HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG
VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC INVIVO
CÁC CHPHẨM THUỐC
Sinh khdụng biểu thị tốc độ và mức độ hấp thu của dược chất từ chế phẩm thuốc
vào h tuần hoàn. Hai chế phẩm được coi tương đương sinh học nếu sinh khả
dụng khác nhau không đáng kkhi dùng cùng mức liều trong cùng điều kiện thử
nghiệm.
Mức độ hấp thu dược chất từ các chế phẩm dùng đường uống hoặc dùng tại chỗ có
thbị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến quá
trình hấp thu như kỹ thuật sản xuất, kích thước hạt, dạng tinh thể của dược chất, các
dược như: dược độn, dính, rã, trơn, bao, dược làm tăng độ tan, dược y
tác dụng kéo dài... Sinh khdụng là một chỉ squan trọng đảm bảo chất lượng thực
của sản phẩm, tương đương sinh học sở chủ yếu để đảm bảo độ đồng nhất
về chất lượng của cùng một dược chất giữa các chế phẩm khác nhau. Hai khái niệm
này th không hoàn toàn giống nhau, nhưng về phương pháp th nghiệm thì
tương tự. Hướng dẫn này đưa ra một số nguyên tắc bản trong đánh giá sinh khả
dụng tương đương sinh học để thu được kết quả tin cậy. Chế phẩm thuốc cần
phải đánh giá sinh khả dụng tương đương sinh học hay không tuỳ thuộc vào quy
định của các cơ quan quản lý.
Những yêu cầu cơ bản của phương pháp phân tích mẫu sinh học.
Các phương pháp sắc ký, như sắc lỏng hiệu năng cao (HPLC), sắc khí (GC)
và các kthuật phối hợp, GC - MS, LC - MS, những phương pháp tốt nhất được
sdụng trong nghiên cứu sinh khả dụng đánh giá tương đương sinh học. Những
phương pháp này tính đặc hiệu cao; khả năng tách định lượng trên cùng
một hệ thống và cùng thi điểm. Nếu chọn được một detector độ nhạy thích hợp
sđáp ứng được yêu cầu phân tích các loại mẫu sinh học. Trong một số trường hợp,
có thsử dụng phương pháp phân tích sinh hóa và sinh học nếu cần.
Do quá trình phân tích mẫu sinh học bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như lượng mu
ít, nồng độ thấp, lẫn nhiều tạp chất là các chất nội sinh (các muối , lipid,
protein chất chuyển hoá) và skhác nhau giữa các thể, nên phương pháp phân
tích phải được thiết lập và thẩm định để đảm bảo độ tin cậy.
1. Tính đặc hiệu: phải chứng minh được rằng chất xác định được dược chất
hay chất chuyển hoá tác dụng. Sự phân tích mẫu không bị ảnh hưởng bởi
các cht nội sinh và chất chuyển hoá liên quan. Báo cáo kết quả phải bao
gồm cả sắc ký đồ của mẫu trắng (dịch sinh học), mẫu chất chuẩn pha trong
dịch sinh học và mẫu thử thu được sau khi dùng thuốc.
2. Đường chuẩn và khoảng tuyến nh: Mối quan hệ giữa đáp ứng với nồng độ
của chất phân tích phải được đánh gbằng phương trình hồi quy, thu được
bằng phương pháp phân tích hồi quy (như phương pháp bình phương nh
nhất). Khoảng tuyến tính là khoảng nồng độ từ thấp nhất đến cao nhất trong
một đường chuẩn. Trong khoảng này, phép phân tích phải thoả mãn các yêu
cầu về độ đúng và độ chính xác theo qui định.
Đường chuẩn nên ít nhất 5 nồng độ của chất chuẩn pha trong cùng một
mẫu dịch sinh học. Khoảng tuyến tính phải bao gồm toàn bkhoảng nồng độ
của các mẫu cần phân tích. Không nên xác định nồng độ mẫu thử dựa trên
điểm ngoại suy của khoảng tuyến tính. Đường chuẩn sẽ không bao giờ
điểm “0”
3. Độ đúng độ chính xác: Độ đúng độ chính xác được xác định cùng lúc
bằng cách sử dụng 3 nồng độ của mẫu cần kiểm tra, 1 nồng độ gần với giới
hạn nhỏ nhất của phương pháp định lượng (LOQ); 1 nồng độ gần với điểm
giới hạn trên của đường chuẩn và 1 nồng độ gần điểm giữa. Mỗi nồng độ
phải được xác định trên ít nhất 5 mẫu.
Độ chính xác thể được biểu thị độ lệch chuẩn tương đối (RSD) trong
ngày giữa các ngày, được xác định trên mu chuẩn đối chứng. Nói chung,
RSD không nên vượt quá 15%, riêng điểm gần giới hạn định lượng cho phép
không vượt quá 20%.
Độ đúng được biểu thị là khnăng tiến tới gần nồng độ thực nhất của chất
phân tích trong mẫu sinh học được xác định bằng phương pháp đặc biệt.
Điều đó thể được biểu thị bằng khả năng tìm lại tương đối, và phải nằm
trong khoảng 85-115%, nhưng thể chấp nhận 80-120% đối với điểm gn
giới hạn định lượng.
4. Giới hạn định lượng: Giới hạn định lượng, hay còn gọi là đnhạy, là nồng
độ thấp nhất của đường chuẩn thể xác định được với độ đúng độ chính
xác cho phép. Giới hạn định lượng ít nhất phải thoả mãn khnăng phân tích
nồng độ của mẫu thử lấy thời điểm bằng 3-5 lần thời gian bán thải hoặc
bằng 1/10 đến 1/20 giá trị Cmax của chất phân tích.
5. Độ ổn định của mẫu th: Độ ổn định của mẫu sinh học chứa chất cần
phân tích cần được khảo sát khi bảo quản nhiệt độ phòng, đông lạnh trong
khoảng thời gian khác nhau để xác định điều kiện bảo quản và thi gian bảo
quản mẫu sau khi lấy.
6. Hiệu xuất chiết: Khnăng tìm lại sau khi chiết được đánh giá với ít nhất 3
nồng độ: cao nhất, trung bình thấp nhất của đường chuẩn. Chỉ tiêu giới
hạn có thể tham khảo những tài liệu liên quan.
7. Mẫu chuẩn đối chiếu (QC): Mẫu chuẩn đối chiêú được dùng để so nh khi
định lượng là những mẫu tự tạo biết trước nồng độ, chuẩn bị bằng cách pha
chất chuẩn của chất cần phân tích trong mẫu sinh học trắng.
8. Phân tích mẫu thử: Định lượng các mẫu thử bằng phương pháp phân tích đã
được thẩm định. Mỗi mẫu thử có thể phân tích 1 lần hoặc lặp lại nếu cần. Với
mỗi mẫu phân tích sinh học (các mẫu phân tích cùng một thời gian trong
một buổi hoặc ngày), nên thiết lập một đường chuẩn mới để phân tích và
dùng c mẫu QC với 3 nồng độ (thấp, trung bình cao) đ định lượng
đồng thời trong mỗi phân tích. Nói chung, độ lệch giữa các kết quả của
mẫu chuẩn đối chiếu không được quá 20%.
Qui định chung:
1. Lựa chọn người tình nguyn:
Tiêu chuẩn: trong nghiên cứu sinh khả dụng tương đương sinh học, đa số
trường hợp thường chọn người tình nguyện là nam giới khoẻ mạnh. Một số
trường hợp cần thiết thể dùng đối tượng là phnữ, khi đó cần giải thích rõ.
Với thuốc dùng cho tr em, vẫn nên chọn người lớn để thử nghiệm. Các tiêu
chuẩn cụ thể như sau:
a, Gii tính: Nam hoặc nữ
b, Tuổi: thông thường từ 18 40 tuổi. Trong cùng một nhóm nghiên cứu,
giữa các cá thể khác nhau không quá 10 tuổi.
c, Trọng lượng thể: trọng lượng thể tiêu chuẩn 10%, trọng lượng
thcủa các cá thể trong cùng nhóm nghiên cứu nên gần giống nhau. Đơn vị khối
lượng là kg.
d, Người tình nguyện phải khoẻ mạnh, không tiền sử vbệnh tim mạch,
bệnh gan, bệnh đường tiêu hoá, bệnh chuyển hoá không bình thường hoặc bệnh
vhệ thần kinh. Phải kiểm tra sức khoẻ bao gồm các chỉ tiêu: khám lâm sàng
tổng quát, huyết áp, nhịp tim, chức năng gan, thận, phổi và công thức máu, tất cả