
Hội họa cổ điển Trung Hoa trong
Hồng Lâu Mộng

I. Dẫn nhập Hồng Lâu Mộng là một trong “tứ đại kỳ thư” của văn học cổ điển
Trung Hoa. Với hàng ngàn trang sách, 120 hồi, hơn 600 nhân vật, Hồng Lâu Mộng
tạo dựng riêng cho mình một thế giới, nơi đó có con người, gia đình, tình yêu, văn
hóa, phong tục, triết lý… Có thể nói, Hồng Lâu Mộng là một bức tranh thu nhỏ
của tâm hồn Trung Hoa. Chính vì thế, ta có thể thông qua Hồng Lâu Mộng, hiểu
thêm nhiều về con người, văn hóa và phong tục Trung Quốc ngày xưa. Văn học
Trung Hoa truyền thống không tách rời thi- thư- họa. Lịch sử văn chương Trung
Hoa đã từng chứng kiến những danh tác trong đó bóng dáng của nhiều loại hình
nghệ thuật khác nhau soi vào văn chương. Các thi sĩ đồng thời là các họa gia, thư
pháp gia lỗi lạc. Trong thơ của họ có họa và trong họa của họ có thơ. Nếu họ
không là họa sĩ thì họ cũng mang cái hồn, bút pháp của hội họa vào trong thơ ca.
Đối với Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần đã rất khéo léo đưa nghệ thuật hội họa cổ
điển Trung Hoa vào tác phẩm. Tào Tuyết Cần vừa xiển dương cho nghệ thuật hội
họa có gần 3000 năm lịch sử của dân tộc Trung Hoa, vừa làm sống dậy tình yêu
hội họa của người Trung Quốc thông qua các nhân vật trong tác phẩm của mình.
Qua đây, ông còn thể hiện quan điểm và những hiểu biết của mình về nghệ thuật
hội họa truyền thống.Trong bài viết này, tôi chỉ đọc Hồng Lâu Mộng từ góc nhìn
của hội họa cổ điển Trung Quốc, vừa để thông qua hội họa hiểu hơn về Hồng Lâu
Mộng và ngược lại qua Hồng Lâu Mộng để tìm hiểu thêm về hội họa cổ điển
Trung Hoa.
II. Nội dung1. Toàn cảnh hội họa cổ điển Trung Hoa trong Hồng
Lâu MộngTào Tuyết Cần là một tài tử, tuy số phận long đong nhưng đời sống và
tâm thế luông phóng khoáng, tự tại. Những trang sách Hồng Lâu Mộng chứng tỏ
Tào Tuyết Cần là người rất ham thích và hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật hội họa
cổ điển và nhiều loại hình nghệ thuật khác như hý khúc, đánh thơ, đố đèn, kiến
trúc… Để vừa chuyển tải được hầu như các loại hình tiêu biểu của nghệ thuật

truyền thống Trung Hoa, vừa xây dựng một tiểu thuyết “cận nhân tình”, ngòi bút
Tào Tuyết Cần hiển nhiên phải trải đều và chừng mực cho từng loại hình nghệ
thuật. Đối với hội họa, Tào Tuyết Cần chỉ duy nhất một lần bình phẩm trong hồi
thứ 42 thông qua nhân vật Tiết Bảo Thoa khi cùng các chị em trong vườn Đại
Quan thảo luận về việc Tích Xuân sẽ vẽ bức tranh Đại Quan Viên theo lệnh của
Giả Mẫu. Những lần xuất hiện khác của hội họa trong Hồng Lâu Mộng thường là
chỉ nhắc đến tên bức họa, tên tác giả hoặc thảng có mô tả hay bình luận đôi câu về
bức họa. Thế giới Hồng Lâu Mộng là thế giới đài các, phong lưu nên việc xuất
hiện của tranh góp phần làm nền cho thế giới đó. Rất nhiều lần, Tào Tuyết Cần tả
những bức tranh treo trong phòng của các nhân vật. Chẳng hạn, trong hồi thứ 5,
tác giả nhắc đến bức tranh Nhiên lê đồ trong phòng khách của nhà Tần thị và bức
tranh Hải đường xuân thụy của Đường Bá Hổ trong khuê phòng Tần thị. Ở hồi thứ
26, trong câu chuyện giữa Tiết Bàn và Giả Bảo Ngọc, Tiết Bàn có nhắc đến Xuân
cung họa của Đường Dần đời Minh. Hồi thứ 40, tác giả nhắc đến bức Yên vũ đồ
của Mễ Tương Dương trong phòng Thám Xuân. Hồi thứ 50, nhân việc Bảo Cầm
cầm nhành mai đứng dưới tuyết, Tào Tuyết Cần nhắc tới bức tranh Song diễm đồ
trong phòng Giả Mẫu. Hồi thứ 89, Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc nói chuyện về
bức Đấu hàn đồ của Lý Long Miên treo trong Tiêu Tương quán của Đại Ngọc.Sự
xuất hiện của hội họa trong Hồng Lâu Mộng không phải là nhiều nhưng nó lại
chính là dụng công của ngòi bút Tào Tuyết Cần. Chỉ vài lần xuất hiện, nhưng mỗi
lần hội họa đều góp phần tạo nên thần thái cho văn chương , tạo phông nền và
không khí trang nhã cho tác phẩm.2. Bàn về nghệ thuật hội họa cổ điểnBạn
thân của Tào Tuyết Cần là Trương Nghi Tuyền trong lời đề tựa “Thương Cần Khê
cư sĩ” có viết: “Ông tính tình khoáng đạt, thích uống rượu, lại giỏi thi họa, chưa
được ngũ tuần thì đã mất”. Lời phát biểu này của người đồng thời với Tào Tuyết
Cần chứng tỏ đương thời ông là một danh sĩ, am hiểu nhiều lĩnh vực nghệ thuật.
Điều này càng chứng tỏ rõ hơn qua hồi thứ 42 Hồng Lâu Mộng, khi tác giả để
nhân vật của mình lên tiếng bàn về nghệ thuật vẽ tranh.Tào Tuyết Cần đã rất khéo
léo, thông qua nhân vật Tiết Bảo Thoa để nói lên những điều tâm đắc và hiểu biết

của mình về hội họa. Giả Mẫu, nhân một lần cao hứng đã đề nghị Tích Xuân, vốn
là người thích vẽ tranh, vẽ bức tranh phong cảnh ghi lại toàn bộ khu vườn Đại
Quan. Tích Xuân vốn chỉ hay vẽ những bức tranh phong cảnh nhỏ, nay đứng trước
một tác phẩm lớn như vậy rất là lúng túng. Tiết Bảo Thoa là người học rộng biết
nhiều đã chỉ ra hướng đi cho Tích Xuân: “…Con bé Ngẫu Tạ tuy biết vẽ, nhưng
cũng chỉ vẽ được mấy nét tả ý thôi. Bây giờ vẽ cái vườn, nếu trong bụng không có
một hiểu biết rộng thì vẽ sao nổi. Cái vườn này cũng giống như bức tranh, nào là
đá núi, cây cối, nào là lâu đài nhà cửa, gần xa, thưa nhặt, đừng ít quá mà cũng
đừng nhiều quá mà phải đúng mức. Nếu cứ thế vẽ lên trên giấy thì đẹp làm sao
được. Phải xem khuôn khổ tờ giấy, nên để xa gần, nhiều ít thế nào, nên chia phần
chính phụ ra sao, chỗ nào đáng thêm thì thêm, chỗ nào đáng bỏ, đáng bớt thì bỏ đi,
bớt đi, cái gì đáng để lộ mới để lộ. Bắt đầu phải vẽ phác rồi ngắm nghía tính toán
cẩn thận, mới thành được bức vẽ. Điều thứ hai là , lâu đài nhà cửa cũng phải chia
giới hạn, sơ ý một tí là bao lan cũng lệch, cột cũng nghiêng, cửa sổ sẽ dựng đứng
lên, thậm chí bàn ghế cũng chen lên tường, chậu hoa bày ở trên bàn… Điều thứ ba
là phải xếp đặt nhân vật thưa hay nhặt, cao hay thấp, đều cho đúng chỗ. Nếp quần,
dây lưng, ngón tay, bước chân cũng rất quan trọng; nếu sai một nét, không sưng
tay cũng hóa kiễng chân, đến như bộ mặt mái tóc chỉ là việc nhỏ…”[1]Lời phát
biểu trên của Bảo Thoa chứng tỏ Tào Tuyết Cần rất am hiểu về việc vẽ tranh.
Người họa sĩ muốn vẽ được bức tranh lớn trước tiên phải “hiểu biết rộng”. Những
hiểu biết ở đây theo Tào Tuyết Cần chính là những hiểu biết về kỹ thuật và
phương pháp vẽ tranh. Bảo Thoa đã lần lượt nói về các quy tắc trong hội họa cổ
điển, trước tiên là việc tổ chức bố cục. Không phải đến hội họa phương Tây, người
ta mới quan tâm đến bố cục. Hội họa truyền thống Trung Hoa, từ rất sớm đã quan
tâm đến điều này. Trương Sam Viễn đời Đường, trong “Lịch đại danh họa ký” đã
viết: “Tổ chức bố cục là điều quan trọng nhất của hội họa”. “Cổ họa phẩm lục”
của Tạ Hách người Nam Tề thế kỷ thứ 5 đã đề ra “lục pháp luận” là sáu phép căn
bản của hội họa cổ điển Trung Hoa. “Thứ nhất, phải tạo được sắc thái và không
khí sống động như thật, thứ hai, dựng được cấu trúc bằng nét bút; thứ ba, tả được

hình tướng của sự vật cho đúng là chúng; thứ tư, màu sắc cho thích hợp; thứ năm,
bố cục; thứ sáu, sao chép của người đi trước”[2]. Quy chiếu sáu phép căn bản của
hội họa cổ điển này vào lời phát biểu của Bảo Thoa, ta thấy rõ rằng Tào Tuyết Cần
đã rất chú trọng đến bố cục và hình tướng của sự vật trong việc vẽ tranh. Bố cục là
quan trọng khi vẽ tranh như Đại Quan Viên nên “phải chia giới hạn, định phần
chính phụ, nên xem chỗ nào cần bớt đi thì bớt đi, chỗ nào cần để lộ mới để
lộ”.Bảo Thoa cũng nhắc tới việc vẽ lâu đài, núi đá nên chú ý đến gần xa, thưa nhặt.
Đây chính là phép viễn cận, một trong những phép quan trọng của vẽ tranh phong
cảnh. Quách Hy, người đời Tống, trong sách “Lâm Tuyền cảo chí” hướng dẫn tỉ
mỉ về cách vẽ tranh, trong đó có đề cập đến luật viễn cận: “Từ dưới thấp nhìn lên
là “cao viễn”, từ bên trong rìa núi nhìn ra là “thẩm viễn”, còn nhìn dõi về phía xa
là “bình viễn”… Cao viễn cho thấy được độ cao lớn, thẩm viễn lột tả được các lớp
lang phức tạp, và bình viễn trình bày được cảnh xa nhẹ nhàng tan vào khoảng
không vời vợi. Trong phép thứ nhất, hình người nhìn thấy sáng mà rõ; trong phép
thứ hai, chúng có vẻ lúc ẩn lúc hiện, trong phép thứ ba, hình người chỉ nhẹ nhàng
mờ nhạt mà thôi…Đó là ba phép viễn cận vậy”[3]Trong điều thứ hai, Bảo Thoa đề
cập đến việc vẽ lâu đài nhà cửa phải phân chia giới hạn. Đây chính là quy tắc của
giới họa, một loại tranh cổ điển Trung Hoa. Các họa sĩ khi vẽ tranh giới họa sẽ
dùng bút hoặc thước để đo đạc rồi phác họa thành tranh. Thường thì, tranh giới
họa hay vẽ nhà cửa lâu đài và miêu tả một cách tỉ mỉ nên gọi là “công bút giới
họa”. “Công bút đồ” cũng là một loại tranh được vẽ một cách tỉ mỉ, chăm chút
từng chi tiết nhỏ. Giới họa có lịch sử rất lâu đời, từ thế kỷ thứ IV và phát triển cho
đến tận ngày nay. Đời nhà Thanh, các họa gia cung đình như Viên Giang, Viên
Diệu… là những họa gai có các tác phẩm giới họa nổi tiếng. Ắt hẳn, không khí
thời đại đã ảnh hưởng không ít đến nhãn quan của Tào Tuyết Cần. Có thể nói, bức
tranh Đại Quan Viên của nhà họ Giả sẽ là một bức “công bút giới họa đồ”, nếu
chiếu theo cách
thức thực hiện mà Bảo Thoa đã đề xướng. Tiếp đó, Bảo Thoa và Bảo Ngọc lại
bàn đến chất liệu và dụng cụ để vẽ tranh. Đoạn bàn luận này càng chứng tỏ Tào

