Hướng dẫn sử dụng phân bón cho cây
thanh long
Cây thanh long có nguồn gốc
nhiệt đới, chịu hạn giỏi,
nhưng không chịu được giá
lạnh. Chúng dễ sống, dễ
trồng, mọc được trên nhiu
loại đất khác nhau như đất
xám bạc màu (Bình Thuận),
đất phèn (ĐBSCL), đất đỏ
(Long Khánh, Đồng Nai)….
Thanh long kh ng thích ứng với các đất độ chua (pH) rất khác nhau,
nhưng do xuất xứ từ vùng khạn nên pH gần trung tính (trên dưới 6) sẽ thích
hợp hơn cho cây. Chất lượng thanh long phụ thuộc nhiều vào phân bón, nếu chế
độ bón phân giàu đạm ít kali thường cho trái có độ ngọt kém, mau hư thối, khó cất
trvà vận chuyển. Ngược lại chế độ bón phân cân đối đạm và kali hoặc giầu kali
s cho trái độ ngọt cao n, trái cứng chắc lâu thối, dễ cất trữ, vận
chuyển. Tuy nhiên, chế độ phân bón tốt phải bao gồm cả việc cung cấp cân đối
giữa phân hữu vô cơ; cân đối giữa c thành phần dinh dưỡng đa lượng
NPK; cân đối giữa dinh dưỡng đa lượng, trung lượng và vi lượng.
Cũng giống như những cây ăn quả khác, cây thanh long ở thời kỳ kiến thiết cơ bản
(KTCB) có nhu cầu phân bón khác so với cây thời kỳ kinh doanh (KD). Thời kỳ
này cây cần được ra rễ sớm, phát triển bộ rễ tốt, làm sở cho việc huy động dinh
dưỡng, giúp cây sinh trưởng nhanh khỏe, sớm bước vào thời kkinh doanh. nên
việc bón lót phân chuồng hoai mục, hoặc phân hữu cơ giầu humat (phân hữu cơ
sản xuất từ than n) trước khi trồng là rất cần thiết. Bón lót một lượng vôi hay
phân lân nung chẩy cũng là một biện pháp rất tốt và rất cần thiết, giúp điều chỉnh
pH đất v giá trthích hợp cho cây sinh trưởng như đã nói trên. Mặc dù phân
hữu vôi cũng cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây (canxi, magie, các
nguyên tvi lượng) nhưng ta chỉ gọi chúng là các chất cải tạo đất. Chúng ta vẫn
phải coi phân NPK là loại phân chyếu, cần phải cung cấp cho cây từng thời kỳ
khác nhau.
Thời kKTCB cần tỷ lệ đạm và lân cao, kali trung bình hoc thấp, vì lúc này
cây chsinh trưởng thân cành và brễ mà chưa cho quả. Trước khi trồng thanh
long, nếu muốn cây tốt lâu bền, ta cần tạo cho cây một “bồn dinh dưỡng” quanh
gốc càng rng và sâu mầu càng tốt. Tất nhiên “bồn” rộng nhất cũng chỉ đến mức
bề rộng dkiến của tán cây sau này mà thôi. Trong bồn này ta bón phân hữu cơ
vôi, đồng thời trộn đều với đất. Độ sâu lớp đất trong bồn nên t 25-30 cm. ĐpH
đất trong bồn nên điều chỉnh lên khoảng 5,5-6,5. Nhưng để tránh đầu 1 lần gây
tốn kém không cần thiết, ta có thể mở rộng bn hàng năm tùy theo sức sinh trưởng
của tán cây.
Thời kỳ kinh doanh, cây vừa sinh trưởng rất mạnh, vừa ra hoa, ra trái nên cần rất
nhiều dinh dưỡng. Ngoài việc phải bón phân hữu vôi hàng m, ta còn phi
bón một lượng phân NPK theo các thời kỳ khác nhau. Trong thời gian nuôi cành,
tạo tán, cây cần được bón các loại phân NPK có tỷ lệ đạm cao, lân vừa phải và kali
thấp. Khi cây cần phân hóa mầm hoa ta bón phân hàm lượng đạm trung bình,
lân cao và kali trung bình. Để thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa và ra hoa d
dàng người ta còn phun bổ sung loại phân bón lá có hàm lượng lân và kali cao như
6-30-30 hay MKP (mono-potassium phosphate). ớc sang giai đoạn nuôi trái ta
bón phân có hàm lượng đạm và kali cao, lân thấp.
Để tạo thuận lợi cho bà con nông dân sdụng phân bón đúng, vừa qua Xí nghiệp
Phân bón Chánh Hưng (thuộc Công ty Phân bón Miền Nam hiệu “CON Ó”) đã
phối hợp với Trung tâm Nghiên cu Phát triển Thanh Long Bình Thuận xây
dựng một số công thức phân bón chuyên dùng cho thanh long. Cách sdụng loại
phân chuyên này như sau:
Với thanh long thời kỳ KTCB:
Năm thứ nhất: Bón 1kg/trphân khoáng hữu + 0,5kg/trphân trung lượng TL
(Chánh Hưng) 2 lần, vào trước khi trồng và 6 tháng sau trồng. Bón phân NPK 20-
20-15 (Chánh Hưng) với liều 80g/trụ vào lúc 1 tháng sau trồng, sau đó định kỳ
1 tháng/lần.
Năm th 2: Bón 1,5kg/trụ phân khoáng hữu + 1kg/trụ phân trung lượng TL
(Chánh Hưng) 2 lần, vào đầu và cuối mùa mưa. Bón phân NPK 20-20-15 (Chánh
Hưng) với liều 150g/trụ theo định kỳ 1 tháng/lần.
Với thanh long thời kỳ KD:
Bón 2kg/tr phân khoáng hữu + 1-1,5kg/tr phân trung lượng TL (Chánh
Hưng) 2 lần, vào đầu và cuối mùa a.
Bón 2 loại phân chuyên dùng cho thanh long là Thanh Long 1.4 (17-17-17 TL)
Thanh Long 5.8 (18-10-18 TL) theo các thời kỳ.