
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y DƯỢC HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH
DƯỢC LÝ
(Lưu hành nội bộ)

2 | TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ|

GIÁO TRÌNH DƯỢC LÝ
| 3
BÀI 1. DƯỢC LÝ ĐẠI CƯƠNG
MỤC TIÊU
1. Trình bày được những khái niệm cơ bản về thuốc, số phận của thuốc
trong cơ thể, những yếu tố ảnh hưởng tác dụng của thuốc (về phía thuốc, về
phía cơ thể)
2. Trình bày được các cách tác dụng của thuốc, từ đó bước đầu hiểu
được mặt lợi, mặt hại của sự phối hợp thuốc
3. Qua hai mục tiêu trên bước đầu trình bày được điều cần thiết để sử
dụng thuốc an toàn và hợp lý
NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM VỀ THUỐC
1.1. Khái niệm về thuốc:
Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích
phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý
cơ thể.
Bao gồm có thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vaccin, sinh
phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng.
1.2. Khái niệm về thực phẩm chức năng:
Những năm gần đây, nhờ những thành tựu mới của công nghệ sinh học
(CNSH), một số nước đã tạo ra được các loại thực phẩm thuốc (alicaments)
hay còn gọi là thực phẩm chức năng (functional food). Các nước Tây Âu gọi
đây là dược phẩm dinh dưỡng (nutraceutics) hay thực phẩm bổ sung dinh
dưỡng (food suplement), còn Trung Quốc gọi là thực phẩm bổ dưỡng bảo vệ
sức khoẻ.
Đó là loại thực phẩm không chỉ cung cấp dinh dưỡng cơ bản mà còn có
chức năng phòng chống bệnh tật và tăng cường sức khỏe nhờ các chất chống
oxy hóa (beta-caroten, lycopen, lutein, vitamin C, vitamin E...), chất xơ và
một số thành phần khác. Các loại thực phẩm này không phải là thuốc, mà
nằm ở ranh giới giữa thức ăn và thuốc chữa bệnh.
Loại thực phẩm chức năng được kể đến đầu tiên là những thực phẩm
mà khi ở dạng tự nhiên đã có những hoạt chất có lợi với lượng lớn. Tiếp đó

4 | TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ|
là nhóm thực phẩm có ít hoạt chất hơn, phải bổ sung hoặc tinh chế cô đặc lại
được bào chế ở dạng dễ sử dụng (viên nang, viên nén, dung dịch uống,...)
hay gây biến đổi gene để tăng hàm lượng một số chất có lợi.
Tuy nhiên, không được lạm dụng và coi thực phẩm chức năng như một
“thần dược” chữa bệnh, tăng cường sức khoẻ. Thực ra, một chế độ ăn cân
đối sẽ có lợi hơn một chế độ ăn có nhiều thực phẩm chức năng nhưng không
cân đối. Chính việc quan trọng hóa vai trò phòng chống bệnh của loại thực
phẩm này đã gây bối rối và nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Thực phẩm chức năng cũng như bất cứ sản phẩm nào khác đều phải
dùng đúng chỉ định, theo khuyến cáo thì mới mang lại tác dụng cao nhất.
Hiện nay trên thị trường Việt Nam xuất hiện rất nhiều sản phẩm thực
phẩm chức năng với nhiều nguồn gốc khác nhau, vì vậy nên chọn mua
những thương hiệu sản phẩm có uy tín và đọc kỹ các thông tin xác nhận về
lợi ích cho sức khỏe.
+ Một số thực phẩm chức năng do Việt Nam sản xuất trên cơ sở ứng
dụng CNSH để nâng cấp công nghệ cổ truyền: Pantocrin từ nhung hươu sao
Việt Nam, rượu Tam xà, rượu Tắc kè, rượu Hải sâm; viên nang Hải sâm (từ
hải sâm), Rabiton và Rabitam (từ rắn biển), Hagaton (từ hải long, cầu gai)...
+ Một số thực phẩm chức năng do nước ngoài sản xuất có mặt tại thị
trường Việt Nam:
- Từ Trung Quốc: Hải văn huyết nguyên (chế biến từ con ốc vằn),
Tinh hoa khẩu phục dịch (dung dịch uống từ hoạt chất có cấu trúc phân tử 1-
6 fructose diphotphat), Dung dịch cường lực sĩ (thuốc bổ thận), Viên nang
ngự lộc tinh (từ máu hươu + giao cổ lan + phục linh), chế phẩm Khang Thai
(sản phẩm hợp tác Mỹ - Trung Quốc dùng cho vận động viên - VĐV)...
- Ngoài ra còn xuất hiện một số loại thực phẩm chức năng được nhập
từ Pháp và Hàn Quốc như: Ribozinc, Stimol, Belaf... cung cấp cho cơ thể
các nguồn bổ sung vitamin, khoáng chất.
1.3. Nguồn gốc dược phẩm
- Thực vật: Morphin lấy từ nhựa cây thuốc phiện, quinnin từ vở thân
cây Quinquina, Atropin từ cà độc dược

GIÁO TRÌNH DƯỢC LÝ
| 5
- Động vật: Insulin từ tuỵ tạng, Progesteron từ tuyến sinh dục, huyết
tương khô, các vaccin các huyết thanh và globulin miễn dịch các Vitamin A,
D từ dầu gan cá thu,...
- Khoáng vật: Kaolin, iod, Magnesi, sufat....
- Các thuốc tổng hợp: Sulfamid, ether, procain, Cloroquin....
1.4. Liều lượng thuốc
Thuốc có tác dụng phòng và chữa bệnh nhưng với liều cao vượt mức
chịu đựng của người bệnh thì thuốc trở lên độc, giữa liều điều trị và liều độc
có một khoảng cách gọi là “Phạm vi điều trị”.
Trong thực tế người ta định liều theo hai cách:
- Theo thời gian sử dụng thuốc (Liều 1 lần, liều 1 ngày, liều 1 đợt điều
trị)
- Theo tác dụng của thuốc (Liều tối thiểu, liều trung bình, liều tối đa,
liều độc,...)
1.5. Quan niệm về dùng thuốc
Thuốc không phải là phương tiện duy nhất để phòng và chữa bệnh,
nhiều bệnh không cần dùng thuốc vẫn khỏi. Thuốc nào cũng có tác dụng
không mong muốn của nó (ngay với liều lượng thường dùng) nếu dùng liều
cao thì thuốc nào cũng độc “sai một ly đi một dặm” nên người thầy thuốc cần
rất tỷ mỉ cẩn thận trong tất cả mọi khâu, đọc kỹ nội dung nhãn thuốc và tờ chỉ
dẫn, tránh nhầm lẫn, tránh dùng thuốc mất phẩm chất, quá tuổi thọ, tránh
dùng sai liều lượng và khi dùng phải cân nhắc kỹ cho điều trị cụ thể từng
người bệnh, chứ không phải là đơn thuần chữa một loại bệnh chung chung.
Cơ chế tác dụng của thuốc rất phức tạp, khỏi bệnh là kết quả tổng hợp
của thuốc cùng với săn sóc của hộ lý, chế độ dinh dưỡng môi trường xung
quanh, giải trí, rèn luyện..... vì vậy muốn đạt hiệu quả cao, cần phải chú ý tới
mọi mặt đó tức là phòng bệnh và điều trị toàn diện, chứ không phải cứ nói
đến bệnh là nghĩ ngay đến thuốc.
Dùng thuốc rồi, người thầy thuốc vẫn phải theo dõi người bệnh để xem
thuốc có gây trở ngại gì không? Khi thầy thuốc có tác dụng phụ đặc biệt, cần
phải phản ánh ngay lên tuyến trên để xử lý kịp thời.

