trách nhiệm của những người tham gia hoạt động đồng quản lý và đặc
biệt là vấn đề chia sẻ lợi ích trong đồng quản lý cũng cần được quy định cụ.
(vi) Về quản lý cấp phép khai thác thủy sản theo hạn ngạch, Luật Thủy sản (sửa
đổi) cần giao trách nhiệm cụ thể cho cơ quan có thẩm quyền quyết định hạn ngạch
đầu vào và điều tiết số lượng tàu được phép khai thác dựa trên căn cứ khoa học đáng
tin cậy (dựa trên kết quả điều tra, đánh giá trữ lượng nguồn lợi thủy sản trong vùng
biển Việt Nam và sự gia tăng phát triển về số lượng tàu thuyền đánh bắt hải sản) để
bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
(vii) Về xã hội hóa công tác đăng kiểm tàu cá: để thống nhất quản lý trong công
tác đăng kiểm tàu cá, nhằm thực hiện chuyên môn hóa cao trong các hoạt động đăng
kiểm cũng như tạo điều kiện để đầu tư các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), huy
động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân đầu tư cho công tác đăng kiểm tàu cá, đảm
bảo chất lượng của hoạt động đăng kiểm, khắc phục tình trạng “đăng kiểm hành
chính” như hiện nay, đề nghị bỏ nội dung về phân cấp đăng kiểm trong các văn bản
hiện hành, đồng thời bổ sung quy định về xã hội hóa đăng kiểm tàu cá, điều kiện và
thủ tục công nhận các đơn vị đăng kiểm khi tiến hành xã hội hóa. Nội dung về xã hội
61
hóa công tác đăng kiểm tàu cá cần dựa trên những tổng kết từ đề án thí điểm đăng
kiểm tàu cá theo vùng trọng điểm; đề án xã hội hoá công tác đăng kiểm tàu cá do Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai thực hiện để có những quy định mang
tính đột phá, tách bạch giữa những hoạt động mang tính kỹ thuật theo dịch vụ công
với công tác quản lý nhà nước về tàu cá.
(viii) Về kiểm ngư, cần thiết phải quy định bổ sung về kiểm ngư tại dự án Luật
Thủy sản (sửa đổi) để thiết lập cơ sở pháp lý cao nhất cho tổ chức và hoạt động của
Kiểm ngư Việt Nam nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động khai thác
thủy sản và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Đồng thời, việc có lực lượng kiểm ngư với
thẩm quyền và trang thiết bị đủ mạnh và có cơ chế phối hợp với các lực lượng khác
sẽ góp phần tăng cường sự hiện diện của các lực lượng chức năng Việt Nam trên biển;
góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự trên biển.
Thứ hai, cần kịp thời ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành những nội dung sửa đổi mới trong Luật Thủy
sản như: kiểm ngư; phân cấp thẩm quyền quản lý thủy sản cho địa phương; giao, cho
thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản; quản lý tàu cá; quản lý chất lượng thủy
sản; quản lý nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, đảm bảo truy xuất nguồn gốc;
quản lý khai thác thủy sản nội đồng, cấp giấy phép khai thác thủy sản...
Thứ ba, cần hoàn thiện tổ chức ngành thủy sản, tiếp tục kiện toàn, nâng cao
năng lực hoạt động (nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động) cho Tổng cục Thủy
sản và các Chi cục chuyên ngành thủy sản tại địa phương để thực hiện những thẩm
quyền, nhiệm vụ được phân cấp trong Luật Thủy sản (sửa đổi). Rà soát, bổ sung hoàn
thiện chức năng nhiệm vụ, quy chế hoạt động, cơ chế phối hợp của Tổng cục Thủy
sản với các Cục, Vụ thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan
có liên quan. Chuyên môn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác thủy sản, tăng cường năng
lực cán bộ làm công tác thủy sản tại địa phương.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế về thủy sản để tận dụng tối đa các nguồn
lực, kinh nghiệm của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật về thủy sản. Nghiên cứu các quy định của luật pháp quốc tế về khai
thác thủy sản để nội luật hoá trong các quy định của quốc gia. Khuyến khích các
62
doanh nghiệp, các Trường đại học, các Viện nghiên cứu khoa học liên doanh, liên kết
với các nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư phát triển thủy sản, đặc biệt trong việc ứng
dụng khoa học công nghệ trong khai thác nuôi trồng và chế biến thủy sản, sử dụng
công nghệ định vị, vệ tinh để quản lý hoạt động khai thác thủy sản... Tăng cường và
mở rộng hợp tác quốc tế trong nghề cá, trước hết đối với các nước trong khu vực
ASEAN và các nước trong khu vực Biển Đông. Đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết các
thỏa thuận hợp tác nghề cá song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc
tế trong khu vực và trên thế giới.
Thứ năm, trong quá trình hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về kinh tế
biển, cần xem xét gắn mục tiêu phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an
ninh trên biển; có cơ chế phù hợp, đảm bảo tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế của
các lực lượng thực thi pháp luật trên biển với các nước trong khu vực, đặc biệt những
quốc gia có biển liền kề nhằm đảm bảo an ninh khu vực./.
3.2. Một số kiến nghị, giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào
thị trường EU trong những năm tới
3.2.1. Nhóm giải pháp tận dụng cơ hội và hạn chế thách thức
Tận dụng điểm mạnh để để khai thác cơ hội và vượt qua những điểm yếu, thách
thức. Có thể đưa ra một số giải pháp cho hoạt động này như sau:
Giải pháp 1:
Tận dụng điểm mạnh khai ác cơ hội, tận dụng tối đa những mặt hàng mà Việt
Nam có thế mạnh, tận dụng những ưu đãi từ chính phủ Việt Nam, khắc phục điểm
yếu về nguyên liệu, hạ giá thành sản phẩm nâng cao chất lượng đầu vào đáp ứng chất
lượng đầu ra vào thị trường EU: thế mạnh của Việt Nam là tập trung vào phát triển
các đối tượng có giá trị xuất khẩu cao và có khả năng về thị trường như tôm sú, cá
tra, cá basa… Nuôi tôm sú phát triển nhanh về quy mô, năng suất và sản lượng.
Các giải pháp tăng cường đầu tư và nâng cao năng lực đánh bắt xa bờ và nuôi
trồng thuỷ sản, việc nguồn lợi thuỷ sản ven bờ ngày càng cạn kiệt, thì việc đánh bắt
xa bờ là một biện pháp hữu hiệu, tất nhiên phải tuân thủ là nghiêm túc thực hiện theo
quy định của IUU.
63
Tạo điều kiện cho Ngư dân đầu tư cải tiến công nghệ bảo quản và khai thác sản
phẩm trên tàu, hỗ trợ phát triển đội tàu hậu cần nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm
bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm chủ lực (tôm sú, tôm càng xanh,
các tra, cá ba sa,…), nâng cao tỷ lệ sản phẩm đưa vào chế biến xuất khẩu.
Giải pháp 2:
Dựa trên cơ sở công nghệ, tận dụng sự hỗ trợ mở rộng quan hệ quốc tế, nâng
cao năng lực chế biến, khắc phục điểm yếu về cơ cấu mặt hàng và trình độ khoa học
kỹ thuật lạc hậu, để gia tăng sản phẩm có hàm lượng chế biến cao. Giá thành sản
phẩm của Việt Nam vào EU nhìn chung tương đối thấp, so với nhưng vẫn khó cạnh
tranh đối với hàng hoá cùng loại của Thái Lan, In-đô-nê-si-a do kỹ thuật chế biến của
hàng thuỷ sản Việt Nam còn hạn chế.
Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý hấp dẫn và ưu tiên hơn nữa đối với lĩnh
vực thuỷ sản, cụ thể như sau:
- Chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại một cách đồng bộ: trung tâm quản
lý nghề cá, cảng cá, chợ cá, hệ thống thuỷ lợi cho nuôi trồng thuỷ sản,…
- Chú trọng các dự án chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển con giống,
mô hình nuôi trồng hiện đại.
- Chú trọng các dự án nâng cấp đổi mới công nghệ chế biến thành phẩm, công
nghệ sản xuất thức ăn, nguyên liệu đầu vào, thuốc phòng chữa bệnh cho thuỷ, hải sản.
- Chú trọng các dự án phát triển con người: cán bộ quản lý nghề, các cơ quan
hành chính liên quan, nâng cao kiến thức cho ngư dân và doanh nghiệp.
- Đẩy nhanh việc nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong lĩnh
vực khai thác và chế biến, giải quyết các vấn đề môi trường và an toàn vệ sinh, sử
dụng tài nguyên, nguồn lợi một cách bền vững.
- Chính phủ hỗ trợ vốn là một nguồn rất quan trọng đối với ngư dân và doanh
nghiệp trong quá trình hiện đại hoá ngành thuỷ sản.
Các biện pháp trên sẽ góp phần rất lớn vào việc thay đổi ngành thuỷ sản, nâng cao
sức cạnh tranh bền vững để có thể xâm nhập một cách mạnh mẽ vào thị trường EU.
Giải pháp 3:
64
Dựa trên những điểm mạnh trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng
các tiêu chuẩn, hàng rào kỹ thuật của EU, xây dựng, hoàn thiện luật thuỷ sản khắc
phục điểm yếu về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Giải pháp phòng ngừa dư lượng thuốc kháng sinh: mối quan tâm và lo lắng lớn
nhất của các doanh nghiệp xuất khẩu chính là các thông số yêu cầu của thị trường EU
về dư lượng kháng sinh rất thấp, nhiều thông số kháng sinh yêu cầu dư lượng bằng 0,
trong khi đó chúng ta chưa có đủ năng lực kỹ thuật để kiểm tra phát hiện dư lượng
kháng sinh với hàm lượng thấp như vậy.
- Giải quyết vấn đề này một cách đồng bộ từ các cơ quan quản lý. Đề nghị cục
quản lý chất lượng nông lâm và thuỷ sản, Cục vệ sinh an toàn thực phẩm phối hợp
chặt chẽ, đồng thời đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc công nghệ cao để có thể đáp ứng
được các quy định phức tạp của EU.
- Chống đưa tạp chất vào nguyên liệu thuỷ sản: biện pháp kiểm tra chéo giữa các
doanh nghiệp tại khu vực thu gom nguyên liệu để loại bỏ việc bơm, chích tạp chất
vào nguồn nguyên liệu xuất khẩu (tôm bơm nước, ngâm nước,…).
- Thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại các
cơ sở sản xuất (TCVN4378:2001, QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT). Đề nghị Bộ
Nông nghiệp thường xuyên kiểm tra, rà soát các cơ sở chưa đạt yêu cầu và có chế tài
mạnh mẽ để Doanh nghiệp tự giác hơn về việc thực hiện.
Giải pháp 4:
- Dựa trên những kinh nghiệm đã đạt được về phát triển thị trường EU, cũng với
sự hỗ trợ của Nhà nước, tận dụng cơ hội từ quan hệ mở rộng hợp tác Việt-EU, thông
qua các cầu nối và các hoạt động xúc tiến thương mại, vượt qua thách thức về sự khác
biệt văn hoá kinh doanh để thâm nhập sâu vào thị trường EU.
- Các bộ, ban, ngành cần có một chiến lược tổng thể về thị trường và định hướng
sản xuất, kinh doanh một cách cụ thể hoá. Từ đó các doanh nghiệp sẽ biết nên tập
trung vào mặt hàng nào, sản lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao?
- Thực hiện đẩy mạnh công tác tuyên truyền qua các kênh thông tin đại chúng về
thị trường EU về quy định chống đánh bắt cá bất hợp pháp IUU, luật hoá rõ ràng cụ
thể để ngư dân thực hiện nghiêm túc các quy định này.
65
- Thành lập các quỹ hỗ trợ xúc tiến việc làm, tìm hiểu kỹ thị trường EU và cử các
Doanh nghiệp tiềm năng đi khảo sát trực tiếp bằng nguồn vốn ngân sách (có chính
sách ưu đãi với các Doang nghiệp tự bỏ vốn).
Giải pháp 5:
- Dựa trên ưu thế của những mặt hàng đã xâm nhập được vào thị trường EU, đa
dạng hoá sản phẩm, khai thác cơ hội khi xu hướng tiêu dùng hàng thuỷ sản của EU
ngày càng tăng.
- Đa dạng hoá mặt hàng: bên cạnh đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng chủ lực giá
trị cao, doanh nghiệp cần tăng cường đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, tận dựng
nguồn lợi phong phú, các chế phẩm liên quan trong quá trình chế biến, đặc biệt là các
mặt hàng tiện dụng, chất lượng cao như đồ hộp, đồ ăn liền, nghiên cứu kỹ văn hoá
tiêu dùng để có thể cung cấp những sản phẩm từ bình dân tới xa xỉ. Nghiên cứu các
giống mới mà thị trường EU cần, có thể lựa chọn phương án nhập khẩu giống mới
nếu điều kiện nuôi trồng, khí hậu Việt Nam có thể phù hợp.
- Xây dựng thương hiệu cho thuỷ sản Việt Nam: Tôm, Cá Tra, Cá Basa là những
mặt hàng đã có thương hiệu trên toàn thế giới. Điều này là điểm mạnh đồng thời cũng
đi kèm rủi ro, nếu bất kỳ nơi nào trên thế giới các thương hiệu này gặp phải vấn đề
về uy tín, vệ sinh an toàn, chất lượng,.. thì cũng đồng thời tác động lan truyền đến thị
trường EU. Vì vậy chúng ta cần chú trọng đến chất lượng và uy tín của thương hiệu
trên toàn thế giới.
- Cần thực hiện đồng bộ việc thiết lập hệ thống cảnh báo chất lượng gắn với
thương hiệu để đảm bảo uy tín toàn cầu, tăng khả năng cạnh tranh cho mặt hàng thuỷ
sản
- Cần xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn phân cấp rõ rệt cho các thị trường bình
dân hoặc xa xỉ (cao hơn các tiêu chuẩn thông thường).
3.2.2. Một số nhóm giải pháp với các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp và ngư
dân
3.2.2.1. Nhóm giải pháp đối với các cơ quan chức năng liên quan đến ngành thuỷ sản
66
Thứ nhất, không chỉ đối với hàng thuỷ sản, mà tất cả các hàng hoá thì chất
lượng là yếu tố cốt lõi hàng đầu, nâng cao chất lượng sản phẩm là định hướng cốt
lõi, bền vững. Các cơ quan chức năng cần:
(i) Cần hỗ trợ vốn, và tạo ra các ưu đãi trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc
nhập khẩu máy móc, công cụ hoặc chuyển giao công nghệ ngành thuỷ sản. Hiện đạo
hoá nhà xưởng, dây chuyền chế biến, lưu trữ, xây dựng hệ thống logistics tiên tiến để
đảm bảo chất lượng thuỷ sản giữ nguyên trong quá trình vận chuyển và bảo quản.
(ii) Tạo điều kiện tối đa để các doanh nghiệp EU đầu tư vốn và kỹ thuật vào
Việt Nam, với kinh nghiệm tại thị trường EU và trình độ khoa học công nghệ phát
triển, các doanh nghiệp này sẽ biết cách để nâng cao chất lượng sản phẩm của Việt
Nam phù hợp với người tiêu dùng EU.
(iii) Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm, đào tạo doanh nghiệp
cải tiến, nâng cao trình độ, tay nghề, áp dụng công nghệ tiên tiến vào chế biến, sản
xuất.
(iv) Các cơ quan chức năng, các viện nghiên cứu thường xuyên nuôi thử và cải
tạo tìm ra các giống mới, phù hợp hơn với môi trường Việt Nam và cho ra sản phẩm
với chất lượng tốt hơn.
(v) Tránh việc doanh nghiệp áp dụng 3 – 4 chứng chỉ cùng một lúc, chính phủ
cần nghiên cứu khả năng phối hợp giữa các hệ thống chứng nhận.
Hiện nay, cả 3 thị trường nhập khẩu tôm lớn của Việt Nam là: Mỹ, Nhật và EU
đều không quan tâm đến chứng nhận VietGAP, kể cả GlobalGAP, mà chỉ có đạt
chứng nhận ASC, BAP hoặc con tôm sạch không nhiễm kháng sinh, vi sinh hay các
chất cấm khác thì họ mới chấp nhận mua. Vì vậy, không nhất thiết phải đưa ra khuyến
cáo nuôi tôm theo chứng nhận này”.
Đối với con cá tra, có phần nhẹ nhàng hơn, khi có một số thị trường chấp nhận
tiêu chuẩn VietGAP bên cạnh tiêu chuẩn BAP. Theo phân tích của các chuyên gia,
giữa VietGAP với GlobalGAP, ASC hay BAP đều có những nội dung, tiêu chuẩn
tương thích nhất định, nên từ VietGAP chỉ cần nâng cấp thêm một số nội dung là có
thể đạt các chứng nhận trên. Do đó, dù chưa được công nhận nhiều trên thị trường thế
67
giới, nhưng VietGAP vẫn có một vai trò và vị trí nhất định trong quá trình sản xuất
nông nghiệp nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng.
VietGAP không chỉ là bộ tiêu chuẩn quốc gia dành riêng cho sản phẩm trong
nước, mà còn tiêu chuẩn để đánh giá cho các sản phẩm nông, thủy sản nước ngoài
muốn nhập khẩu vào Việt Nam. Đối với 2 sản phẩm thủy sản chủ lực là cá tra và tôm
nước lợ, dù chủ yếu dành cho xuất khẩu, nhưng nếu người nuôi thực hiện ngay từ đầu
các tiêu chuẩn ASC, BAP… sẽ rất khó và tốn kém, nên việc thông qua con đường
VietGAP được xem là khả thi nhất. Một khi người nuôi đã quen với VietGAP thì việc
chuyển sang các tiêu chuẩn khác như ASC, BAP… sẽ dễ dàng hơn.
Trên thực tế, nếu chúng ta làm tốt việc giới thiệu và thúc đẩy chứng chỉ VietGAP
để chứng chỉ này dễ nhận diện và được biết đến nhiều hơn tại các nước khác, thì việc
áp dụng VietGAP sẽ trở nên phổ biến hơn.
Thứ hai, giải quyết dứt điểm vấn đề thẻ vàng IUU:
Khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU)
là một trong những thách thức đối với việc quản lý và bảo tồn tài nguyên biển hiện
nay. Để giải quyết triệt để vấn đề IUU, Việt Nam sẽ phải đối mặt với một số thách
thức như: Bảo đảm cân bằng giữa chính sách phát triển nghề cá, bảo vệ chủ quyền và
quyền chủ quyền Việt Nam trên biển với hạn chế đội tàu cá, bảo đảm không dẫn đến
khai thác quá mức tài nguyên biển cũng như bảo đảm sinh kế cho ngư dân khi thực
hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ hoạt động đánh bắt…
Phải giải quyết dứt điểm tình trạng tàu cá Việt Nam vi phạm các quy định về
khai thác hải sản, đặc biệt là việc đánh bắt cá trái phép tại vùng biển nước ngoài.
Sau khi EC áp dụng “thẻ vàng”, Chính phủ, các bộ, ban ngành liên quan, UBND
28 tỉnh, thành phố ven biển và cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt để chống
hành vi IUU, tập trung vào các giải pháp như: Ban hành Luật Thuỷ sản 2017, hoàn
thiện các văn bản dưới Luật (Nghị định, Thông tư) bảo đảm tính tương thích với các
quy định quốc tế về quản lý nghề cá bền vững và chống khai thác IUU. Đồng thời,
tăng cường chỉ đạo điều hành, thực thi pháp luật nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước trong quản lý nghề cá nói chung, quản lý chống khai thác IUU từ
Trung ương đến địa phương.
68
Thời gian tới, để giải quyết triệt để vấn đề IUU, Việt Nam sẽ phải đối mặt với
một số thách thức như: bảo đảm cân bằng giữa chính sách phát triển nghề cá, góp
phần bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền Việt Nam trên biển với hạn chế đội tàu
cá, bảo đảm không dẫn đến khai thác quá mức và IUU; bảo đảm sinh kế cho ngư dân
khi thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ hoạt động đánh bắt… Việt Nam cần thực
hiện một số nhóm giải pháp đồng bộ để vừa thúc đẩy EU gỡ bỏ thẻ vàng vừa tránh
tác động không thuận đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng,
như sau:
(i) thay đổi việc trợ cấp nghề cá theo hướng tăng ưu đãi cho việc xây dựng các
cơ sở hậu cần nghề cá, phát triển công nghiệp chế biến, hỗ trợ ngư dân chuyển đổi từ
đánh bắt sang nuôi trồng thủy sản và hoạt động kiểm soát nghề cá.
(ii) có thể tính đến việc hỗ trợ ngư dân chuyển đổi từ đánh bắt thuần túy sang
đánh bắt kết hợp với nuôi trồng thủy sản. Việc chuyển đổi này sẽ làm giảm sự phụ
thuộc vào hoạt động đánh bắt truyền thống, giảm gánh nặng lên nguồn lợi thủy sản
tự nhiên; đồng thời, cũng sẽ giúp tạo thêm nguồn nguyên liệu bền vững cho hoạt động
chế biến, góp phần phát triển công nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam.
(iii) về xây dựng và thực thi pháp luật, cần đẩy mạnh việc thực thi hiệu quả các
quy định của Luật Thuỷ sản sửa đổi và các văn bản hướng dẫn, bảo đảm phù hợp với
các khuyến nghị của Uỷ ban châu Âu, luật pháp quốc tế và thực tiễn quản lý của Việt
Nam.
(iv) về vấn đề hợp tác quốc tế, cần thúc đẩy việc ký kết, gia nhập các điều ước
quốc tế có liên quan phòng, chống IUU ở mức độ song phương và đa phương. Việt
Nam đã gia nhập Hiệp định về thực hiện các quy định của Công ước Liên hiệp quốc
về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) về bảo tồn và quản lý các đàn cá lưỡng cư và đàn
cá di cư xa (UNFSA) năm 1995 vào ngày 18-12-2018 và Hiệp định về các biện pháp
của quốc gia có cảng để ngăn chặn và xóa bỏ IUU ngày 3-1-2019.
Với thực trạng vấn đề IUU hiện nay, Việt Nam có thể bắt đầu nghiên cứu việc
gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan khác như Hiệp định thúc đẩy việc tuân thủ
các biện pháp quốc tế về bảo tồn và quản lý thực hiện bởi tàu cá tại vùng biển quốc
69
tế của FAO năm 1993 và ký kết các thỏa thuận song phương về phòng chống IUU
với các quốc gia láng giềng.
Ngoài ra, vấn đề hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước để tạo ra một cộng
đồng lớn mạnh, uy tín cũng là một vấn đề quan trọng và nan giải. Để làm được điều
này, ngoài việc các doanh nghiệp chủ động hợp tác, chia sẻ, rất cần cơ quan chức
năng, các cấp có thẩm quyền và chính phủ tạo điều kiện và tạo ra các hành lang pháp
lý thuận lợi để hỗ trợ các doanh nghiệp hợp tác với nhau và giải quyết phát sinh giữa
các doanh nghiệp trong quá trình hợp tác.
3.2.2.2. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp nuôi trồng, khai thác, thu gom, chế
biến, xuất khẩu và ngư dân
(i) Đầu tiên, cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhà xưởng máy móc
từng bước hiện đại, đảm bảo các quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng và vệ sinh an
toàn thực phẩm.
Song song với quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm là quy trình kiểm tra,
giám sát chất lượng tại chính các doanh nghiệp chế biến và kiểm soát chặt chẽ của
các cơ quan chức năng: Hiện nay các mô hình kiểm soát chất lượng như VietGAP,
GlobalGAP, ASB, BAP đã trở nên quen thuộc và được nhiều doanh nghiệp áp dụng.
(ii) EU là thị trường rất khó tính, và có rất nhiều doanh nghiệp và sản phẩm cạnh
tranh trực tiếp với doanh nghiệp và hàng thuỷ sản Việt Nam. Vì vậy các doanh nghiệp
xuất khẩu cần tìm hiểu kỹ về nhu cầu, thị hiếu, văn hoá, phong tục, thói quen sử dụng
thực phẩm của EU để có giải pháp phù hợp với thị trường.
Một số giải pháp cần chú trọng:
- Giảm tối đa chi phí, giá thành, các loại thuế phí trung gian để có thể cạnh tranh
tốt nhất: nắm chắc nguyên liệu đầu vào, tìm kiếm đầu vào tối ưu, giá tốt. Giảm thiểu
chi phí trung gian, liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp logistics và phân phối sản
phẩm để tối ưu chi phí hàng hoá. Tìm kiếm các kênh quảng cáo, giới thiệu sản phẩm
mới, hiệu quả hơn nhằm cắt giảm chi phí quảng cáo, marketing.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm, phù hợp khẩu vị, thói quen tiêu dùng của EU, thay
vì tập trung và lượng khách hàng đại chúng, doanh nghiệp có thể xem xét khả năng tấn
công vào các phân khúc thị trường, sản phẩm hẹp hơn để giảm tính cạnh tranh.
70
- Xây dựng thương hiệu Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam để tạo uy tín, niềm tin
đối với người tiêu dùng EU.
- Xây dựng hệ thống đại lý, văn phòng đại diện tại EU để có thể xử lý các đơn hàng,
khiếu nại, và hỗ trợ khách hàng nhanh chóng, tiện lợi.
- Chú trọng đến mẫu mã bao bì, sản phẩm, nhận diện thương hiệu: bắt mắt, ý nghĩa và
quan trọng là bao bì đảm bảo an toàn với người tiêu dùng và bảo vệ môi trường.
(iii) Tích cực, chủ động tìm hiểu thông tin và đối tác tại thị trường EU:
“Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng”, không chỉ với đối thủ cạnh tranh, mà
điều này còn quan trọng đối với đối tác hợp tác và các thông tin của thị trường.
Thực tế, để xâm nhập được vào EU, các doanh nghiệp Việt Nam đã liên kết,
hợp tác với các doanh nghiệp EU để tận dụng hệ thống phân phối và nguồn lực có
sẵn của họ về thị trường này. Vì vậy việc am hiểu về chính đối tác của mình là cần
thiết. Luôn mở rộng kênh trao đổi và tìm kiếm để có thể chọn đối tác phù hợp và uy
tín lâu dài.
Thường xuyên tham gia các buổi toạ đàm trực tuyến hoặc các hội chợ, triển lãm
tại EU để giao lưu gặp gỡ các đối tác tiềm năng và qua các kênh chính thống như
Tham tán thương mại, hiệp hội doanh nghiệp hoặc hiệp hội ngừoi tiêu dùng.
(iv) Chủ động tìm hiểu và khai thác tối đa lợi thế từ các quy định trong Hiệp
định Thương mại tự do Việt Nam – EU
Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cần chủ động tìm hiểu để tận dụng tối
đa lợi ích từ EVFTA.
Để tận dụng có hiệu quả các ưu đãi của EVFTA mang lại các doanh nghiệp cần
chủ động tìm hiểu nội dung của EVFTA đặc biệt là các cam kết liên quan tới thuế
quan và quy tắc xuất xứ, chủ động điều chỉnh quy trình sản xuất, nguồn nguyên liệu
để đáp ứng được quy tắc xuất xứ của Hiệp định, chuyển hướng nguồn nhập khẩu sang
các nguồn nguyên liệu trong nước hoặc từ các nước thành viên EVFTA.
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện, áp dụng EVFTA, doanh nghiệp, ngư
dân, người tiêu dùng cần thuyền xuyên báo cáo phản hồi, kiến ngghị, đề xuất đến các
cơ quan chức năng để có những giải pháp kịp thời và thiết thực.
71
(v) Nâng cao tính cộng đồng giữa các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thuỷ
sản trong nước.
Cần nhớ rằng, ngoài việc cạnh tranh với các đối tác quốc tế, chính các doanh
nghiệp trong nước cũng cạnh tranh lẫn nhau, song song với đó cũng là hợp tác đi
cùng nhau để đưa sản phẩm vào thị trường EU. Tính cộng đồng là một vấn đề đáng
báo động đối với quá trình hợp tác của các doanh nghiệp Việt Nam. Rất nhiều trường
hợp xuất hiện hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, hoặc hợp tác không uy tín.
Vì vậy để có thể tận dụng tối đa nguồn lực mà các doanh nghiệp trong nước có,
các doanh nghiệp cần có tinh thần dân tộc, tinh thần quốc gia thông qua việc hợp tác
uy tín, tôn trọng, cùng có lợi với nhau. Đặt lợi ích cộng đồng, lợi ích chung lên trên.
Các doanh nghiệp nên chủ động đi cùng nhau, phối hợp tạo ra các chuỗi cung
ứng khép kín từ khâu nuôi trồng, thu gom, chế biến, logistics, xuất khẩu, phân phối
sản phẩm. Cùng chia sẻ cơ hội kinh doanh và hỗ trợ nhau khi thị trường gặp khó khăn.
“Muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì đi cùng nhau”, câu danh ngôn này
cần được áp dụng triệt để. Việt phối hợp chặt chẽ, tinh thần hợp tác các bên cùng có
lợi sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu được chi phí, giá thành, đảm bảo lòng tin lẫn nhau
trong các mắt xích của cả một quá trình từ khai thác, nuôi trồng đến xuất khẩu để có
một sản phẩm cuối cùng chất lượng nhất.
72
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp lý thuyết và thực tiễn tại nội dung của chương 1
và chương 2, tại chương 3 này tác giả đã đưa ra các định hướng để phát triển thuỷ sản
Việt Nam một cách bền vững và giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc
trước, trong và sau khi EVFTA có hiệu lực. Đồng thời để tận dụng triệt để các lợi ích
to lớn mà Hiệp định mang lại, tác giả đưa ra các giải pháp căn cơ và bền vững đối với
hai nhóm đối tượng: một là các giải pháp từ phía các cơ quan chức năng liên quan
đến ngành thuỷ sản, hai là giải pháp đối với các doanh nghiệp nuôi trồng, khai thác,
thu gom, chế biến, xuất khẩu và ngư dân.
73
KẾT LUẬN
Đứng trước khó khăn của nền kinh tế toàn cầu do đại dịch COVID-19, một tín
hiệu đáng mừng đã đến, mở ra cơ hội xuất khẩu vào các thị trường mới cho ngành
thủy sản Việt Nam đó là Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu (EU)
và Việt Nam - EVFTA và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA), hai Hiệp định được ký
kết ngày 30/6/2019. EVFTA và EVIPA được phê chuẩn bởi Nghị viện châu Âu vào
ngày 12/2/2020, và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 8/6/2020. Đối với
EVFTA, sau khi được phê chuẩn, Hiệp định này có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2020.
Điều này được các chuyên gia kinh tế đánh giá sẽ tạo đòn bẩy tăng trưởng và là cú
hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng
xuất khẩu, đặc biệt là các hàng mặt thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn
có nhiều lợi thế cạnh tranh.
EU đã và đang là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn thứ 2 của Việt Nam, sau
Mỹ. Thị trường này chiếm 17 - 18% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam;
trong đó sản phẩm tôm chiếm 22%, cá tra 11%, các mặt hàng hải sản 30 - 35%.
EVFTA có hiệu lực, khoảng 50% số dòng thuế sẽ được giảm về 0% và 50% số dòng
thuế còn lại sẽ về 0% sau từ 3 - 7 năm...
Rõ ràng, nhưng lợi ích và cơ hội của ngành thuỷ sản khi EVFTA có hiệu lực là
điều mà các cơ quan chức năng và các doanh nghiệp thuỷ sản đã nhìn nhận thấy. Tuy
nhiên, song hành cùng thuận lợi bao giờ cũng là khó khăn thách thức. Hiểu rõ được
điều này, trong nội dung của luận văn này, tác giả tập trung làm rõ Điểm mạnh, Điểm
yếu, Cơ hội và Thách thức đối với ngành thuỷ sản Việt Nam trước, trong và sau khi
EVFTA có hiệu lực.
Trên cơ sở đó, sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để đề xuất định
hướng phát triển thuỷ sản Việt Nam và các giải pháp căn cơ giúp các cơ quan chức
năng và các doanh nghiệp thuỷ sản, ngư dân tận dụng tối đa lợi ích mà EVFTA mang
lại để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU. Ở đây tác giả tập trung vào các nhóm
giải pháp tận dụng tối đa nguồn lực nội tại, tăng cường chất lượng sản phẩm thuỷ sản,
tăng cường quy trình giám sát quản lý để đảm bảo hàng hoá đạt các tiêu chuẩn khắt
khe, các rào cản kỹ thuật của EU. Bên cạnh đó, tận dụng các nguồn lực từ bên ngoài
74
để tăng khả năng cạnh tranh cho hàng thuỷ sản của Việt Nam như tận dụng kỹ thuật
công nghệ hiện đại từ các doanh nghiệp EU, nâng cao năng suất, giảm chi phí, giá
thành sản phẩm và tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau
và với doanh nghiệp của EU nhằm thúc đẩy quá trình xâm nhập thị trường EU sâu
rộng và mạnh mẽ hơn.
Tác giải đã cố gắng nghiên cứu một cách nghiêm túc, tuy nhiên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót, và số liệu mang tính chất tương đối do nhiều tổ chức kinh
tế và các quốc gia có các kết quả thống kê, cách thức thống kê khác nhau. Ngoài ra,
quá trình tìm hiểu, phân tích từ nhiều nguồn dữ liệu bằng ngoại ngữ cũng còn hạn
chế. Các giải pháp đưa ra có thể chưa toàn diện do phụ thuộc và kiến thức lập luận
và kỹ năng phân tích của tác giải.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của Quý Thầy Cô và bạn đọc.
75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1. Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải, “Giáo trình Kinh tế ngoại thương”, NXB Lao
động xã hội, Hà Nội, Chương 10: Chính sách xuất khẩu;
2. Nguyễn Minh Sơn (2010), “Các giải pháp nhằm thức đẩy xuất khẩu hàng nông sản
của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 2010”, Đại học Kinh tế quốc
dân, Luận án tiến sĩ;
3. Nguyễn Minh Tuấn (2011), “Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU”,
Đại học Kinh tế quốc dân, Luận văn thạc sỹ;
4. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2019), “Hồ sơ thị trường
Đức”, cập nhật ngày 15/11/2019;
5. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2019), “Hồ sơ thị trường Hà
Lan”, cập nhật ngày 15/11/2019;
6. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2019), “Hồ sơ thị trường
Pháp”, cập nhật ngày 15/11/2019;
7. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2019), “Hồ sơ thị trường Ý”,
cập nhật ngày 15/11/2019;
8. Tổng cục hải quan Việt Nam (các năm 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019,
2020), “Niên giám thống kê hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam” (Bản
tóm tắt);
II. Các website tham khảo
1. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực và
tiến trình thực thi trong thời gian tới, Bộ Công thương Việt Nam, tại địa chỉ
website: https://moit.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/hiep-đinh-thuong-
mai-tu-do-viet-nam-eu-evfta-chinh-thuc-co-hieu-luc-va-tien-trinh-thuc-thi-
trong-thoi-gian-toi-20160-402.html, truy cập ngày 6/8/2020.
2. Quốc hội bỏ phiếu thông qua EVFTA, Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam, tại
qua-evfta.html, truy cập ngày 15/6/2020.
địa chỉ website: http://www.vietrade.gov.vn/tin-tuc/5344/quoc-hoi-bo-phieu-thong-
76
3. Quan hệ Việt Nam-ITALIA, Đại xứ quán Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
tại Cộng hoà I-TA-LI-A, tại địa chỉ website: https://vnembassy-
roma.mofa.gov.vn/vivn/bilateralrelationship/Memorable%20Milestone/Trang/de
fault.aspx, truy cập ngày 15/7/2020.
4. Quan hệ Việt Nam-Đức, Đại xứ quán Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại
Cộng hoà Liên bang Đức, tại địa chỉ website:
http://www.vietnambotschaft.org/quan-he-viet-duc/tong-quan-2/, truy cập ngày
15/7/2020.
5. Văn kiện Hiệp định EVFTA, Website chính thức của Hiệp định thương mại tự do
Việt Nam-Liên minh Châu Âu, tại địa chỉ website:
http://evfta.moit.gov.vn/?page=overview&category_id=5c3ae070-26ed-4c49-
b641-5c314a60ce46, truy cập ngày 20/4/2020.
6. Các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản cam kết chống IUU, Hiệp hội chế biến và
thac-iuu/doanh-nghiep-cam-ket-chong-IUU, truy cập ngày 20/5/2020.
xuất khẩu thủy sản Việt Nam, tại địa chỉ website: http://vasep.com.vn/chong-khai-
7. Tổng cục Hải quan ban hành kế hoạch thực hiện EVFTA, Tổng cục Hải quan Việt
Nam, địa chỉ website:
https://www.customs.gov.vn/Lists/TinHoatDong/ViewDetails.aspx?ID=29956&
Category=Tin%20nổi%20bật, truy cập ngày 18/9/2020.
8. Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý I năm 2020, Tổng cục Thống kê Việt Nam,
tại địa chỉ website: https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-
ke/2020/03/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-i-nam-2020/, truy cập ngày
26/4/2020.
9. Văn Thọ, Hiệp định EVFTA được phê chuẩn, cơ hội cho xuất khẩu thuỷ sản, Tổng
cục thuỷ sản Việt Nam, tại địa chỉ website: https://tongcucthuysan.gov.vn/vi-
vn/tin-tức/-tin-vắn/doc-tin/014562/2020-05-29/hiep-dinh-evfta-duoc-phe-chuan-
co-hoi-cho-xuat-khau-thuy-san, truy cập ngày 29/5/2020.
10. Việt Nam-EU (EVFTA), Trung tâm WTO và hội nhập/ Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, tại địa chỉ website: https://trungtamwto.vn/fta/199-viet-
nam--eu-evfta/1, truy cập ngày 05/5/2020.
77
11. Ánh Tuyết và Vũ Thành, EVFTA-cơ hội càng lớn càng nhiều gian nan, Báo Nhân
nhieu-gian-nan-627462/, truy cập ngày 28/4/2020.
Dân, tại địa chỉ website: https://nhandan.org.vn/kinhte/evfta-co-hoi-cang-lon-cang-