
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ DỰ ÁN
CUNG CẤP ĐIỆN CỦA MỘT SỐ KHU DÂN CƯ MỚI TẠI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
INVESTIGATION AND EVALUATION THE EFFECT OF INVESTIMENT
POWER SUPPLY IN SOME NEW RESIDENTIAL AREAS IN DA NANG
LÊ KIM HÙNG
Đại học Đà Nẵng
NGÔ TẤN CƯ
Học viên Cao học khoá 2004-2007,
Chuyên ngành Mạng và Hệ thống điện
TÓM TẮT
Thành phố càng đẩy nhanh công tác chỉnh trang đô thị thì việc hình thành các khu dân cư
(KDC) mới ngày càng nhiều. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: đường giao thông, cấp
nước, cấp điện là vấn đề được nhiều ngành quan tâm. Việc cấp điện sao cho vừa đảm bảo
cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân và phù hợp với nguồn vốn đầu tư là vấn đề hiện đang
được ngành điện hết sức cân nhắc. Bài báo này đánh giá hiệu quả đầu tư và vận hành các
công trình điện đã xây dựng tại các KDC. Đây là công việc cần thiết trong giai đoạn các Công
ty điện lực chuẩn bị chuyển sang cổ phần hoá hiện nay.
ABSTRACT
The more the renewal of Danang is sped up, the more new residential areas are constructed in
this city. Investment and construction of infrastructure, such as road, water network, electrical
network, and so on are receiving more concern. Supplying electricity to satisfy demand of
production and people’s life and in accordance with investment capital is a matter of great
concern of Danang Power Company. This paper investigates and evaluates the effect of
investment and operation of power supply projects in these residential areas. This task is
essential when the power companies are preparing for conversion into joint-stock enterprises.
1. Đặt vấn đề
Từ năm 1999 đến năm 2006 dân số Thành phố Đà Nẵng tăng thêm 149.154 người, đến
cuối năm 2006 dân số Thành phố là 834.000 người với mật độ 663 người/km2, mật độ dân số
tăng thêm 117,85 người/km2. Trong thành phố đã hình thành thêm 1 đơn vị hành chính cấp
Quận mới, nhiều khu đô thị mới được khởi công xây dựng, các KDC mới xuất hiện ngày càng
nhiều, đã có hơn 300 KDC được xây dựng và đưa vào sử dụng.
Hệ thống cung cấp điện (HTCCĐ) do rất nhiều đơn vị làm chủ đầu tư,... tổng số vốn đã
giải ngân cho các hệ thống điện này lên đến hàng trăm tỉ đồng. Do quá nhiều chủ đầu tư như
vậy nên trong thực tế các công trình cấp điện cho các khu dân cư có rất nhiều vấn đề cần phân
tích, đánh giá. Hiện nay các công trình này đã lần lượt bàn giao lại cho ngành điện (Công ty
điện lực Đà Nẵng), và ngành điện phải hoàn trả lại vốn mà các đơn vị này đã đầu tư.
2. Khảo sát công tác đầu tư và vận hành tại Chi nhánh điện Khu vực 2
Qua khảo sát tại Chi nhánh điện khu vực 2 giai đoạn từ 1997- 2006, trên địa bàn các
quận Liên Chiểu, Thanh Khê, Hoà Vang đã được đầu tư và đưa vào hoạt động là 85 công
trình. Qui mô đầu tư cho HTCCĐ các KDC này là:
* Số km đường dây trung thế: 18.255,7 mét.

* Tổng dung lượng TBA: 26.390 kVA.
* Số km đường dây hạ thế: 105.234,8 mét.
Với tổng số vốn đầu tư là 61,8 tỷ đồng.
Tuy nhiên trên thực tế rất nhiều KDC xây dựng xong HTCCĐ thì không có khách hàng
sử dụng điện, chúng tôi đã đi thực tế hầu hết các KDC nhưng tỉ lệ nhân dân nhận đất vào xây
dựng nhà ở khá ít. Điển hình như 2 KDC tại khu vực Liên Chiểu - Thuận Phước (Hình 1).
Hình 1. KDC Liên Chiểu - Thuận Phước không có khách hàng sử dụng điện
Trong công tác quản lý vận hành bằng cách sử dụng Ampe kiềm và đồng hồ vạn năng
đã thu thập được số liệu đo dòng phụ tải cực đại thực tế tại tất cả các trạm biến áp (TBA) khảo
sát và kết quả diễn như hình 2.
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
1
4
7
10
13
16
19
22
25
28
31
34
37
40
43
46
49
52
55
58
61
64
67
70
73
76
79
82
85
% taíi
Hình 2. Đồ thị biểu diễn mức độ mang tải của 85 TBA
3. Phân tích hiệu quả đầu tư tai các KDC thuộc Chi nhánh điện 2

Trong bài báo này sử dụng chương trình tính toán, phân tích tài chính được viết trên
EXCEL hiện đang sử dụng tại Công ty Điện lực Đà Nẵng với các số liệu điều tra và thu thập
từ thực tế để thực hiện tính toán.
Với các qui ước như sau: do quy mô đầu tư các dự án lưới điện lớn, thời gian thực hiện
đầu tư dài nên thời điểm được chọn để phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế đầu tư là thời điểm
kết thúc quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình. Năm 2000, dự án bắt đầu đi vào hoạt
động, nên đầu thời kỳ phân tích được xác định là đầu năm 2000, các khoản thu chi trong giai
đoạn vận hành của dự án bắt đầu từ năm 2000 và xét trong khoảng thời gian đến năm 2015 là
cuối thời kỳ phân tích để tính giá trị hiện tại ròng của dự án.
Các chỉ tiêu chính để đánh giá như sau:
1. Giá trị hiện tại thuần NPV được tính: [3]
Trong đó:
PV: hiện giá của khoản thu hồi thuần mà dự án có thể mang lại trong suốt quá trình
hoạt động.
PI: hiện giá thuần của các khoản đầu tư của dự án.
n: vòng đời của dự án.
Fi: khoản thu hồi thuần của dự án tại năm (i) tính từ năm gốc.
Ii: khoản đầu tư của dự án tại năm (i) tính từ năm gốc.
2. Tỷ suất thu hồi nội bộ IRR: [3]
Hay còn gọi là hệ số hoàn vốn nội bộ, chính là lãi suất chiết khấu (IRR) mà ứng với nó
tổng giá trị hiện tại của thu hồi thuần bằng đúng tổng hiện giá vốn đầu tư tức là tổng thu của
dự án sẽ cân bằng với tổng chi trong cùng mặt bằng thời gian hiện tại. Suất thu hồi nội bộ sẽ là
nghiệm của phương trình:
3. Chỉ tiêu tỷ số lợi ích / chi phí (B/C): [3]
Được xác định bằng tỷ số giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra. Lợi ích và chi phí của
dự án có thể tính theo giá trị ở mặt bằng thời điểm hiện tại hoặc thời điểm tương lai. Công
thức tính như sau:
(3.3)
Trong đó: Bi: thu nhập (doanh thu) tại năm i.
Ci: chi phí sản xuất tại năm i.
NPV = PVn - PIn
PVn =
n
i=0
Fi
(1+r)i
PIn =
n
i=0
Ii
(1+r)i
(3.1)
Fi
(1+IRR)i
n
i=0
n
i=0
=
Ii
(1+IRR)i
(3.2)
n
i
i
i
i
n
ii
rC
rB
CB
0
0
)1/(
)1(/
/

Khi đánh giá dự án, đối với các dự án độc lập thì B/C 1 là có thể chấp nhận được.
Khi đó, tổng các khoản lợi ích của dự án đủ để bù đắp chi phí phải bỏ ra của dự án và dự án có
khả năng sinh lợi. Ngược lại, nếu B/C < 1 dự án bị bác bỏ.
4. Thời gian hoàn vốn T:[3]
Xác định trên cơ sở xem xét cân bằng giữa thu hồi thuần và đầu tư ban đầu theo giá
thực tế mà không quan tâm đến sự khác biệt của tiền tệ theo thời gian.
Công thức tính như sau:
(năm) (3.4)
Trong đó: Di: đầu tư luỹ kế tính được tại năm i
Hi: thu hồi thuần luỹ kế tính được tại năm i
T: thời gian hoàn vốn của dự án
Dự án sẽ được chấp nhận khi mà thời gian hoàn vốn của dự án tính toán được nhỏ hơn
hoặc bằng thời hạn hoàn vốn quy định.
Tổng nguồn vốn vay đầu tư cho dự án: 61,8 tỷ đồng với lãi suất bình quân 12%/năm,
vay trong thời hạn 10 năm. Giá bán điện thương phẩm qua các năm 2000 đến 2006, thuế suất
thuế thu nhập Doanh nghiệp do Nhà nước quy định. Giá mua điện ước tính khoảng 70% giá
bán điện thương phẩm. Mức trích khấu hao cơ bản (KHCB) tài sản lưới điện do ngành điện
quy định là 10%/năm tính theo phương pháp khấu hao đường thẳng. Chi phí sửa chữa, bảo
dưỡng, vận hành chiếm 1%/giá trị đầu tư; chi phí tiền lương, chi phí quản lý và các khoản chi
phí khác chiếm 9%/giá trị doanh thu bán điện. Sử dụng chương trình phân tích tài chính, kinh
tế đang sử dụng tại Công ty Điện lực Đà Nẵng, ta có kết quả tại bảng 1.
Bảng 1: Kết quả phân tích chỉ tiêu tài chính dự án
Các chỉ
tiêu
Đơn vị
tính
Chỉ tiêu tài
chính
Chỉ tiêu
kinh tế - xã
hội.
Tính toán độ nhạy
Vốn
ĐT=1,1
khái toán
SL Đtp =
0,9 SL dự
báo
Gía bán
tăng 30
đ/kWh
NPV
Tr.đồng
-18.659
54.666
-23.168
-21.311
-19.734
B/C
0,90
1,42
0,88
0,88
0,89
IRR
3,96%
40,91%
5,32%
4,90%
4,43%
T.h.vốn
Năm
>10
>10
>10
>10
G.bán tối
thiểu
đồng/kwh
1020,11
1032,31
1033,77
954,87
4. Các nhận xét
- Giá trị hiện tại thuần của dự án NPV = - 18.659 <0 có nghĩa là tổng khoản thu của dự
án nhỏ hơn tổng các khoản chi phí sau khi đã đưa về mặt bằng hiện tại, dự án không khả thi.
Di – Hi-1
Hi – Hi-1
(i – 1) +
=
T

- Tỷ suất thu hồi nội bộ IRR mô tả như tỷ lệ tăng trưởng của dự án, nó xác định một tỷ
suất chiết khấu sao cho giá trị hiện tại của số dư bằng tiền dự kiến thu được từ dự án đầu tư
lớn hơn hoặc bằng giá trị hiện tại của số tiền bỏ ra để đầu tư. Trong dự án đầu tư hệ thống điện
khu dân cư mới tại Chi nhánh điện 2 cho được kết quả IRR = 3,96% < 12% và nhỏ hơn lãi
suất đi vay của dự án
r
= 12%. Dự án này không khả thi.
- Tỷ suất lợi ích/chi phí: B/C = 0,9<1 cho thấy tổng các khoản lợi ích của dự án không
đủ bù đắp chi phí phải bỏ ra của dự án và dự án không có khả năng sinh lợi.
- Để đảm bảo ở trạng thái cân bằng hoà vốn (doanh thu đủ bù đắp chi phí) thì giá bán
điện bình quân tối thiểu mà dự án phải thực hiện là 1020,11đ/kWh điện, quá cao so với mặt
bằng chung, tuy nhiên giá bán điện không thể do ngành Điện quyết định mà Nhà nước ban
hành thống nhất cho từng loại giá điện.
- Trên cơ sở xem xét cân bằng giữa thu hồi thuần và đầu tư ban đầu thì thời gian để
hoàn vốn của dự án có thể thực hiện được phải trên 10 năm, như vậy không đáp ứng với hợp
đồng vay đã ký kết với bên cho vay.
- Xét trên phương diện phân tích độ nhạy của dự án, khi ta thay đổi các chỉ tiêu hiệu
quả tài chính của dự án khi các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu đó thay đổi.
Ta thấy, khi thay đổi quy mô vốn đầu tư ban đầu tăng thêm 10% thì NPV = -23.168<0;
IRR = 5,32% < 12%; B/C = 0,88 <1; PP >10 năm, giá bán bình quân tối thiểu là
1032,3đ/kWh.
Tất cả các chỉ tiêu trên đều cho ta được kết quả là dự án không thể khả thi. Khi ta thay
đổi sản lượng điện thương phẩm và giá bán điện cũng cho ta kết quả các chỉ tiêu đánh giá hiệu
quả tài chính không đạt và độ an toàn về tài chính không đảm bảo.
Tuy nhiên, xét về mục đích kinh tế xã hội của các dự án đầu tư vào KDC mới tại Chi
nhánh điện khu vực 2, thì việc đầu tư này có những đóng góp thực sự cho đời sống của nhân
dân, cho sự phát triển chung của nền kinh tế, vào việc thực hiện mục tiêu phân phối và xác
định được những tác động của dự án đến quá trình điều tiết thu nhập theo nhóm dân cư và theo
vùng lãnh thổ. Cụ thể, qua tính toán ta có hiện giá thuần của dự án NPVS = 54.666 > 0; Điều
này cho thấy dự án có đóng góp cho nền kinh tế quốc dân; và tỷ lệ sinh lời xã hội ERR =
40,91% cho thấy mức đóng góp tối đa của dự án cho xã hội rất lớn. Như vậy, xét trên khía
cạnh về hiệu quả kinh tế xã hội, dự án được chấp nhận đầu tư.
Qua đồ thị thu thập số liệu vận hành thực tế từ 10 TBA khảo sát ta nhận thấy:
Hầu hết các TBA đều vận hành non tải cho dù dòng điện It.tế đo vào giờ cao điểm (từ
19h00 đến 20h00):
+ Mức độ mang tải >50% có: 14 KDC chiếm tỉ lệ 16,47 %.
+ Mức độ mang tải từ 30% đến 50% có: 14 KDC chiếm tỉ lệ 16,47 %.
+ Mức độ mang tải từ 0 % đến 30% có: 57 KDC chiếm tỉ lệ 67,06 %.
- Như vậy có đến 83,53 % vận hành dưới 50% công suất lắp đặt.
5. Kết luận
Việc đầu tư, khai thác vận hành các hệ thống cung cấp điện tại các KDC mới tại 85
KDC khảo sát cho thấy:

