BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC



Khóa luận tốt nghiệp

Giáo viên hướng dẫn: TS. Lê Thị Thanh Chung

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Nhật Trường

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 5 năm 2010

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan

tâm, giúp đỡ từ phía thầy cô, gia đình, bạn bè. Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến:

Tiến sĩ Lê Thị Thanh Chung- người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong từng bước đi để tôi có thể hoàn thành bài khóa luận một cách tốt nhất.

Ban Giám hiệu và quý thầy cô của các trường tiểu học trên địa bàn Quận 1, Quận 3, Quận 5, Quận 10, Quận 12 và Quận Tân Bình đã tạo điều kiện, hợp tác, giúp đỡ nhiệt tình trong thời gian tôi thực hiện đề tài này.

Gia đình và tất cả bạn bè tôi, những người đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành khóa luận.

TP.HCM, tháng 5-2010

Trân trọng

Nguyễn Thị Nhật Trường

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

NỘI DUNG

VIẾT TẮT

1 2 3 4 5 6 7 Giáo viên Học sinh Phương pháp dạy học Sách giáo khoa Thành phố Hồ Chí Minh Tính tích cực nhận thức Tự nhiên – Xã hội GV HS PPDH SGK TP.HCM TTCNT TN-XH

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Những năm đầu của thế kỷ 21, cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển nền kinh tế tri thức. Tốc độ và trình độ đổi mới ứng dụng tri thức quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Khoa học – công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Và chính sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong nhà trường ở nước ta hiện nay.

Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay tạo cho nước ta nhiều cơ hội và thách thức. Cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi các nước phải đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động, và đặt ra vị trí mới của giáo dục. Giáo dục phải đào tạo ra những con người có tri thức, có đạo đức, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng giải quyết vấn đề để làm việc hiệu quả trong môi trường luôn biến đổi không ngừng. Vì vậy việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực là vấn đề then chốt của việc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay. Sử dụng những phương pháp này sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ và làm của các thế hệ học trò – chủ nhân tương lai của đất nước. Mục đích chính của việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học là nhằm phát huy vai trò chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức.

Bậc tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân; do đó việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học càng cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay một số giáo viên tiểu học sử dụng các phương pháp này chỉ mang tính chất hình thức, chủ yếu là trong các giờ thao giảng, các tiết thi giáo viên giỏi,... Mặt khác, nếu có sử dụng thì vẫn còn lúng túng, kết hợp chưa nhuần nhuyễn, hợp lí và khoa học các phương pháp này nên chưa khai thác được hết tất cả những hiệu quả của phương pháp dạy học tích cực mang lại, do đó mục tiêu của tiết học đôi lúc cũng không đạt được. Vì vậy, chúng tôi chọn: “Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một số trường tiểu học tại TP. HCM” làm đề tài nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM nhằm đề xuất những biện pháp sử dụng các phương pháp dạy học này có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở tiểu học.

3. Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về các phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học.

- Khảo sát thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một số trường tiểu học tại

TP.HCM.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

- Đề xuất các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương pháp dạy học tích

cực ở tiểu học.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học ở trường tiểu học.

4.2. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một số

trường tiểu học tại TP.HCM.

5. Phạm vi nghiên cứu

5.1. Phạm vi về nội dung: Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một số môn

Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH trong nhà trường tiểu học.

5.2. Phạm vi về đối tượng: Cán bộ quản lý, giáo viên của một số trường tiểu học ở TP.HCM.

5.3. Phạm vi về thời gian: Từ tháng 9-2009 đến tháng 5-2010.

6. Giả thuyết khoa học

Các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đã xây dựng các phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học dựa trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại và khẳng định rằng nếu việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào các môn học ở tiểu học có hiệu quả thì sẽ phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Tuy nhiên trong thực tế, nhận thức, thái độ và kĩ thuật của giáo viên tiểu học tại một số trường ở TP.HCM về các phương pháp dạy học tích cực có những tồn tại sau:

- Về nhận thức, một số giáo viên chưa hiểu rõ các vấn đề liên quan đến phương pháp dạy học tích cực như: những định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học, khái niệm phương pháp dạy học tích cực, tầm quan trọng của phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học, ưu và nhược điểm của từng phương pháp dạy học tích cực,…

- Về thái độ, phần lớn giáo viên có hứng thú với các phương pháp dạy học tích cực nhưng chỉ sử dụng các phương pháp dạy học này mang tính hình thức, chủ yếu là trong các tiết thao giảng, thi giáo viên giỏi.

- Về kĩ thuật, giáo viên vẫn còn lúng túng khi sử dụng, kết hợp chưa nhuần nhuyễn, hợp lí,

khoa học các phương pháp dạy học tích cực.

Từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành khảo sát để tìm hiểu rõ thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM, cũng như sẽ đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các phương pháp dạy học này.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng hệ thống các phương pháp luận và

phương pháp nghiên cứu sau:

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

7.1. Phương pháp luận

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp luận sau:

7.1.1. Quan điểm lịch sử và logic: Căn cứ vào quan điểm lịch sử và logic, trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã chú ý đến quá trình phát triển của hệ thống các PPDH tích cực ở trường tiểu học và sự phối hợp linh hoạt của các PPDH tích cực đó để nâng cao chất lượng quá trình dạy học ở tiểu học.

7.1.2. Quan điểm hệ thống – cấu trúc: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, dựa vào quan điểm này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các thành tố của quá trình dạy học: mục đích, nội dung, kích thích động cơ, tổ chức hoạt động (phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức), kiểm tra điều tiết và đánh giá kết quả. Tất cả các thành tố trên nằm trong mối liên hệ tác động qua lại theo một quy luật nhất định, chỉ có sự tác động tổng hợp của tất cả các thành tố đó mới tạo ra chất lượng và hiệu quả cần thiết.

7.1.3. Quan điểm thực tiễn: Xuất phát từ quan điểm thực tế, đề tài chúng tôi đã chú ý đến

các mặt sau:

- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp xuất phát từ sự phân tích tình hình thực tế sử dụng các

PPDH tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM.

- Trong quá trình đề xuất các biện pháp có chú ý đến những điều kiện đảm bảo tính khả thi

trong thực tế giảng dạy của GV tiểu học.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

7.2. Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi đã sử dụng phối hợp ba nhóm phương pháp sau:

7.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết: Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để phân tích những vấn đề có liên quan đến PPDH tích cực nói chung và ở tiểu học nói riêng để từ đó chắt lọc, khái quát lại nội dung, làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu.

Phương pháp xây dựng giả thuyết: Chúng tôi đã xây dựng những giả định để từ cơ sở đó triển

khai việc nghiên cứu.

7.2.2. Nhóm các phương pháp điều tra, thu thập thông tin

Phương pháp quan sát: Chúng tôi đã ghi nhận, thu thập những thông tin về cơ sở vật chất,

phương tiện dạy học của một số trường tiểu học tại TP.HCM.

Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn: Chúng tôi đặt một số câu hỏi cho nhà quản lý, giáo viên ở các trường tiểu học tại TP.HCM. Dựa vào câu trả lời của họ để trao đổi, hỏi thêm nhằm thu thập các tin tức liên quan đến thực trạng sử dụng các PPDH của giáo viên tiểu học ở một số trường tại TP.HCM.

Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi: Chúng tôi đã dùng hệ thống các câu hỏi để khảo sát mức độ nhận thức, thái độ, kĩ thuật của GV đối với việc sử dụng các PPDH tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM.

7.2.3. Nhóm các phương pháp xử lí thông tin

Phương pháp phân tích số liệu: Từ những số liệu khảo sát, chúng tôi phân tích, và đưa ra

những kết luận ý nghĩa.

Phương pháp sử dụng toán học: Chúng tôi sử dụng toán thống kê để chuyển kết quả khảo sát

thành các số liệu cụ thể để làm cơ sở cho việc phân tích.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Phát huy tính tích cực học tập của HS là vấn đề mà đã được đặt ra trong ngành Giáo dục nước ta từ những năm 60 của thế kỉ trước. Trong cuộc cải cách giáo dục lần hai từ năm 1980, vấn đề này đã trở thành một trong những phương hướng chính nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước.

Trong Luật Giáo dục 2005, Chương 2, Điều 28 cũng đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.

Bậc tiểu học là bậc học nền tảng nên sự đổi mới lại càng cần thiết và quan trọng. Chính vì vậy từ năm 2000 cho đến nay, cùng với việc đổi mới chương trình, giáo dục tiểu học đã có những thay đổi mạnh mẽ về mục tiêu, nội dung và PPDH. Đặc biệt, Dự án Phát triển Giáo viên tiểu học năm 2006 [3] cũng đề cập đến những vấn đề về đổi mới PPDH ở tiểu học như: - Những vấn đề chung của PPDH phát huy tính tích cực của HS. - Vận dụng phương pháp phát huy tính tích cực của HS vào việc dạy học các môn học ở tiểu

học.

Từ năm 2005 đến nay, các hội thi giáo viên giỏi đã được tổ chức phổ biến, rộng rãi hơn ở các trường phổ thông tại TP.HCM. Riêng ở bậc tiểu học, hội thi này tổ chức hàng năm đã thu hút được sự hưởng ứng nhiệt tình của đội ngũ GV tại TP.HCM. Hội thi đã tạo cơ hội cho GV thể hiện năng lực sư phạm của mình, giúp họ trau dồi chuyên môn, hướng tới xây dựng đội ngũ GV có đủ tâm lẫn tài, đáp ứng những yêu cầu của đổi mới, xây dựng một nền giáo dục ngang tầm với khu vực. Đặc biệt, đây được xem là chất men kích thích phong trào đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa trong nhà trường tiểu học. Trong hội thi hàng năm, để đạt được những thành tích cao, về phía GV cần có những nỗ lực từ việc thiết kế đến thi công bài giảng. Mặt khác, họ cũng rất cần sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiều từ Ban giám hiệu và đồng nghiệp. Và một thuận lợi khác cũng giúp cho GV tự tin khi tham dự các hội thi là điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy học đầy đủ và năng lực học tập tốt của HS.

Trước yêu cầu thực tiễn, những năm gần đây, nhiều thầy cô giáo và sinh viên các khoa như: Toán, Hóa học, Vật Lý, Lịch Sử, Địa lý,…của trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã thực hiện thành công các công trình nghiên cứu về đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học. Sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm TP.HCM cũng có những đề tài hướng tới việc nghiên cứu các PPDH tích cực như:

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp  “Thực trạng sử dụng và phương hướng đổi mới PPDH trong dạy Đọc – hiểu ở tiểu học”. Khóa luận tốt nghiệp năm 2001 của sinh viên Võ Thị Lai. [10]  “Phát huy tính tích cực học tập của HS trong dạy học Tập đọc ở lớp 2”. Khóa luận tốt nghiệp 2004 của sinh viên Trịnh Thị Vân Anh. [2]  “Một số giải pháp nhằm tăng cường họat động của HS trên lớp trong phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học”. Khóa luận tốt nghiệp 2004 của sinh viên Lê Thị Kim Hằng.[8]

Những khóa luận nêu trên chỉ tập trung vào việc xây dựng phương hướng giảng dạy và trình bày một số biện pháp thích hợp nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS trong một số phân môn cụ thể ở tiểu học. Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở một số trường tiểu học ở TP.HCM là rất cần thiết và nếu đề xuất được những biện pháp nâng cao sử dụng các PPDH tích cực sẽ góp phần đẩy mạnh phong trào đổi mới PPDH ở các trường tiểu học ở TP.HCM hiện nay.

1.2. XU HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Phương pháp dạy học là một trong những thành tố quan trọng nhất của quá trình dạy học. Cùng với việc đổi mới chương trình và SGK, nếu không có một PPDH phù hợp thì việc đổi mới sẽ khó có thể đồng bộ để phát huy năng lực, khả năng chủ động và xu thế phát triển toàn diện người học trong nhà trường. Vì thế, việc đổi mới PPDH là một nhu cầu thiết thực đang được đặt ra.

1.2.1. Những nét đặc trưng cơ bản của xu thế đổi mới PPDH hiện nay

Theo các tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh và Trần Thị Hương trong giáo trình [7, tr97], trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo các hướng khác nhau. Sau đây là một số xu hướng đổi mới cơ bản:

1. Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá. Tạo điều kiện cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.

2. Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời.

3. Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực

tế. Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức.

4. Cá thể hóa việc dạy học. 5. Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học, đặc

biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học.

6. Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

7. Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của

HS, theo cấp học, bậc học).

1.2.2. Những định hướng đổi mới PPDH ở tiểu học

Trước những xu thế đổi mới PPDH hiện nay ở các cấp học, các tác giả Đặng Quốc Bảo, Đinh Thị Kim Thoa đã chỉ rõ những định hướng đổi mới PPDH tích cực ở tiểu học trong tài liệu [3, tr16- 19] như sau:

1.2.2.1. Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực chủ động trong

quá trình lĩnh hội tri thức

Tính tích cực chủ động là một đặc điểm vốn có của con người. Con người không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của các mối quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu có chọn lọc tất cả những tác động bên ngoài để sáng tạo và xây dựng nhân cách riêng của mình. Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu. Con người sinh ra cùng với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau, ví dụ nhu cầu ăn, uống,…và sau đó xuất hiện nhu cầu xã hội…Những nhu cầu này không bao giờ cạn và luôn trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động. Khi nhu cầu nhận thức xuất hiện thì nó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập.

Lí luận dạy học cũng chỉ ra rằng, muốn xây dựng động lực của quá trình dạy học có hai điều

quan trọng cần phải lưu ý:

- Phải biến yêu cầu của chương trình dạy học thành nhu cầu nhận thức của người học bằng cách tạo dựng các tình huống nhận thức, đưa học sinh tới đỉnh điểm của những mâu thuẫn chứa đựng những khó khăn vừa sức đối với HS.

- Phải giáo dục tính tích cực, tự giác học tập và tạo điều kiện cho những cố gắng vươn tới

của HS bằng khả năng của mình.

Trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo ở HS, tính tích cực được thể hiện từ cấp độ

thấp nhất đến cấp độ cao nhất như sau:

Bắt chước: tính tích cực thể hiện ở sự cố gắng làm theo mẫu hành động, thao tác, cử chỉ hành

vi hay nhắc lại những gì trải qua…

Tìm hiểu và khám phá: tính tích cực thể hiện ở sự chủ động hoặc ý muốn hiểu thấu đáo vấn đề

nào đó, sau đó có thể tự giải quyết vấn đề…

Sáng tạo: tính tích cực thể hiện ở khả năng linh hoạt và hiệu quả trong giải quyết vấn đề…

Trong quá trình dạy học, GV là chủ thể tổ chức, điều khiển và HS là chủ thể hoạt động học tập tích cực chủ động và sáng tạo. GV phải cải tiến không ngừng PPDH và giúp HS cải tiến phương pháp học.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Những tri thức đã học sẽ tạo ra một trình độ ở người học, GV phải dựa vào trình độ này để

hướng dẫn HS nâng cao lên một trình độ mới.

1.2.2.2. Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các PPDH khác nhau (truyền thống và hiện đại) sao cho vừa đạt mục tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn của cơ sở.

Không có một PPDH nào là tồi, mỗi phương pháp đều có những giá trị riêng của nó. Tính hiệu quả hay không hiệu quả của phương pháp phụ thuộc vào người sử dụng biết phát triển và thích nghi nó đến mức độ nào. Nếu các PPDH được kết hợp và bổ sung cho nhau thì cách dạy học ấy sẽ phù hợp với đối tượng học đa dạng, chống sự nhàm chán và tạo ra sự năng động trong cách nghĩ, cách làm của HS.

1.2.2.3. Đổi mới PPDH theo hướng phát triển khả năng tự học của HS

Cần hình thành cho HS phương pháp tự học, tăng cường các hoạt động tự tìm kiếm tri thức hay

ứng dụng tri thức vào cuộc sống.

Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu. Khi đứa trẻ có nhu cầu thì nó tự giác tìm kiếm tri thức. Khi phát hiện các tình huống mâu thuẫn của lí thuyết hay thực tế mà bằng kiến thức cũ không thể giải quyết được, HS buộc phải tìm con đường khám phá mới.

Đối với HS, tính tích cực bên trong thường nảy sinh do những tác động từ bên ngoài. GV phải tạo ra hàng loạt mâu thuẫn, khéo léo lôi cuốn, hấp dẫn HS để học tự ý thức tiếp nhận và tìm tòi cách giải đáp.

Khả năng tự học là năng lực rất quan trọng cho sự thành đạt của mỗi cá nhân. Muốn vậy,

người GV cần hướng dẫn HS phương pháp tự học sao cho hiệu quả.

1.2.2.4. Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm và

phát huy khả năng của cá nhân.

Tập thể HS được sử dụng như một môi trường và phương tiện để tổ chức quá trình học tập tích

cực nhất cho từng cá nhân. Lợi thế của dạy tập thể cho mỗi cá nhân là:

- Tạo ra sự tranh đua.

- Tạo ra nhiều cách nghĩ, nhiều phương án hành động.

- HS có thể hỗ trợ nhau, đóng góp những ý kiến riêng vào ý kiến chung.

- Cách thức này giúp HS chuyển từ thói quen chỉ nghe, ghi nhớ sang hình thức hoạt động,

cùng nhau tìm kiếm, hình thành kiến thức bằng trí tuệ chung.

- HS sẽ có kĩ năng hoạt động tập thể và khẳng định được mình thông qua tập thể.

Tuy nhiên, GV phải biết khai thác lợi thế của tập thể để phát triển từng cá nhân. Phải quan tâm đến hứng thú, xu hướng, khả năng của từng người trong môi trường tập thể cũng như trong tự học.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp Suy cho cùng kết quả học tập là thành quả cụ thể, trực tiếp của từng cá nhân nên phải chú ý đến dạy cá nhân.

1.2.2.5. Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành

Mục đích cuối của quá trình dạy học là tạo ra năng lực thực tiễn cho người học. Đổi mới theo

hướng này HS được:

- Thao tác hành động thực tế.

- Học qua tình huống thực tiễn cuộc sống.

- Giải thích được thực tiễn bằng lí thuyết đã học.

- Thực hành trao đổi, phối hợp, hợp tác trong nhóm.

- Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nói và viết.

- Rèn luyện kĩ năng cùng chung sống.

- Đi vào cuộc sống thực để có kinh nghiệm thực tế.

1.2.2.6. Đổi mới PPDH theo hướng sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy

học

Các phương tiện chủ yếu là nghe, nhìn, nghe nhìn, các chương trình phần mềm hỗ trợ…Sử dụng phương tiện kĩ thuật để chuyển tải nội dung kiến thức thực sự sẽ mang hiệu quả cao nếu người dạy không lạm dụng nó, phải sử dụng nó theo đúng quy tắc sư phạm trong sử dụng phương tiện dạy học.

Sử dụng phương tiện đa dạng trong dạy học giúp cho PPDH trở nên sinh động hơn và tạo ra

được hứng thú và tính tích cực ở người học.

1.2.2.7. Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cả phương pháp kiểm tra và đánh giá kết

quả học tập

Đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học và nó có thể góp phần điều chỉnh nội dung PPDH. Ngược lại, đổi mới PPDH sẽ phải đổi mới cách thức kiểm tra và đánh giá. Không đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá thì đổi mới PPDH chỉ là hình thức. Trong đánh giá GV lưu ý một điều rằng cần phải chuyển sự đánh giá của GV thành quá trình tự đánh giá của HS về kết quả học tập và rèn luyện của bản thân. Cả thầy và trò cần đánh giá kết quả đạt được trong hoạt động của mình theo hệ mục tiêu đã đề ra.

1.2.2.8. Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập kế hoạch bài

học và xây dựng mục tiêu bài học

Các thành tố của quá trình dạy học: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và phương tiện dạy học, đánh giá cùng với môi trường văn hóa – chính trị - xã hội – kinh tế -

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp khoa học – kĩ thuật, gia đình, nhà trường và cộng đồng. Muốn nâng cao chất lượng quá trình dạy học phải nâng cao chất lượng của từng thành tố, đồng thời nâng cao chất lượng của toàn hệ thống.

Khi thiết kế bài giảng và lập kế hoạch bài học, GV cần quán triệt các thành tố liên quan. Nếu coi bài dạy là một kịch bản thì kế hoạch bài học là sự dàn cảnh. Trong bài dạy, mục đích và mục tiêu của bài học phải đề ra rõ ràng, có thể lượng hóa, từ đó có thể đo được và đánh giá được kết quả một cách khách quan. Mục đích của hoạt động dạy học là tổ chức điều khiển quá trình học, giúp HS lĩnh hội nền văn hóa nhân loại, biến nó thành tri thức của mình để hình thành nhân cách và trở thành người lao động sáng tạo. Để thực hiện mục đích này, quá trình dạy học đảm bảo các nhiệm vụ sau:

- Giúp HS chiếm lĩnh tri thức khoa học và kĩ năng thực hành.

- Dạy và học phương pháp nhận thức để tìm ra tri thức.

- Dạy và học thái độ học tập, hình thành nhân cách toàn diện người học.

Trong kế hoạch bài dạy, những mục đích này sẽ được cụ thể hóa bằng những mục tiêu của

từng bài học. Mục tiêu dạy học ở cấp độ lớp học, cần phải thể hiện những đặc điểm sau:

- Việc xác định mục tiêu phải mô tả được cả kiểu hành vi mong đợi và nội dung hay toàn cảnh

hành vi đó được áp dụng.

- Các mục tiêu phức hợp phải xác định theo kiểu phân tích và cụ thể.

- Các mục tiêu xây dựng phải phân biệt rõ ràng năng lực của HS và năng lực ấy cho phép đạt

được các hành vi khác nhau.

- Mục tiêu có tính phát triển, thể hiện các con đường đi tới mục tiêu chứ không phải là các

điểm cuối cùng.

- Mục tiêu phải thực tế và bao gồm những gì được hiện thực hóa thành kinh nghiệm ngay

trong lớp học.

- Phạm vi mục tiêu phải đủ rộng để chứa các kiểu kết quả đầu ra mà nhà trường chịu trách

nhiệm.

1.3. TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH

1.3.1. Khái niệm tính tích cực và tích cực hóa

Tác giả Thái Duy Tuyên với tài liệu [13, tr463-465] đã định nghĩa tính tích cực và tích cực hóa

như sau:

Tính tích cực là khái niệm biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng. Ngoài ra, nó cũng là một khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đó.

Sự nỗ lực diễn ra trên nhiều mặt:

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

- Sinh lí: đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp.

- Tâm lí: tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…

- Xã hội: đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài…

Vì vậy, tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng của rất nhiều

nhân tố như:

- Nhu cầu - tích cực nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó;

- Động cơ - tích cực vì hướng tới những động cơ nhất định;

- Hứng thú - do bị lôi cuốn bởi những sự say mê vì sự biến đổi, cải tạo một hiện tượng nào

đấy;

Tóm lại, tính tích cực nói chung là sản phẩm rất quan trọng của con người, được hình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chất khác của nhân cách và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại.

Quan điểm như vậy cho phép chúng ta hiểu rõ bản chất của tính tích cực và cho phép xây dựng một kế hoạch phong phú và toàn diện hơn khi muốn tích cực hóa con người nhằm tổ chức họ tham gia một hoạt động nào đó có hiệu quả, trên cơ sở tập hợp nhiều lực lượng, nhiều ngành khoa học: xã hội học, tâm lí học, giáo dục học, triết học,… vào công tác này.

Tính tích cực nhận thức: Là tính tích cực trong điều kiện, phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS. Theo lí thuyết phản ánh, TTCNT bao gồm: sự lựa chọn đối tượng nhận thức; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng nhằm cải tạo nó. Tính tích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổi trong ý thức và hành động của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu như sự tập trung chú ý , sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích, tổng hợp sâu sắc…Có thể phân chia sự phát triển TTCNT làm 3 mức độ:

- Tính tích cực tái hiện: Đó là mức độ thấp của tính tích cực, chủ yếu dựa vào trí nhớ để tái hiện lại những điều đã nhận thức được. Tích cực mô phỏng, bắt chước cũng là một dạng tích cực tái hiện. Đây là hình thức biểu hiện tính tích cực sớm nhất, đơn giản và phổ biến nhất. Điều này diễn ra rất tự nhiên, nhưng cũng rất cần thiết cho sự phát triển. Qua mô phỏng, bắt chước, tái hiện mà các em tích lũy được kiến thức, kinh nghiệm của các thế hệ trước.

- Tính tích cực sử dụng: Đây là sự phát triển tính tích cực ở mức độ cao hơn. Qua việc vận dụng các công cụ, các khái niệm, định lí, định luật…để giải quyết một nhiệm vụ nào đó các em phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự lực đưa ra những phương án khác nhau, nhờ đấy mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển.

- Tính tích cực sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của tính tích cực. Nó được đặc trưng bằng sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mình, vượt ra khỏi khuôn mẫu, máy móc

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị. Tính tích cực sáng tạo tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Nó hướng đến việc ứng dụng những thủ thuật mới để giải quyết vấn đề, tìm tòi những phương pháp khắc phục khó khăn, đưa những phát minh mới vào cuộc sống. Nó biểu hiện khả năng tự mình tìm kiếm những nhiệm vụ mới, những phương pháp giải quyết mới, khả năng sử dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong những tình huống, hoàn cảnh mới. Như vậy, tính tích cực sáng tạo không phải là một nét riêng của tính cách cá nhân, mà là một tập hợp những dấu hiệu đặc trưng của một con người.

Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động của thầy giáo và của các nhà giáo dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.

Làm cho người đọc từ chỗ lơ là, lười biếng đến chỗ tích cực, say mê học hành là cả một công

việc khó khăn, đòi hỏi trí sáng tạo và sự dày công của các nhà giáo dục.

1.3.2. Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức ở HS

Tác giả Thái Duy Tuyên với tài liệu [13, tr466-469] cho rằng có ba dấu hiện rõ nhất giúp GV

nhận biết HS của mình tích cực trong quá trình nhận thức:

- Thứ nhất là những dấu hiệu bề ngoài qua thái độ, hành vi và hứng thú:

Hứng thú nhận thức là thái độ, là sự lựa chọn của cá nhân về đối tượng nhận thức, trong đó cá nhân không những dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng, mà hướng vào các thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận thức.

Hứng thú nhận thức là động cơ quan trọng của quá trình nhận thức và thường biểu lộ ra ngoài dưới dạng tò mò, lòng khát khao cái mới… Dưới ảnh hưởng của hứng thú nhận thức, các em tích cực tri giác hơn và tri giác sâu sắc hơn, tinh tế hơn, trí nhớ cảm xúc, trí nhớ hình ảnh diễn ra tích cực hơn, tưởng tượng trở nên sáng tạo hơn và có hiệu quả hơn…Như vậy, nhờ có hứng thú nhận thức mà hoạt động diễn ra thuận lợi hơn, lâu hơn và có hiệu quả hơn.

Việc thỏa mãn hứng thú còn tạo ra hứng thú mới, nâng cao mức độ hoạt động nhận thức. Độ bền vững của hứng thú, một mặt được thể hiện bằng thời gian tồn tại và cường độ của hứng thú, mặt khác được xác định bằng sự nỗ lực của cá nhân vượt qua khó khăn khi thực hiện hoạt động.

Nhu cầu nhận thức được hiểu là lòng ham thích, sự mong muốn tìm hiểu và nhận thức thế giới xung quanh, được tạo ra bởi những đòi hỏi tất yếu của cá nhân đối với việc cải tạo hoàn cảnh xung quanh. Nhu cầu nhận thức vừa là tiền đề vừa là kết quả của quá trình nhận thức. Có lòng ham muốn nhận thức là dấu hiệu tốt song chưa đủ, mà cần phải làm cho nó vận động và chuyển hóa hành động bên ngoài thành động cơ bên trong…Vì thế muốn hình thành tính tích cực nhận thức, trước hết cần hình thành cho trẻ lòng ham muốn, sự say mê và ý chí nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ nhận thức.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Sự kích thích nhu cầu, hứng thú nhận thức trong quá trình học tập chủ yếu dựa vào nội dung dạy học. Nếu nội dung học tập chứa đựng các yếu tố mới, hấp dẫn thì sẽ càng kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của các em và thúc đẩy hoạt động nhận thức phát triển.

Nhu cầu, hứng thú nhận thức của các em được thể hiện bằng những dấu hiệu cụ thể sau:

+ Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng.

+ Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi.

+ Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của bạn và thích tham

gia vào các hoạt động cũng là một biểu hiện của hứng thú.

- Thứ hai là những dấu hiệu bên trong:

Đó là sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển của tư duy, ý chí và cảm xúc…

Thật ra những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện được qua những biểu hiện bên

ngoài, nhưng phải tích lũy một lượng thông tin mới thấy được, cụ thể là:

+ Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác tư duy như phân

tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức.

+ Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các tình

huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lí các tình huống mới.

+ Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát.

+ Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình.

+ Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất.

+ Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực, cố gắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu thông báo hết giờ.

- Ba là kết quả học tập:

Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận

thức. Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt.

1.3.3. Vai trò của tính tích cực nhận thức trong học tập

HS là chủ thể của quá trình học tập vì vậy học tập chỉ có kết quả nếu HS có ý thức chủ động tích cực và sáng tạo. Thông qua việc nắm vững tri thức, hình thành cho mình những kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực tư duy mà nhân cách các em ngày càng phát triển. Nếu như các em không chịu học tập, không có động cơ học tập trong sáng, không có cố gắng vươn lên thì không bao giờ

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp đạt kết quả tốt được. Việc học tập của HS chỉ có kết quả cao khi chính các em ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, biết tự chuyển hóa những yêu cầu của xã hội thành nhu cầu học tập của bản thân và cố gắng khắc phục vượt qua khó khăn để đạt được mục tiêu đã định.

Như vậy tính tích cực chính là một điều kiện quan trọng để HS đạt kết quả cao trong học tập. Qua quá trình đào sâu suy luận, hợp tác trong học đường mà giúp cho khả năng ghi nhớ, lưu trữ trong con người tốt hơn, vững chắc hơn. Do đó tính tích cực sáng tạo trong học tập có vai trò rất quan trọng trong việc tiếp thu nắm vững tri thức.

Ngoài ra nó còn là một động lực của quá trình dạy và học. Với lối dạy chủ yếu là truyền đạt, thông báo ـ tái hiện và với cách học thụ động của HS thì kết quả học tập sẽ bị hạn chế. Nhưng nếu coi dạy học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể (GV và HS), nếu GV biết tổ chức, điều khiển quá trình học tập của HS tạo ra những điều kiện tốt nhất cho các hoạt động sáng tạo thì tính cộng hưởng hai chiều càng cao, mang lại kết quả học tập một cách tốt nhất.

Mặt khác, nó còn tôi luyện cho con người phương pháp tự học và lòng ham học. Ở trường học chỉ có thể cung cấp cho con người một khối lượng tri thức có giới hạn. Trong khi đó, mong muốn hiểu biết của con người trong cuộc đời là vô hạn nên đòi hỏi con người phải tự tìm tòi, học hỏi để bổ sung, hoàn thiện kiến thức cho mình. Hơn nữa trong quá trình tranh luận ở lớp thì mỗi người mỗi hướng khác nhau không ai có thể lường hết các vấn đề nảy sinh ngay trong lúc này mà khi về nhà vẫn thấy cần tranh luận với chính mình: người nói thế này, người kia nói thế khác, vậy còn mình thì suy nghĩ như thế nào? Thậm chí trong lúc ngủ, tiềm thức của họ cũng phải làm việc. Như vậy, môi trường giáo dục đã đem lại cho học trò phương pháp học và sự ham học, sự cần thiết phải học.

1.3.4. Biện pháp tăng cường tính tích cực nhận thức của HS

Không phải ai cũng có thể bộc lộ được tính tích cực của mình mà phải trải qua một quá trình rèn luyện, thử nghiệm kết hợp với sự điều khiển chủ chốt của GV. Sau đây là một vài biện pháp được tác giả Thái Duy Tuyên đề cập đến trong tài liệu [13, tr 478-480]:

- Chuẩn bị về năng lực cho GV: GV giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tính tích cực cho HS. GV là người khơi nguồn, tạo ra tình huống, tạo sự hứng thú, kích thích sự phấn chấn trong hoạt động nhận thức của HS. Do đó GV phải biết nâng cao năng lực của mình (bao gồm năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ sư phạm) để đáp ứng phù hợp với nhu cầu của HS. Ngoài ra người thầy còn phải có khả năng lôi cuốn, thu hút HS làm theo mình. Phải luôn có tư tưởng tôn trọng, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của HS, luôn quan tâm đến mối quan hệ thầy – trò. Người thầy dạy HS không chỉ bằng kiến thức, kỹ năng mà còn bằng cả nhân cách của mình. Tình cảm và mối quan hệ thầy trò luôn luôn ảnh hưởng đến chất lượng kết quả học tập. HS khó có thể yêu thích môn học khi họ chán ghét thầy dạy của mình. Còn quan hệ thầy trò tốt sẽ có tác dụng tích cực trong việc hình thành niềm tin, quan điểm, thói quen của HS.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

- Sử dụng các PPDH một cách linh hoạt: Sự đa dạng các PPDH là một yếu tố thuận lợi cho người thầy phát huy mặt mạnh và khắc phục những mặt yếu của mỗi phương pháp vì không có phương pháp nào tối ưu. Mỗi khi thay đổi PPDH là đã thay đổi cách thức hoạt động tư duy của HS, thay đổi sự tác động vào các giác quan giúp cho các em lâu mệt mỏi khi đó sự tập trung học tập đạt ở mức cao nhất. Ngoài ra, mỗi HS khác nhau sẽ thích ứng với PPDH khác nhau. Với việc sử dụng đa dạng các phương pháp sẽ tạo điều kiện cho những dạng HS khác nhau lần lượt tìm thấy các tình huống có lợi trong các dạng hoạt động thích hợp với bản thân. Vì vậy mà việc kết hợp khéo léo, linh hoạt giữa các hình thức dạy học khác nhau như: ứng dụng hóa lí thuyết vào trong cuộc sống, kể chuyện vui, so sánh,… ở từng thời điểm thích hợp trong hoạt động học tập sẽ tạo không khí lớp sinh động, hứng thú và có nhiều cơ hội hoạt động tích cực hơn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, HS tiếp thu bài tốt hơn sẽ yêu mến môn học, tình cảm thầy trò ngày càng gắn bó.

- Động viên khuyến khích: Trong một lớp học thì luôn có sự chênh lệch về trình độ giữa các HS. Một GV chân chính thì luôn hướng tới cái đích mọi thành viên trong lớp đều hoạt động tốt. Nhưng phải làm thế nào đây khi các HS yếu kém thì rất là mặc cảm, e ngại trước những HS tốt hơn mình? Điều này đòi hỏi người thầy phải tuyệt đối lắng nghe, quan tâm và đặt mình vào vị trí của HS khi trả lời, không chế giễu nạt nộ mà luôn khuyến khích phát biểu. Có thể là ý kiến đó sai nhưng phải tạo điều kiện cho HS tự do ngôn luận và chỉ có thể can thiệp khi thật sự cần thiết; còn đối với các em học tốt hơn thì tạo mọi điều kiện để các em phát triển khả năng tư duy sáng tạo của mình. Chính sự quan tâm, động viên, cởi mở mà làm cho mối quan hệ thầy trò trở nên tốt đẹp, tạo bầu không khí thoải mái, bình đẳng cho lớp học, đây là môi trường phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS rất hiệu quả.

- Tăng thời gian hoạt động trong giờ học cho HS: Giảm thuyết trình của GV, tăng đàm thoại giữa thầy và trò, ưu tiên cho HS được thảo luận, tranh luận nhiều. Khi HS tự nghiên cứu SGK tại lớp cần yêu cầu HS trả lời những câu hỏi tổng hợp đòi hỏi phải so sánh, khái quát hóa, suy luận, cần nêu những câu hỏi yêu cầu HS phải đầu tư suy nghĩ thêm chứ không chỉ lấy từ SGK. GV cần biết xác định đúng và nắm vững trọng tâm bài học, giảm bớt thời gian dành cho phần dễ và tương đối đơn giản để có đủ thời gian tập trung vào những phần trọng tâm của bài. Tăng cường cho HS đánh giá lẫn nhau để học hỏi kinh nghiệm và bổ sung hoàn thiện thêm kiến thức cho mình. Đối với GV từng bước đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, coi trọng những biểu hiện sáng tạo của HS, coi trọng những kỹ năng thực hành cũng như kỹ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn để kích thích tích cực hoạt động trong tư duy sáng tạo của mình.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp 4.1. TÍNH ĐẶC THÙ CỦA PPDH TÍCH CỰC Ở TIỂU HỌC

1.4.1. Khái niệm phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học

Các tác giả Đào Thái Lai, Đỗ Tiến Đạt, Phạm Thanh Tâm, Trần Ngọc Giao, Trần Luận đã quan niệm về phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học trong tài liệu [3, tr80-81] như sau:

1.4.1.1. Phương pháp dạy học

Có rất nhiều định nghĩa về PPDH nhưng có một cách định nghĩa phù hợp với đổi mới PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS để HS lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định.

PPDH bao gồm hai mặt hoạt động: hoạt động của thầy và hoạt động của trò, trong đó thầy giữ vai trò chỉ đạo còn trò giữ vai trò chủ động, tích cực. PPDH luôn được đặt trong mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và những điều kiện khác.

1.4.1.2. Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học

PPDH tích cực là một cách nói ngắn gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. “Tích cực” trong PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo trái nghĩa với tiêu cực.

Người ta thường dùng các khái niệm như: tư duy tích cực, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo để chỉ ba mức độ tư duy khác nhau của HS. Mức độ tư duy đi trước là sẽ tiền đề cho mức độ tư duy đi sau. Có thể mô tả các mức độ tư duy này dưới dạng hình tròn đồng tâm như hình sau:

1.1. Mô hình thể hiện các mức độ tư duy của HS tiểu học [3, tr 81]

1.4.2. Đặc trưng của phương pháp dạy học theo hướng tích cực

Các tác giả Đặng Quốc Bảo, Đinh Thị Kim Thoa với tài liệu [3, tr22-24] đã đưa ra một số dấu

hiệu đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực như sau:

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

1.4.2.1. Tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú

Tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú để giúp HS lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng. Điều này có nghĩa là phải tổ chức cho HS hoạt động một cách tích cực, HS là người tham gia các hoạt động ấy, chúng tự tìm tòi, khám phá... dưới sự hướng dẫn của GV. Ví dụ : HS phải trao đổi, thảo luận để giải quyết nhiệm vụ, HS được đóng vai, được tham gia vào trò chơi học tập, đóng kịch diễn xuất... GV chú ý cho HS nhiều cơ hội thực hành, thực tập, được thể hiện, được phát biểu trên lớp...

1.4.2.2. Tổ chức các hoạt động phát triển khả năng tự học của HS

Tổ chức hướng dẫn HS cách tự học, cách đọc sách, cách lấy thông tin, cách phân tích và hiểu thông tin, cách quan sát hiện tượng xung quanh... Tự học là kĩ năng quan trọng nhất cần hình thành ở người học. Nếu HS không có kĩ năng này thì việc học gặp rất nhiều khó khăn, và HS rất ít có khả năng sáng tạo sau này. Phần lớn những kiến thức và kinh nghiệm có được trong cuộc đời nhờ vào việc tự học.

1.4.2.3. Tổ chức hoạt động khám phá bằng cách đưa ra một hệ thống các câu hỏi

hướng dẫn HS tìm ra được kết quả

Những câu hỏi của GV có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với HS. HS có sự hứng thú, tò mò hay không? HS có tìm được câu trả lời hay không? HS có cảm giác chiến thắng khi tìm thấy kết quả hay không? Tất cả những điều này phụ thuộc vào chính những câu hỏi của GV. Có những câu hỏi tạo ra sự tích cực. Và cũng có những câu hỏi không gây nên phản ứng gì. Vậy câu hỏi nên như thế nào? Hiệu quả của những câu hỏi phụ thuộc vào những kĩ năng đặt câu hỏi sau đây :

Mười kĩ năng đặt câu hỏi :

1) Bạn đặt những câu hỏi mà HS có thể trả lời được không? 2) Bạn có để cho HS có đủ thời gian để trả lời không? 3) Bạn có sử dụng ngôn ngữ cử chỉ (ánh mắt, nụ cười, nhướng lông mày, gật đầu...) để khuyến

khích HS trả lời không?

4) Bạn có khen ngợi hay ghi nhận câu trả lời đúng của HS không? 5) Bạn có tránh làm cho HS ngại ngùng với câu trả lời của mình không? 6) Nếu không có ai trả lời, bạn có thể đặt một câu hỏi khác đơn giản hơn nhằm gợi mở cách trả

lời câu hỏi ban đầu không?

7) Câu hỏi của bạn có ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu không? 8) Bạn có tránh được việc chuyên sử dụng các câu hỏi ghi nhớ không? 9) Bạn có thể phân phối câu hỏi đều cả lớp không? 10) Trong khi giảng bài, bạn có khả năng đặt hai câu hỏi mỗi phút không?

1.4.2.4. Linh hoạt trong phương pháp và ứng xử sư phạm

Sự linh hoạt trong sử dụng PPDH, ứng xử sư phạm để thích ứng với sự thay đổi của đối tượng và hoàn cảnh là yếu tố quan trọng cho sự thành công của mỗi bài dạy. Phối hợp nhiều PPDH sẽ giúp cho HS đỡ nhàm chán và có hứng thú hơn với môn học, đặc biệt trẻ càng nhỏ, sự luôn thay đổi càng

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp cần thiết. Hơn nữa sự phong phú về PPDH sẽ đáp ứng được yêu cầu giáo dục cá biệt và đáp ứng được lớp học đông người. Mỗi HS có những thói quen hoạt động trí óc khác nhau nên một PPDH chỉ có thể phù hợp với một số đối tượng nhất định. Linh hoạt trong sử dụng nhiều PPDH sẽ giúp cho mọi HS đều có cơ hội bình đẳng trong lĩnh hội kiến thức và kĩ năng kĩ xảo.

1.4.2.5. Luôn kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng đạt được ở HS

Kiểm tra và đánh giá là khâu then chốt của quá trình dạy học. Đánh giá vừa nhằm mục đích xác định mức độ năng lực và kiến thức được hình thành ở người học, vừa giúp người thầy điều chỉnh hoạt động dạy của mình. Sự đánh giá của thầy về kết quả học của trò dần phải chuyển sang thành kĩ năng tự đánh giá ở trò. Sự tự đánh giá giúp cho sự phát triển khả năng tự học của HS. Đánh giá phải theo những hình thức đơn thuần… Tóm lại, đánh giá mang tính tích cực sẽ dẫn đến dạy và học tích cực.

1.4.3. Những PPDH tích cực cần được phát triển ở các môn học Toán, Tiếng Việt, Đạo

Đức, TN-XH [3]

Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi đã liệt kê những PPDH tích cực cần được phát triển ở

các môn học Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH như sau:

Môn Toán Môn Tiếng Việt

Phương pháp phát hiện và giải quyết Phương pháp phân tích ngôn ngữ

vấn đề Phương pháp thực hành giao tiếp

Phương pháp dạy học theo nhóm Phương pháp rèn luyện theo mẫu

Phương pháp dạy học kiến tạo Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp trò chơi

Môn Đạo đức Môn TN-XH

Phương pháp thảo luận Phương pháp động não

Phương pháp điều tra Phương pháp đóng vai

Phương pháp đóng vai Phương pháp trò chơi

Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp kể chuyện

Phương pháp giải quyết vấn đề

Phương pháp dự án

Sau đây, chúng tôi trình bày ví dụ về những kĩ thuật cần thiết khi sử dụng một số PPDH tích

cực:

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

1.3.4.1. Phương pháp dạy học theo nhóm (trong môn Toán) [3, tr 90-93]

a. Khái niệm

Là phương pháp dạy học mà trong đó GV tổ chức cho HS hoạt động hợp tác với nhau trong

các nhóm nhằm đạt được mục tiêu học tập.

b. Các bước tiến hành

- Tổ chức thành lập các nhóm. Danh sách các nhóm, nhóm trưởng.

- Đề ra nhiệm vụ: GV xác định nhiệm vụ của từng nhóm và cách tiến hành hoạt động của các nhóm (trong trường hợp tất cả các nhóm đều thực hiện một nhiệm vụ thì việc giao nhiệm vụ có thể đưa lên bước 1).

- Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.

- Các đại diện nhóm trình bày kết quả, nhận xét, bổ sung, đánh giá.

- Hoạt động chung cả lớp (nếu cần thiết), GV tổ chức chốt lại các kiến thức mới xuất hiện,

đánh giá hoạt động học tập của các nhóm.

* Kĩ thuật chia nhóm:

- Kích cỡ của nhóm : tuỳ theo nhiệm vụ và yêu cầu, huy động số người tham gia thực hiện

nhiệm vụ mà xác định số người trong nhóm.

- Thành phần trong nhóm:

+ Nhóm theo cùng trình độ năng lực: nhóm HS khá giỏi, nhóm HS trung bình, nhóm HS yếu. Thông thường, nhiệm vụ giao cho các nhóm loại này là những bài tập nhằm mục đích ôn tập củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Các loại bài tập dành cho các nhóm sẽ có mức độ khó, dễ khác nhau.

+ Nhóm theo khu vực ở của gia đình.

+ Nhóm theo sở thích bạn bè.

+ Nhóm theo cấu trúc tổ chức của lớp (tổ,...).

+ Nhóm theo chỗ ngồi (cùng bàn, cùng các bàn gần nhau...).

+ Nhóm chọn ngẫu nhiên.

+ Nhóm hỗn hợp gồm cả HS khá, giỏi, trung bình, yếu ; gồm cả nam và nữ,...

c. Ưu điểm

- Hoạt động lao động hợp tác theo nhóm, hoạt động giao tiếp và có tính tích hợp là đặc điểm nổi bật của công việc lao động trong tương lai. Giúp phát triển những năng lực của người lao động hiện đại.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

- Tăng cơ hội thảo luận, trao đổi, hợp tác để từ đó hiểu sâu sắc kiến thức hơn, nâng cao chất

lượng học tập của từng HS.

- Tăng cường sự đoàn kết trong công việc chung.

- Tin tưởng và có ý thức tương trợ bạn, có điều kiện học hỏi lẫn nhau.

- Tự khẳng định bản thân.

- Tạo môi trường để HS giúp đỡ nhau trong học tập. HS kém có điều kiện học tập các bạn

trong nhóm, có điều kiện tiến bộ trong quá trình liên tục hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

- Tăng cường tính tích cực trong học tập, phát triển sự sáng tạo của HS. Tạo cơ hội cho mọi

HS được tham gia phát biểu, phân tích, phê phán, trình bày, tranh cãi, hoạt động,...

d. Nhược điểm

- Sẽ gây ra một số tác động có hại nếu tổ chức nhóm không tốt như:

+ Có nhiều bạn không thực sự làm việc, chỉ dựa vào thành quả của người khác.

+ Nhóm làm sai mục đích.

+ Nhóm không đoàn kết dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ.

+ Nhóm trưởng không điều hành được công việc chung.

- Mất thời gian.

- Gây ồn.

- Việc áp dụng PPDH này bị hạn chế bởi:

+ Không gian chật hẹp của từng lớp học.

+ Thời gian hạn định của tiết học.

e. Một số lưu ý

- Khi tổ chức dạy học theo nhóm, cần chú ý phân công hợp lí để mọi thành viên trong nhóm

đều tích cực làm việc.

- Không phải bất cứ lúc nào, việc sử dụng PPDH này cũng đạt hiệu quả cao. Trong một số

trường hợp sau, có thể tổ chức dạy học theo nhóm:

+ Khi phải tiến hành một công việc phức tạp gồm nhiều vấn đề nhỏ hơn, một người không thể

làm hết trong khoảng thời gian ngắn.

+ Tổ chức thảo luận nhằm định hướng và đưa ra cách giải quyết một vấn đề nào đó.

+ Thực hành đo các đại lượng

+ Thực hiện nhiệm vụ thu thập số liệu thống kê.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

+ Cần tổ chức thử nghiệm trong nhiều trường hợp để từ đó quan sát kết quả để đi đến kết luận

mang tính quy luật về một số vấn đề cần đến đo đạc, tính toán.

+ Tổ chức trò chơi theo nhóm

- Không nên lạm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức.

1.3.4.2. Phương pháp thực hành giao tiếp (trong môn Tiếng Việt)[1]

a. Khái niệm

Là phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích HS vận dụng ngôn ngữ đã biết một cách tự do và sáng tạo thông qua các bài tập tình huống giao tiếp đa dạng, cụ thể. Phương pháp này được sử dụng sau khi HS đã nắm lý thuyết, hoặc đã được luyện tập theo mẫu dưới sự giám sát chặt chẽ của GV.

b. Các bước tiến hành

- GV tạo tình huống giao tiếp

- Hướng dẫn HS định hướng giao tiếp: nói về cái gì, nói cho ai, nói để tạo những tác động gì? (

Tạo lập mối quan hệ và hành vi ngôn ngữ thích hợp)

- HS chọn lựa các kỹ năng giao tiếp và ngôn từ thích hợp (từ dùng, phong cách, cách sắp xếp

ý/ ngôn từ…)

- HS thể hiện giao tiếp theo hình thức đơn thoại hoặc đối thoại trong hoạt động học tập theo

cặp hay nhóm.

- GV và HS nhận xét đánh giá.

c. Ưu điểm

- Là con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất giúp HS nắm được các quy tắc sử dụng ngôn ngữ

trong giao tiếp để có thể giao tiếp hiệu quả.

- Nội dung học tập sinh động, thiết thực với đời sống, vì thế HS hứng thú học tập hơn.

d. Nhược điểm

- Nếu GV không chuẩn bị chu đáo hoặc thiếu bản lĩnh sư phạm, không có cách thức tổ chức và

hướng dẫn chặt chẽ và thích hợp thì giờ dạy dễ trở nên lộn xộn, rời rạc, có vẻ thiếu tính mục đích.

- Khó thực hiện được với lớp có sĩ số đông, cơ sở vật chất như tài liệu tham khảo, phương tiện

trực quan, cách bố trí bàn ghế lớp học không tương thích.

e. Một số lưu ý

- Không nên đưa ra những tình huống giả định mà cần đưa ra những tình huống giao tiếp thực.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

- Lựa chọn kiến thức, tài liệu sao cho phù hợp với thực tiễn giao tiếp (phù hợp với đối tượng,

với lứa tuổi, với thời đại,…)

Việc thực hiện PPDH thực hành giao tiếp muốn đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có những điều

kiện nhất định: môi trường, nhân vật, trang thiết bị,… phù hợp.

1.3.4.3. Phương pháp đóng vai (trong môn Đạo đức) [5, tr61-63]

a. Khái niệm

Là phương pháp làm cho HS lĩnh hội chuẩn mực hành vi đạo đức bằng cách thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được.

b. Các bước tiến hành

* Chuẩn bị:

- Xác định mục tiêu bài giảng và nội dung của chuẩn mực hành vi đạo đức.

- Phân định các vai, vai trò, chức năng, hoạt động của vai.

- Chuẩn bị tổ chức và xây dựng các dụng cụ, thiết bị (nếu cần phải có).

- Dự kiến kế hoạch thực hiện.

* Triển khai:

- Nêu yêu cầu của việc tổ chức đóng vai.

- GV nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm. Trong đó có

quy định rõ ràng về thời gian chuẩn bị; thời gian đóng vai của mỗi nhóm.

- Các nhóm thảo luận đóng vai.

- Tổ chức cho vai diễn:

+ GV chỉ đạo cho hoạt động từng vai.

+ HS thể hiện vai diễn.

+ Lớp thảo luận, nhận xét các vai diễn.

+ GV góp ý, điều chỉnh, nhận xét và hướng dẫn mở rộng phạm vi sang thảo luận những vấn đề

khái quát hơn hay những vấn đề mà vở diễn chứng minh.

+ GV gợi ý sự tham gia vai diễn của HS khác.

- Nhận xét và tổng kết của GV

+ Sự tham gia của HS.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

+ Diễn xuất của HS.

+ So sánh với thực tế.

+ Nhấn mạnh lại nội dung của chuẩn mực hành vi đạo đức.

c. Ưu điểm

- Truyền thụ chuẩn mực hành vi đạo đức một cách sinh động, thực tế.

- Thu hút sự chú ý, tập trung của HS.

- Tạo sự gắn bó, phối hợp giữa các HS.

- HS phải tích cực hoạt động nhận thức, đánh giá.

d. Nhược điểm

- Khó có điều kiện đi sâu vào chuẩn mực hành vi đạo đức.

- Khó thực hiện đối với bài giảng có nội dung phức tạp, nhiều vấn đề hoặc lớp đông quá.

- Tốn thời gian, công sức chuẩn bị.

- Tổ chức lớp học phức tạp.

e. Điều kiện sư phạm

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề đạo đức, phù hợp với lứa tuổi, trình độ HS và

điều kiện, hoàn cảnh lớp học.

- Phân định các vai, xác định vai trò, chức năng, sự hoạt động của các vai phải chính xác, phù

hợp với nội dung kiến thức và thời gian phù hợp để các nhóm chuẩn bị.

- Tình huống nên để mở, không cho trước “kịch bản”, lời thoại.

- Có sự chuẩn bị chu đáo các thiết bị (nếu cần thiết).

- Hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ cho các vai diễn để người đóng vai của mình trong bài tập không bị

lạc đề.

- Động viên HS tham gia sắm vai và nhận xét đánh giá, đặc biệt đối với HS nhút nhát.

- Luôn có sự hướng dẫn, điều chỉnh phù hợp với chuẩn mực đạo đức.

- Nêu rõ những sai lầm có thể mắc phải trong vai diễn.

1.3.4.4. Phương pháp điều tra (trong môn TNXH) [1]

a. Khái niệm

Phương pháp điều tra là cách tổ chức và hướng dẫn HS tìm hiểu một vấn đề và sau đó dựa trên các thông tin thu thập được tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa để rút ra các kết luận, nêu ra các giải pháp hoặc kiến nghị.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

b. Các bước tiến hành

Xây dựng kế hoạch điều tra có thể tiến hành theo sự gợi ý về các bước sau đây:

- GV nêu vấn đề (đề tài)

- Thời lượng

- Tổ chức điều tra: Tổ chức điều tra theo cá nhân hoặc nhóm. Mỗi nhóm, có nội dung điều tra

khác nhau nhưng cũng có thể có nhóm cùng một nội dung điều tra để tổ chức thi đua.

- Nội dung điều tra (tùy theo đề tài)

- Các hình thức thu thập thông tin:

+ Quan sát tại hiện trường hoặc quan sát trực tiếp đối tượng

+ Phỏng vấn: Phỏng vấn miệng, phỏng vấn bằng phiếu

+ Lập bảng, biểu thống kê

+ Thu thập: Hiện trường, tư liệu, tranh ảnh, sách báo…

- Xử lí thông tin

+ Phân tích

+ So sánh

c. Ưu điểm

- GV dẫn dắt HS tham gia một hình thức hoạt động độc lập, mang tính sáng tạo nhằm chuẩn bị

cho họ năng lực nghiên cứu sau này.

- Hình thành cho HS kĩ năng thu thập thông tin, truyền đạt thông tin, làm việc có kế hoạch, hợp tác, sử dụng các phương pháp toán học và sơ đồ hóa, đề xuất giải pháp để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau này.

- Tạo điều kiện cho HS hiểu rõ thực tế địa phương, từ đấy giúp các em thêm yêu quê hương,

đất nước.

d. Nhược điểm

- Khó khăn trong việc quản lý và tổ chức học tập của HS tại hiện trường.

- Bị động bởi thời tiết

- Mất nhiều thời gian ở khâu chuẩn bị và triển khai

e. Một số lưu ý

- GV phải tìm hiểu trước địa điểm để tổ chức cho HS đến điều tra.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

- GV giao nhiệm vụ học tập cho HS một cách rõ ràng, cụ thể. Đối với HS tiểu học nên có

phiếu gợi ý cho HS ghi chép.

Tổng kết chương 1

Ở chương này chúng tôi đã hệ thống hóa những tài liệu liên quan đến PPDH tích cực nói

chúng và PPDH tích cực ở tiểu học nói riêng làm cơ sở lí luận cho đề tài. Cụ thể như sau:

- Xu hướng đổi mới PPDH hiện nay nói chung và những định hướng đổi mới PPDH ở tiểu

học nói riêng.

- Các khái niệm cơ bản như: Tính tích cực, tích cực hóa, PPDH ở tiểu học, PPDH tích cực ở

tiểu học.

- Những biểu hiện, vai trò và biện pháp tăng cường tính tích cực của HS.

- Đặc thù của PPDH tích cực ở tiểu học và một số PPDH cần phát triển ở các môn học

Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH.

Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở lí luận để chúng tôi thiết kế các phiếu khảo sát làm cơ sở

tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC PPDH TÍCH CỰC

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC

TẠI TP.HCM

2.1. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC PPDH TÍCH CỰC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TẠI TP.HCM

2.1.1. Mục đích khảo sát

Tìm hiểu thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM.

2.1.2. Nội dung khảo sát

 Mức độ nhận thức, thái độ, kĩ thuật của GV tiểu học tại một số trường tiến hành khảo sát đối với các PPDH tích cực ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, TN-XH.  Mức độ sử dụng các PPDH tích cực ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, TN-XH của GV tiểu học tại một số trường tiến hành khảo sát.  Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học hiện có của một số trường tiểu học tiến hành khảo sát.  Những biện pháp nhằm khuyến khích, động viên GV sử dụng các PPDH tích cực của các nhà quản lý ở một số trường tiểu học tiến hành khảo sát.  Mức độ hứng thú của HS đối với các PPDH tích cực.

2.1.3. Phương pháp và đối tượng khảo sát

 Phương pháp khảo sát : Để khảo sát thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Dùng phiếu khảo sát: gồm có 4 loại phiếu sau:

+ 2 loại phiếu khảo sát được thiết kế dưới dạng câu hỏi đóng dành cho GV: người được khảo sát chỉ cần đánh dấu (X) vào các ô sẵn. Các phiếu này dùng để khảo sát mức độ nhận thức, thái độ và kĩ thuật của GV tiểu học đối với các PPDH tích cực. [xem phụ lục 1]

+ 1 loại phiếu khảo sát được thiết kế dưới dạng câu hỏi mở dành cho GV: người được khảo sát tự do trả lời theo nhận định của bản thân. Loại phiếu này chúng tôi dùng để khảo sát về tình hình cơ sở vật chất, phương tiện dạy học ở các trường tiểu học; những khó khăn, thuận lợi của GV tiểu học khi sử dụng các PPDH tích cực và những biện pháp mà các nhà quản lý đã sử dụng để động viên, khuyến khích GV sử dụng PPDH tích cực,… [xem phụ lục 1]

+ 1 loại phiếu khảo sát được thiết kế dưới dạng câu hỏi mở dành cho HS tiểu học, khảo sát

mức độ hứng thú của HS đối với các PPDH tích cực. [xem phụ lục 1]

- Quan sát: ghi nhận lại tình hình cơ sở vật chất, phương tiện dạy học ở một số trường tiểu học

và dự giờ một số tiết dạy bao gồm tiết học mẫu và tiết học bình thường.

- Phỏng vấn: sử dụng hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin từ các nhà quản lý, tổ trưởng chuyên môn ở các trường tiểu học về mức độ nhận thức, thái độ, kĩ thuật của các GV như thế nào và tình

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp hình cơ sở vật chất, phương tiện dạy học cũng như các biện pháp họ đã sử dụng để động viên, khích lệ GV trong việc đổi mới PPDH hiện nay. [xem phụ lục 2]

- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp xử lý phiếu khảo sát: thống kê các kết quả thu

thập được, sau đó biểu diễn dưới dạng biểu đồ hình cột và hình tròn.  Đối tượng khảo sát: các nhà quản lý chuyên môn, GV và HS lớp 4, 5 ở các trường tiểu học trên địa bàn TP.HCM.

2.1.4. Tiến trình khảo sát

 Tiến hành phỏng vấn 4 nhà quản lý chuyên môn, 7 GV khối trưởng của một số trường tiểu học tiến hành phát phiếu khảo sát.

 Gửi phiếu khảo sát đến các GV và HS lớp 4, 5 ở một số trường tiểu học tại quận 1, quận 3, quận 5, quận 10, quận 12 và quận Tân Bình ở TP.HCM vào tháng 3 năm 2010. Kết quả:

- Số phiếu khảo sát đối với GV: 200 phiếu

- Số phiếu khảo sát đối với HS: 213 phiếu.

 Dự giờ 20 tiết dạy (15 tiết dạy mẫu và 5 tiết dạy bình thường) của GV tại trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

2.1.5. Kết quả khảo sát

2.1.5.1. Khảo sát bằng phiếu

Đối với GV tiểu học ở một số trường tại TP.HCM

Chúng tôi đã thiết kế phiếu khảo sát dưới dạng câu hỏi đóng, GV chỉ cần đánh dấu (X) vào ô lựa chọn. Trong phiếu này gồm những nội dung khảo sát như: khảo sát mức độ nhận thức của GV tiểu học về các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực; khảo sát thái độ, kĩ thuật của GV tiểu học khi sử dụng các PPDH tích cực đó. Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi đã thu được kết quả cụ thể như sau:

2.1.5.1.1. Khảo sát nhận thức của GV tiểu học đối với những vấn đề liên quan đến PPDH tích

cực ở tiểu học

Về nhận thức, chúng tôi đã khảo sát mức độ biết, hiểu mười vấn đề liên quan đến PPDH tích cực ở tiểu học như: Định hướng chính trong đổi mới PPDH hiện nay, khái niệm tính tích cực, tầm quan trọng của các PPDH tích cực, mục đích của từng PPDH tích cực, ưu và nhược điểm của từng PPDH tích cực ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

100%

80%

60%

40%

Không biết Biết chút ít Biết rõ

20%

0%

Quận 1 Quận 3 Quận 5 Quận

Quận 12

10

Quận Tân Bình

2.1. Biểu đồ thể hiện mức độ biết của GV tiểu học đối với các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực

100%

80%

60%

40%

Không hiểu Hiểu chút ít Hiểu rõ

20%

0%

Quận 1 Quận 3 Quận 5 Quận 10 Quận 12

Quận Tân Bình

2.2. Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu của GV tiểu học đối với các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực

Dựa vào biểu đồ trên, nhìn chung GV đã nhận thức được các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực ở nhà trường tiểu học. Khoảng 75,5% GV biết và 71,5% GV hiểu rõ các vấn đề này. Tìm hiểu cụ thể hơn mức độ nhận thức của GV ở từng vấn đề thì có đến 83,5% GV biết rõ và 81,3% hiểu rõ khái niệm PPDH tích cực ở tiểu học [xem phụ lục 3]. Một tín hiệu đáng mừng về nhận thức của GV tiểu học tại các trường tiến hành khảo sát là có đến 80,5% GV biết rõ, hiểu rõ tầm quan trọng của các PPDH tích cực đối với việc dạy và học hiện nay [xem phụ lục 3]. Vì chính nhận thực về vấn đề này của GV sẽ ảnh hướng rất lớn đến mức độ sử dụng các PPDH tích cực này vào quá trình giảng dạy của bản thân. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số GV có nhận thức chưa tốt; vẫn chưa biết rõ và hiểu rõ, thậm chí là không biết, không hiểu những vấn đề như những định hướng chính trong đổi mới cách thực hiện PPDH tích cực ở tiểu học, mục đích sử dụng các PPDH tích cực, ưu và nhược điểm của từng PPDH tích cực,… Điển hình ở vấn đề Ưu và nhược điểm của các PPDH tích cực thì có đến 26,8% GV chỉ biết chút ít và 29,9% hiểu chút ít và ở vấn đề Các PPDH tích cực trong môn Đạo đức thì gần 3% GV không hề biết và hiểu.[xem phụ lục 3]

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Tiến hành so sánh mức độ nhận thức của GV theo từng địa bàn khảo sát thì chúng tôi nhận thấy: nhận thức của GV ở các quận tiến hành khảo sát có sự chênh lệch nhưng đây là chênh lệch không quá lớn. Các trường tiểu học chúng tôi khảo sát ở quận Tân Bình tuy khá nhỏ, số lượng GV không đông nhưng nhận thức của các GV về những vấn đề liên quan đến PPDH tích cực có nét vượt trội hơn so với các trường tiểu học trên địa bàn khác. Cụ thể như tỉ lệ GV biết rõ, hiểu rõ các vấn đề là khoảng 85,3% và 82,1% và tỉ lệ GV không hề biết, không hề hiểu các vấn đề cũng rất nhỏ (1%) [xem phụ lục 3]. Trong khi đó quận 3 và quận 10 thì nhận thức của GV còn rất nhiều hạn chế (chỉ có 66,2% và 67,3% GV biết rõ và hiểu rõ các vấn đề). Riêng quận 12, đây là địa bàn cách khá xa trung tâm thành phố, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng hầu hết GV ở đây nhận thức khá tốt. Quan sát trên biểu đồ, GV không hề biết, không hề hiểu chiếm tỉ lệ rất nhỏ đến nỗi không thể nhận thấy được.

Từ những kết quả nêu trên, chúng tôi nhận thấy GV tiểu học tại các trường tiến hành khảo sát có nhận thức khá tốt về các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần được khắc phục.

2.1.5.1.2. Khảo sát thái độ của GV tiểu học đối với việc sử dụng các PPDH tích cực ở các môn

Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, TN-XH

Một trong những biểu hiện về thái độ mà GV tiểu học cần có đối với các PPDH tích cực là sự hứng thú với các PPDH này. Vì vậy chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ hứng thú của GV tiểu học đối với việc sử dụng các PPDH tích cực ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH.

5% 1%

48%

46%

Rất hứng thú Hứng thú Ít hứng thú Không hứng thú

2.3. Biểu

đồ thể hiện mức độ hứng thú của GV tiểu học đối với các PPDH tích cực

Quan sát biểu đồ, dễ dàng nhận thấy tỉ lệ GV tiểu học rất hứng thú với các PPDH tích cực có đến 48% và dừng ở mức độ hứng thú là 46%. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn đến 6% GV ít hứng thú, thậm chí không hứng thú với các PPDH này. Ở kết quả khảo sát này, chúng tôi không tiến hành so sánh mức độ hứng thú của GV tiểu học theo địa bàn vì sự khác biệt giữa các địa bàn không nhiều và hầu hết những GV không hứng thú với các PPDH tích cực rải đều ở các trường tiểu học khảo sát.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Như đã nói ở trên, hứng thú là một trong những biểu hiện của thái độ quan trọng mà người GV cần phải có. Vì vậy chính mức độ hứng thú này của GV tiểu học cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ sử dụng của GV đối với các PPDH tích cực. Kết quả khảo sát mức độ sử dụng các PPDH của GV mà chúng tôi đã thu được như sau:

100%

Không bao giờ

80%

Rất ít khi

60%

Thỉnh thoảng

40%

Thường xuyên

20%

Rất thường xuyên

0%

Quận 1 Quận 3 Quận 5 Quận 10 Quận 12 Quận Tân Bình

2.4.

Biểu đồ thể hiện mức độ sử dụng các PPDH tích cực của GV tiểu học

Dựa vào biểu đồ, tỉ lệ GV tiểu học sử dụng rất thường xuyên các PPDH tích cực chỉ dừng ở khoảng 25% và có khoảng 49,8% GV tiểu học thì sử dụng thường xuyên. Và điều đáng mừng là tỉ lệ GV không bao giờ sử dụng các PPDH tích cực xuất hiện một phần rất nhỏ trên biểu đồ. Tuy nhiên vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan mà vẫn còn một số GV chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng các PPDH này (khoảng 21%), và không ít GV rất ít khi sử dụng hoặc không bao giờ sử dụng (khoảng 4%). Như đã nói ở trên, mức độ hứng thú của GV tiểu học ở các trường không khác biệt nhiều. Nhưng mức độ sử dụng của GV tiểu học theo từng địa bàn thì lại chênh lệch khá nhiều. So với các địa bàn khác, quận 3 và quận 10 có tỉ lệ GV thỉnh thoảng và rất ít khi sử dụng các PPDH tương đối cao. Quận 3 có khoảng 28% GV tiểu học thỉnh thoảng hoặc rất ít khi sử dụng. Đặc biệt là ở quận 10, đây là quận có tỉ lệ GV ít khi sử dụng các PPDH tích cực cao (gần 10%).

Sau đây chúng tôi xin trình bày mức độ sử dụng các PPDH tích cực ở từng môn học của GV

tiểu học:

Ở môn Toán, PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề được 30,8% GV rất thường xuyên sử dụng; 52% GV thường xuyên sử dụng. Tỉ lệ GV rất ít khi sử dụng PPDH kiến tạo khá cao (7,5%).[xem phụ lục 3]

Ở môn Tiếng Việt, PPDH thực hành giao tiếp được 49,5% GV rất thường xuyên sử dụng. 51,3% GV thường xuyên sử dụng PPDH thảo luận nhóm và có đến 22,8% GV thỉnh thoảng sử dụng PPDH trò chơi. [xem phụ lục 3]

Riêng trong môn Đạo đức và TN-XH thì có hai PPDH ít được GV sử dụng, đó là PPDH dự án (Đạo đức) và PPDH điều tra (TN-XH). PPDH dự án có đến 43,7% GV thỉnh thoảng sử dụng,

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp 24,8% GV ít khi sử dụng và 3,6% GV không bao giờ sử dụng. PPDH điều tra ở môn TN-XH thì 40,6% GV thỉnh thoảng sử dụng, 8% GV ít khi sử dụng và 5% GV không bao giờ sử dụng. [xem phụ lục 3]

Như vậy, có thể nhận thấy bên cạnh những GV tiểu học có thái độ tốt vẫn còn tồn tại một số GV chưa có thái độ đúng mực đối với các PPDH tích cực nói riêng và với xu hướng đổi mới PPDH hiện nay nói chung. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến việc đổi mới PPDH theo hướng tính cực hóa ở nhà trường tiểu học.

2.1.5.1.3. Khảo sát kĩ thuật của GV tiểu học khi sử dụng các PPDH tích cực ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, TN-XH

Để thực hiện một tiết dạy có sử dụng các PPDH tích cực thì đòi hỏi người GV phải nắm vững kĩ thuật và phải rất thành thạo, khéo léo trong việc phối hợp các PPDH với nhau. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát mức độ thành thạo (rất thành thạo, thành thạo, không thành thạo) của GV đối với từng PPDH tích cực của từng môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH)

100%

80%

60%

40%

Không thành thạo Thành thạo Rất thành thạo

20%

0%

Quận 1

Quận 3

Quận 5

Quận 10

Quận 12

Quận Tân Bình

2.5. Biểu đồ thể hiện mức độ sử dụng thành thạo cácPPDH tích cực của GV tiểu học

Qua khảo sát cho thấy phần lớn GV chỉ dừng lại ở mức độ thành thạo (60% GV). Tỉ lệ GV có mức độ sử dụng rất thành thạo còn rất thấp (khoảng 35% GV) và có đến gần 5% GV không thành thạo khi sử dụng các PPDH tích cực. Riêng ở các trường tiểu học ở địa bàn quận 3 thì có đến 28% GV không thành thạo một số PPDH tích cực.

Cụ thể từng PPDH ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH: Ở môn Toán, PPDH kiến tạo chỉ có 18,2% GV sử dụng rất thành thạo và có đến 9,4% GV sử

dụng không thành thạo.

Ở môn Tiếng Việt, PPDH thảo luận nhóm có 47,3% GV sử dụng rất thành thạo; 5,1% GV sử

dụng không thành thạo PPDH trò chơi.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Riêng ở môn Đạo đức và TN-XH thì PPDH dự án (trong môn Đạo đức) và PPDH điều tra (trong môn TN-XH) có tỉ lệ GV không thành thạo khá cao. PPDH dự án có đến 23,6% GV sử dụng không thành thạo và 11,5% không thành thạo khi sử dụng PPDH điều tra. Ngoài ra ở môn Đạo Đức, có một PPDH tích cực mà GV vẫn chưa thành thạo khi sử dụng như PPDH động não, PPDH đóng vai, PPDH trò chơi,… [xem phụ lục 3]

Kĩ thuật sử dụng các PPDH sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mức độ và hiệu quả của sử dụng của GV tiểu học. Tuy nhiên, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có một số PPDH tích cực GV chưa thể sử dụng thành thạo. Đối với HS tiểu học ở một số trường tại TP.HCM

Chúng tôi thiết kế phiếu khảo sát dành cho HS dưới dạng câu hỏi mở, HS sẽ đánh dấu (X) vào mức độ hứng thú phù hợp với bản thân cho từng PPDH tích cực của các môn học Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH. Kết quả thu được như sau:

2%

16%

Rất hứng thú

49%

Hứng thú

Ít hứng thú

Không hứng thú

33%

2.6. Biểu đồ thể hiện mức độ hứng thú của HS lớp 4,5 đối với các PPDH tích cực

HS lớp 4 và 5 còn tương đối nhỏ nên các em chưa thể nhận thức được hết tất cả các PPDH tích cực. Nhưng nhờ GV giải thích và hướng dẫn nên chúng tôi thu được số liệu khá chính xác. Từ biểu đồ trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết HS (82% HS) đều rất hứng thú hoặc hứng thú với các PPDH tích cực mà GV sử dụng trong quá trình dạy học. Bên cạnh đó cũng còn một số ít HS ít hứng thú hoặc không hứng thú với các PPDH tích cực (18%HS). Điều này cũng có ảnh hưởng đến việc sử dụng PPDH tích cực của GV tiểu học.

Hầu hết HS đều rất hứng thú hoặc hứng thú với các PPDH tích cực mà GV sử dụng trong quá trình dạy học. Trong đó, PPDH tích cực mà hầu hết HS đều rất hứng thú là PPDH trò chơi ở môn Tiếng Việt (93%HS) và môn Đạo đức (84,5%HS). [xem phụ lục 3]

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Ngoài ra, PPDH đóng vai ở môn Đạo đức cũng được nhiều HS rất hứng thú (72,3%HS). Khi được hỏi “Tại sao lại hứng thú với phương pháp này?” thì đa số HS đều trả lời “Vì các bạn xử lý tình huống hay và diễn xuất rất tự nhiên, hài hước”.

Ở một số lớp mà GV có sử dụng PPDH dự án thường xuyên thì HS rất hứng thú với phương pháp này (47,4%HS). HS (đa phần là HS lớp 5) cho rằng trước những dự án mà GV giao cho thì các em đều rất nhiệt tình tham gia và luôn hoàn thành tốt. Các em rất mong thầy cô sẽ có nhiều dự án hay để các em có thể thực hiện. Tuy nhiên, về phía GV thì cho biết PPDH này mất rất nhiều thời gian và chỉ có thể sử dụng ở những lớp học có những HS khá, giỏi và năng động.

Bên cạnh đó, cũng có một số PPDH tích cực có tỉ lệ HS ít hứng thú hoặc hứng thú khá cao như PPDH phân tích ngôn ngữ (18,8%HS) PPDH dự án (18,8%HS). Tìm hiểu nguyên nhân thì được biết do HS thiếu các kĩ năng cần thiết để hoàn thành các nhiệm vụ GV giao cho. Điều này cho thấy HS không được trang bị và rèn luyện tốt các kĩ năng phân tích, tổng hợp, lập kế hoạch,…ngay từ ở các lớp nhỏ.

2.1.5.2. Khảo sát bằng quan sát

2.1.5.2.1. Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học

Hầu hết các trường tiến hành khảo sát đều có cơ sở vật chất đầy đủ nhưng phòng học tương đối nhỏ, rất khó triển khai các hoạt động học tập theo nhóm hay tổ chức trò chơi. Vẫn còn một số trường chưa được trang bị phòng multimedia riêng. Còn một số thì có phòng máy nhưng số máy đã cũ và hư hỏng nhiều.

100% trường tiểu học được khảo sát đều được trang bị đủ các phương tiện dạy học như: máy chiếu, máy tính cá nhân, tivi, đầu đĩa, tranh ảnh, dụng cụ thí nghiệm, băng hình,…nhưng số lượng hạn chế. Riêng trường tiểu học Tân Sơn Nhất ở quận Tân Bình chưa được trang bị máy tính cá nhân để tiện cho GV di chuyển, lên tiết có ứng dụng công nghệ thông tin. Một ví dụ cụ thể để thấy rõ việc thiếu các phương tiện dạy học của các trường tiểu học hiện nay là ở khối 1 của một trường ở Quận 3 có 11 lớp nhưng chỉ có 3 bộ tranh ảnh phục vụ giảng dạy.

2.1.5.2.2. Khảo sát qua dự giờ

Qua dự giờ một số tiết dạy của GV tại trường tiểu học (bao gồm những tiết dạy mẫu và tiết dạy bình thường trên lớp học), chúng tôi nhận thấy đối với những tiết dạy mẫu thì 100% GV đều cố gắng sử dụng PPDH tích cực vào tiết dạy. Còn đối những tiết dạy bình thường thì GV chỉ sử dụng những PPDH truyền thống để hoàn thành tiết dạy đúng thời gian quy định, rất ít khi hoặc hoàn toàn không sử dụng các PPDH tích cực.

2.1.5.3. Khảo sát qua phỏng vấn các nhà quản lý, tổ trưởng chuyên môn ở một số trường

tiểu học tại TP.HCM

Khảo sát bằng phiếu, bằng quan sát cũng chưa phản ánh được thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở nhà trường tiểu học. Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng hệ thống câu hỏi để phỏng vấn một số nhà quản lý và các tổ trưởng chuyên môn về nhận thức, thái độ, kĩ thuật của GV tiểu học đối với các

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp PPDH tích cực; cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và một số biện pháp đã sử dụng để đẩy mạnh phong trào đổi mới PPDH trong nhà trường. Kết quả thu được như sau:

Về nhận thức, thái độ, kĩ thuật của GV

- Về nhận thức, GV đều biết đến các PPDH tích cực thông qua những kinh nghiệm của đồng nghiệp, qua việc tìm kiếm thông tin từ báo đài, tài liệu tham khảo. Vì vậy, tuy đã nhận thức được các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực nhưng nhận thức đó của GV chưa chắc là hoàn toàn đúng và sâu sắc. [Hiệu phó Trường Tiểu học Tân Sơn Nhất, Quận Tân Bình]

- Về thái độ, tất cả các nhà quản lý chúng tôi phỏng vấn đều cho rằng không ít GV trong trường không hào hứng với việc sử dụng các PPDH tích cực. Hầu hết GV chỉ sử dụng các PPDH tích cực này khi được yêu cầu lên tiết dạy mẫu, thao giảng. Có một số trường, số lượng GV từ 40 tuổi trở lên rất đông. Phần lớn những GV ở độ tuổi này ngại thay đổi vì nhiều nguyên nhân khác nhau. [Trường Tiểu học Tân Sơn Nhất]

- Về kĩ thuật, vẫn còn một số GV chưa biết cách lựa chọn và phối hợp các PPDH tích cực một cách linh hoạt và phù hợp. Có nhiều PPDH tích cực GV còn lúng túng, không biết sử dụng như thế nào cho có hiệu quả mà không tốn quá nhiều thời gian như: PPDH dự án (môn Đạo Đức), PPDH điều tra (môn TN-XH).

Về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học

Các nhà quản lý đều cho rằng do kinh phí từ các nguồn hạn hẹp, thiếu phòng nên không thể trang bị nhiều phòng học chức năng và phương tiện dạy học cho GV. Phòng học khá chật chội trong khi đó số lượng HS lại quá đông (có trường hơn 40HS/lớp) .

Về phương tiện dạy học, hiện một số trường còn thiếu nhiều tranh ảnh, dụng cụ thí nghiệm,... Đặc biệt trong thư viện của nhà trường còn thiếu rất nhiều tài liệu hay về PPDH cho GV tham khảo.

Các biện pháp nhà trường tiểu học đã sử dụng để khuyến khích GV sử dụng các

PPDH tích cực.

100% các nhà quản lý và các tổ trưởng chuyên môn ở các trường tiểu học được phỏng vấn đều cho rằng họ rất thường xuyên nhắc nhở và động viên GV sử dụng các PPDH tích cực trong các buổi họp tổ chuyên môn định kì hàng tuần.

Một số trường hàng năm có tổ chức cuộc thi thiết kế đồ dùng dạy học và giáo án điện tử. Tuy nhiên ít GV tham gia một cách nhiệt tình nên chất lượng của cuộc thi không cao. Thường xuyên khen thưởng các cá nhân, tập thể có đóng góp trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng các PPDH tích cực.

Cán bộ quản lý luôn tìm kiếm những tư liệu hay từ nhiều nguồn khác nhau cho GV tham khảo,

học hỏi. 2.2. NHẬN XÉT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC PPDH TÍCH CỰC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TẠI TP.HCM 2.2.1. Ưu điểm

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Về phía GV tiểu học:

Về nhận thức: 71,5% GV tiểu học có nhận thức khá tốt về các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực nhờ có điều kiện tiếp cận với vấn đề này qua các qua đồng nghiệp, lớp tập huấn, tài liệu, sách báo, phương tiện thông tin đại chúng,…

Về thái độ: 64,8% GV tiểu học đã có một thái độ đúng mực đối với PPDH tích cực. Để được điều này, một phần do GV được BGH thường xuyên nhắc nhở, khuyến khích, động viên sử dụng các PPDH tích cực vào các tiết dạy, một phần do chính GV đã nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới PPDH hiện nay.

Về kĩ thuật: 35% GV tiểu học kĩ thuật rất thành thạo, 60% GV chỉ dừng ở mức độ thành thạo, nhờ được học hỏi nhiều kinh nghiệm từ đồng nghiệp thông qua các tiết dạy mẫu, tham khảo tài liệu,…. Tuy nhiên nếu chỉ dừng ở mức độ thành thạo thì chưa đủ. Cần có một môi trường học tập, hoàn thiện, nâng cao tay nghề hơn nữa.

Về phía HS:

Hầu hết HS hứng thú với các PPDH tích cực, yêu thích môn học. HS năng động, ham học hỏi và tích cực tham gia xây dựng bài. Đây là một điều kiện thuận lợi

để GV triển khai tiết dạy theo hướng phát huy tính tích cực của HS.

Về các biện pháp hỗ trợ GV:

BGH thường xuyên khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích cao. Mặc dù còn hạn chế nhiều về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học nhưng nhà trường tiểu học đã hỗ trợ hết mình về trang thiết bị, phương tiện dạy học khi GV cần để thực hiện các PPDH tích cực. Một số trường thường xuyên tổ chức lên tiết mẫu để GV học hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.

2.2.2. Nhược điểm Về phía GV:

Về nhận thức: Gần 2% GV chưa nhận thức đúng đắn và sâu sắc một số vấn đề liên quan đến PPDH tích cực do nhà trường chưa phối hợp với các trường đào tạo GV tiểu học mở nhiều các lớp tập huấn, buổi học chuyên đề vào các dịp hè.

Về thái độ: Đa số GV tiểu học có thái độ đúng mực với các PPDH tích cực tuy nhiên mức độ sử dụng của GV không nhiều. Lý do mà gần 80% GV đưa ra là mất nhiều thời gian để thiết kế, triển khai bài dạy theo hướng tích cực và làm đồ dùng dạy học, khó khăn trong quá trình tìm kiếm các tư liệu phục vụ cho tiết dạy và cộng thêm vào đó là nội dung dạy học nhiều so với lượng thời gian. Bên cạnh cũng có những GV có tâm lý ngại khó, ngại thay đổi do phần lớn số GV này lớn tuổi.

Về kĩ thuật: Còn một số PPDH tích cực GV tiểu học không sử dụng thành thạo như PPDH kiến tạo trong môn Toán (9,4%GV), PPDH dự án trong môn Đạo Đức (23,6%GV), PPDH điều tra trong môn TN-XH (11,5%GV) do GV chưa có cơ hội thực hành để đồng nghiệp nhận xét, rút kinh nghiệm. Việc sử dụng máy tính, các thiết bị hiện đại của GV còn hạn chế rất nhiều. [xem phụ lục 3]

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Ngoài ra một nguyên nhân dẫn đến thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở tiểu học hiện này là do đặc thù của GV tiểu học là phải dạy quá nhiều phân môn trong mỗi ngày. GV sẽ không có thời gian nhiều để đầu tư cho tất cả các bài dạy và đặc biệt là thiết kế các tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin.

Về phía HS: Số lượng HS khá đông (có trường hơn 40HS/lớp) HS còn thụ động, trình độ nhận thức HS trong cùng một lớp chênh lệch nhiều. Mặt khác, HS thiếu hẳn đi những kĩ năng cơ bản từ những lớp học nhỏ như: lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, thu thập thông tin, xử lý, tổng hợp…nên GV sử dụng các PPDH mới vào tiết dạy thì sẽ tốn công sức và thời gian.

Về các biện pháp hỗ trợ GV:

Một số trường do kinh phí từ các nguồn còn hạn chế nên chưa thể trang bị nhiều đồ dùng dạy học để đáp ứng nhu cầu sử dụng của GV. Phòng học chật nhưng số lượng HS khá đông. Trong thư viện của trường còn thiếu tư liệu, giáo trình hay về các PPDH tích cực để GV nghiên cứu.

Nhà trường ít tổ chức các chuyên đề minh họa các PPDH tích cực để GV học hỏi và trao đổi

kinh nghiệm.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Tổng kết chương 2 Ở chương này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở một số

trường tiểu học ở TP.HCM và thu được kết quả đáng tin cậy về:

- Mức độ nhận thức, thái độ, kĩ thuật của GV tiểu học đối với các vấn đề liên quan đến PPDH

tích cực nói chung và các PPDH tích cực ở môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH nói riêng.

- Mức độ hứng thú của HS tiểu học đối với các PPDH tích cực ở môn Toán, Tiếng Việt, Đạo

Đức, TN-XH.

- Về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học của nhà trường và các biện pháp mà BGH, các nhà quản lý đã sử dụng để động viên, khuyến khích GV sử dụng các PPDH ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH.

Từ những kết quả trên, nhìn chung GV tiểu học ở một số trường mà chúng tôi khảo sát đã nhận thức được các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực, thái độ của GV đối với những PPDH này khá tốt, kĩ thuật sử dụng cũng đã thành thạo. Đây là một dấu hiệu đáng mừng. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những nhược điểm rất lớn trong việc sử dụng các PPDH tích cực ở nhà trường tiểu học xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Vì vậy chúng tôi xin đề xuất các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các PPDH tích cực ở nhà trường tiểu học trong chương tiếp theo.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung CHƯƠNG 3 : ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC PPDH

TÍCH CỰC Ở TIỂU HỌC

3.1. Nhóm 1: Các biện pháp nâng cao nhận thức của GV tiểu học về các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực

Biện pháp 1: Các nhà quản lý cần quan tâm, chú ý nhiều đến vấn đề nhân sự của nhà

trường

Cán bộ quản lý cần có biện pháp chỉ đạo đổi mới PPDH trong nhà trường một cách cụ thể và hiệu quả; thường xuyên tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy và học theo định hướng đổi mới PPDH. Đặc biệt, trước hết cần quan tâm, chú ý nhiều đến vấn đề nhân sự của nhà trường:

+ Về tuyển dụng: cần tuyển những giáo viên nắm vững chuyên môn và sử dụng một cách hiệu quả các PPDH tích cực. Trong đội ngũ GV của nhà trường nên có một lực lượng GV trẻ, năng động và giỏi chuyên môn. Muốn vậy, giữa cán bộ quản lý của nhà trường với các Phòng Giáo dục cần có một mối liên kết chặt chẽ. Nghĩa là cán bộ quản lý sẽ phải phản hồi kịp thời tình trạng GV của nhà trường hàng năm để các Phòng có sự điều tiết giáo viên hợp lí, tránh bị động hay thiếu GV ở một số trường. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là tuyển dụng một cách vội vàng, chủ quan.

+ Về việc nâng chuẩn : thực tế ở một số trường tiểu học, vẫn còn một số GV có trình độ không đạt chuẩn. Vì vậy cần rà soát lại và có kế hoạch đào tạo các GV đó cho đến khi đạt chuẩn. Bên cạnh đó, không ít giáo viên đã đạt chuẩn nhưng chưa nhận thức đầy đủ về PPDH tích cực. Điều này dẫn đến việc GV không sử dụng hay sử dụng không hiệu quả trong quá trình dạy học của mình. Chính vì thế cần tổ chức các lớp tập huấn hay các buổi học chuyên đề về PPDH tích cực rộng rãi cho các GV tham gia. Thông qua các hình thức học tập, trao đổi kinh nghiệm, GV sẽ hiểu hơn về các PPDH tích cực cũng như tầm quan trọng của nó trong dạy học ở tiểu học.

Biện pháp 2: GV tiểu học tích cực tham gia các lớp tập huấn và tham khảo nhiều tài liệu GV cần phải được đào tạo nghiêm túc, chu đáo để thích ứng với những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục. Giáo viên phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, biết ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.

GV cần tham gia tích cực các buổi tập huấn, học chuyên đề và trao đổi kinh nghiệm. Tham

khảo nhiều tài liệu liên quan đến PPDH tích cực trong nhà trường tiểu học. 3.2. Nhóm 2: Các biện pháp nâng cao thái độ của GV tiểu học đối với việc sử dụng các PPDH tích cực

Biện pháp 1: Nâng cao trách nhiệm quản lý của BGH nhà trường

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Trách nhiệm quản lý của BGH nhà trường cũng ảnh hưởng rất nhiều đến thái độ của GV đối với việc sử dụng các PPDH tích cực: Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp về việc đổi mới PPDH ở trường mình, đặt vấn đề này ở tầm quan trọng đúng mức trong sự phối hợp các hoạt động toàn diện của nhà trường. Cần giúp GV nhận ra được tầm quan trọng của việc sử dụng PPDH tích cực để GV cảm thấy việc mình thay đổi là hợp lí và có ích, chẳng hạn như: HS của mình trở nên tích cực suy nghĩ, tự khám phá và lĩnh hội kiến thức; hay mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân,…Điều này cần phải có thời gian dài để GV nhận ra, tuy nhiên với niềm tin vào kết quả sẽ đạt được, GV sẽ hứng thú hơn trong việc sử dụng các PPDH tích cực.

Biện pháp 2: BGH nhà trường thường xuyên khuyến khích, động viên GV

Hiệu trưởng, nhà quản lý chuyên môn cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của GV. Hiệu trưởng cần hướng dẫn, giúp đỡ GV vận dụng các PPDH tích cực thích hợp với từng môn học, đặc điểm HS, điều kiện dạy và học ở địa phương, làm cho phong trào đổi mới PPDH ngày càng rộng rãi, thường xuyên và có hiệu quả hơn.

3.3. Nhóm 3: Các biện pháp nâng cao kĩ thuật sử dụng các PPDH tích cực của GV tiểu học

Biện pháp 1: Đào tạo GV tiểu học đáp ứng chuẩn

Các trường Đại học Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm cần xây dựng chương trình đào tạo GVTH để phục vụ quá trình đổi mới giáo dục tiểu học. Tỉ lệ giữa các khối kiến thức khoa học bộ môn (giúp cho GV có cái nhìn sâu hơn về các môn học sẽ giảng dạy) với khối kiến thức nghiệp vụ sư phạm phải được điều chỉnh theo hướng hài hòa, cân đối để người được đào tạo yên tâm, tự tin khi đứng lớp. Tập trung vào việc rèn luyện các kĩ năng sư phạm cho sinh viên. Việc thi cử ngay trong nhà trường sư phạm cũng cần đổi mới theo hướng hòa nhập với thế giới để khuyến khích người học tăng cường tự nghiên cứu, tự học, không học “vẹt” và không gây áp lực với người học. Mặt khác, chương trình đào tạo cũng cần chú trọng đến các kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, sử dụng phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại, sử dụng internet, kĩ thuật kiểm tra, đánh giá…

Biện pháp 2: BGH nhà trường và các nhà quản lý quản lý chặt chẽ hoạt động tổ chuyên

môn và hoạt động dạy học của đội ngũ GV

Để bảo đảm việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn và hoạt động dạy học của GV chặt chẽ và

hiệu quả thì BGH nhà trường và các nhà quản lý nên thực hiện những nội dung sau:

Nội dung

Quản lý hoạt động tổ chuyên môn

Xây dựng kế hoạch

Quản lý hoạt động dạy và học của GV Kế hoạch rèn luyện: Đầu năm học, GV sẽ đề ra mục tiêu và nội dung phải thực hiện trong suốt năm học. Kế hoạch này bao

- Kế hoạch triển khai các chuyên đề về đổi mới PPDH: cần xác định rõ tên, mục đích, nội dung, thời gian triển khai chuyên đề. Các nhà quản lý nên cân nhắc kĩ trong việc lựa

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung gồm cả việc GV lên một vài tiết mẫu cho GV khác học hỏi.

chọn chuyên đề triển khai sao cho phù hợp với đối tượng, trình độ của GV và xu hướng đổi mới ở tiểu học. - Kế hoạch bồi dưỡng GV cho đạt chuẩn bao gồm: mục tiêu, đối tượng, nội dung, thời gian bồi dưỡng.

Thực hành, thao giảng: dành nhiều thời gian cho GV thực hành các PPDH tích cực, đặc biệt những PPDH tích cực GV còn tránh né, ngại sử dụng.

Tổ chức chỉ đạo thực hiện

- Theo dõi kế hoạch bài dạy của GV: đây là điều kiện tốt để các nhà quản lý nắm rõ tình hình sử dụng các PPDH tích cực của GV. Để thuận lợi cho việc theo dõi này nên lập sổ theo dõi theo mẫu (*) - Dự giờ đột xuất: để biết rõ hơn về mức độ sử dụng cũng như kĩ thuật khi sử dụng các PPDH tích cực của GV như thế nào để khen thưởng, động viên,… - Tổ chức hội thi về giảng dạy, thiết kế đồ dùng dạy học ít nhất hai lần trong một năm học và trong dịp hè: các hội thi này tạo cơ hội cho GV thi đua, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau; đồng thời qua những cuộc thi thiết kế đồ dùng dạy học, nhà trường sẽ có thêm được nhiều đồ dùng có ích phục vụ cho việc giảng dạy. - Tổng kết sáng kiến kinh nghiệm: sáng kiến kinh nghiệm là những kinh nghiệm, những đề xuất hay được GV đúc kết bằng trải nghiệm bản thân. Chính vì vậy, cần khuyến khích tất cả GV thường xuyên viết sáng kiến kinh nghiệm. Từ đó, các nhà quản lý tổng kết, lập thành sổ tay kinh nghiệm – kho tư liệu quý cho GV.

Kiểm tra, đánh giá

- Kiểm tra chéo giữa các tổ: tất cả những tổ chức chỉ đạo ở trên được - Kiểm tra toàn diện: về nhận thức, thái độ và kĩ

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp

các tổ quan sát lẫn nhau và có thông tin phản hồi đến các nhà quản lý. - Kiểm tra đánh giá GV: đánh giá tinh thần trách nhiệm, thái độ hợp tác, tốc độ hoàn thành và hiệu quả công việc của GV.

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung năng của GV đối với các PPDH tích cực. - Kiểm tra chuyên đề: sau mỗi chuyên đề cần có bài đánh giá mức độ tiếp nhận, khả năng ứng dụng của GV.

(*)

SỔ THEO DÕI VIỆC SỬ DỤNG CÁC PPDH TÍCH CỰC

Họ và tên GV:………………………………………….Lớp:……

Nhận xét

Ký nhận

Tuần thứ

Bổ sung chỉnh sửa

Nội dung

Phương pháp

Ngày duyệt bài

Biện pháp 3: GV cần xây dựng kĩ thuật riêng cho các PPDH tích cực của từng môn học

Đầu tiên, GV hãy thử làm theo các bước của một PPDH tích cực đã nêu trong tài liệu hoặc học được từ nguồn tài liệu đáng tin cậy, sau đó trên thực tế hãy điều chỉnh các bước ấy cho phù hợp với nhu cầu và nội dung giảng dạy cụ thể.

Đối với PPDH tích cực tương đối khó và mất nhiều thời gian như PPDH dự án (môn Đạo Đức), PPDH điều tra (môn TN-XH) thì GV lên một kế hoạch chi tiết những việc cần làm để tránh lúng túng khi thực hiện. Chúng tôi xin gợi ý hai kế hoạch để triển khai thực hiện hai PPDH này. [xem phụ lục 5]

Nhìn chung để sử dụng thành thạo và khéo léo các PPDH tích cực thì GV cần phải có một thời gian tôi luyện rất lâu. Vì vậy, đòi hỏi GV hãy tự ý thức tầm quan trọng của việc thực hành, học hỏi kinh nghiệm từ tài liệu, sách báo và từ đồng nghiệp.

3.4. Nhóm 4: Các biện pháp hỗ trợ GV sử dụng các PPDH tích cực

Biện pháp 1: Cải thiện cơ sở vật chất và phương tiện dạy học trong trường học

Trang bị thêm từ 1-3 phòng Multimedia/ trường tiểu học; các thiết bị như: máy chiếu, máy tính

cá nhân, tivi, đầu máy,....

Tổ chức cuộc thi “Thiết kế đồ dùng dạy học”, xây dựng website hoặc thư viện hình ảnh, phim,

tư liệu hay để GV có thể sử dụng, nghiên cứu trong quá trình giảng dạy.

Biện pháp 2: Cán bộ quản lý của các trường tiểu học cần có những phương pháp động

viên, khích lệ GV

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Cần chuẩn bị một chủ trương chính thức và hệ thống để tuyên dương không chỉ những GV thành công khi sử dụng các PPDH tích cực trong dạy học mà còn cho cả những nỗ lực “phá cách” mà họ thể hiện được trong cố gắng tạo ra sự thay đổi lớn trong lớp học.

Khen thưởng định kì những GV có đóng góp lớn trong việc đổi mới PPDH. Khích lệ GV tham

gia các cuộc thi GV giỏi để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm từ các trường bạn.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Tổng kết chương 3

Từ những cơ sở lí luận và qua tìm hiểu thực trạng ở một số trường tiểu học tại TP.HCM, chúng tôi nhận thấy còn nhiều hạn chế trong việc sử dụng các PPDH tích cực. Chính vì vậy chúng tôi đã đề xuất bốn nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các PPDH tích cực ở nhà trường tiểu học như sau:

- Nhóm các biện pháp nâng cao nhận thức của GV tiểu học đối với các vấn đề liên quan đến

PPDH tích cực.

- Nhóm các biện pháp nâng cao thái độ của GV tiểu học đối với các PPDH tích cực.

- Nhóm các biện pháp nâng cao kĩ thuật của GV tiểu học khi sử dụng các PPDH tích cực.

- Nhóm các biện pháp hỗ trợ GV khi sử dụng các PPDH tích cực.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ

A. Kết luận

Dựa trên những cơ sở lí luận về những định hướng đổi mới PPDH ở nhà trường tiểu học, tính tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS và những PPDH tích cực ở nhà trường tiểu học, chúng tôi đã thiết kế các phiếu khảo sát làm công cụ để tìm hiểu thực trạng sử dụng các PPDH tích cực của GV tiểu học tại một số trường ở TP.HCM. Cùng với công cụ trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp quan sát và phỏng vấn một số nhà quản lý, tổ trưởng chuyên môn của một số trường tiểu học tiến hành khảo sát. Qua đó chúng tôi đã thu thập được những số liệu tương đối chính xác về thực trạng sử dụng PPDH tích cực của GV tiểu học ở một số trường tại TP.HCM.

Kết quả của đợt khảo sát cho thấy: - Về nhận thức của GV tiểu học đối với các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực: nhìn chung GV có nhận thức khá tốt nhưng chỉ dừng lại ở mức độ biết và hiểu các vấn đề liên quan như những định hướng đổi mới PPDH, khái niệm PPDH tích cực, tầm quan trọng của PPDH tích cực ở nhà trường tiểu học, tên gọi, mục đích, ưu và nhược điểm của các PPDH tích cực ở môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH.

- Về thái độ của GV tiểu học đối với các PPDH tích cực: đa số GV tiểu học ở các trường tiến hành khảo sát đều hứng thú với các PPDH tích cực. Vì vậy, mức độ sử dụng các PPDH này của GV khá thường xuyên.

- Về kĩ thuật sử dụng các PPDH tích cực của GV tiểu học: với những PPDH gần gũi, cần

những kĩ thuật đơn giản dễ thực hiện thì GV sử dụng khá thành thạo.

Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều hạn chế như: - Nhận thức của một số GV chưa đủ sâu sắc. - Nhiều GV còn thờ ơ, dửng dưng với phong trào đổi mới PPDH ở tiểu học. Dẫn đến việc bất

hợp tác, không chịu thay đổi.

- Còn nhiều PPDH mà GV chưa sử dụng thành thạo. Qua tìm hiểu, những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Và điều đáng nói ở đây, những nguyên nhân này có thể khắc phục được nếu có những biện pháp cụ thể. Vì vậy chúng tôi đã đề xuất một số nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các PPDH tích cực ở trường tiểu học.

Trên đây là toàn bộ kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM. Với những biện pháp đề xuất, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần làm cho việc sử dụng các PPDH tích cực ở các trường tiểu học hiệu quả hơn.

B. Kiến nghị Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin kiến nghị với Phòng GD-ĐT tiểu học ở các quận, huyện của TP.HCM; Khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM và các trường tiểu học những vấn đề sau:

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Về phía Phòng GD-ĐT tiểu học ở các quận, huyện của TP.HCM:

- Một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của việc đổi mới PPDH là nguồn nhân lực của nhà trường, đặc biệt là đội ngũ GV trẻ, năng động, có năng lực và đầy nhiệt quyết với nghề. Vì vậy, kính mong Phòng GD-ĐT quan tâm đến vấn đề này để có sự điều tiết, phân bổ GV cho các trường tiểu học một cách hợp lí.

- Cần phối hợp với các trường đào tạo GV tiểu học để thu hút nhân tài về cho địa phương. - Có những kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng GV tiểu học về các PPDH tích cực. Về phía Khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM:

- Khoa Giáo dục Tiểu học cần có sự liên kết chặt chẽ với các trường tiểu học để kịp thời hỗ trợ các nhà quản lý, GV về mặt chuyên môn như tổ chức các lớp chuyên đề điển hình để GV các trường về tham dự, học hỏi.

- Bên cạnh đó, Khoa nên tổ chức một câu lạc bộ gồm các nhà quản lý chuyên môn của các trường tiểu học. Mục đích của CLB này là trao đổi những khó khăn, kinh nghiệm của GV trong quá trình sử dụng các PPDH tích cực theo từng môn học. Để từ đó đề ra những hướng giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các PPDH tích cực ở các trường tiểu học.

- Tạo điều kiện cho sinh viên của Khoa thực hành ở các trường tiểu học nhiều để thấy được những khó khăn sẽ vấp phải trong quá trình sử dụng các PPDH tích cực. Từ đó có kế hoạch rèn luyện ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Về phía trường tiểu học ở TP.HCM:

- Có những phản hồi kịp thời về tình hình nhân sự của trường để có sự hỗ trợ kịp thời từ mọi

phía.

- Có kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn GV, cử GV đi học ở những trình độ cao hơn để về hướng

dẫn lại các GV khác.

- Huy động mọi nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) từ nhiều nguồn khác nhau. Để hoàn thành tốt khóa luận, chúng tôi đã hệ thống hóa các cơ sở lí luận về xu hướng đổi mới PPDH hiện nay; tính tích cực hóa nhận thức của HS và những PPDH tích cực ở tiểu học để từ đó chúng tôi làm căn cứ khảo sát thực trạng sử dụng các PPDH tích cực ở một số trường tiểu học tại TP.HCM. Từ kết quả khảo sát được chúng tôi đã đề xuất bốn nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các PPDH tích cực. Cuối cùng, chúng tôi hi vọng với đề tài này sẽ đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường tiểu học.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

PHỤ LỤC

1. Phiếu khảo sát 2. Câu hỏi phỏng vấn 3. Kết quả xử lý phiếu 4. Phiếu dự giờ 5. Thiết kế kế hoạch triển khai thực hiện PPDH dự án, PPDH điều tra.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

PHỤ LỤC 1

Mã số phiếu: 01

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC



PHIẾU KHẢO SÁT Kính thưa quý thầy cô! Tôi tên là: Nguyễn Thị Nhật Trường, sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học, h đang thực hiện bài nghiên cứu với đề tài: “Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một trường tiểu học tại TP.HCM”.

Để có những tư liệu thực tế phục vụ cho đề tài, tôi rất mong được sự giúp đỡ của quý thầy cô. Sự g đỡ chân thành và nhiệt tình của quý thầy cô sẽ góp phần làm cho đề tài của tôi thành công hơn.

Phần A: Thông tin cá nhân (Quý thầy cô có thể không cung cấp thông tin)

Họ và tên:......................................................Chủ nhiệm lớp:........................

Trường:..........................................................Điện thoại liên lạc:..................

Phần B: Nội dung

B.1. Hãy đánh dấu (X) vào mức độ biết và hiểu khi thầy cô sử dụng các PPDH tích cực.

Thang mức độ biết: Thang mức độ hiểu:

1: Biết rất rõ 1: Hiểu rõ

2: Biết chút ít 2: Hiểu chút ít

3: Không biết 3: Không hiểu

Mức độ

Nội Biết Hiểu Vấn đề Dung

1 2 3 1 2 3

      Những định hướng chính trong đổi mới

cách thực hiện PPDH tích cực ở tiểu học

hiện nay NHẬN

THỨC       Khái niệm PPDH tích cực

      Đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực

      Tầm quan trọng của PPDH tích cực ở tiểu

học

     Mục đích sử dụng của từng PPDH tích cực 

     Ưu và nhược điểm của từng PPDH tích cực 

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

      Các PPDH tích cực trong môn Toán

      Các PPDH tích cực trong môn Tiếng Việt

      Các PPDH tích cực trong môn Đạo đức

      Các PPDH tích cực trong môn TN-XH

B.2. Hãy đánh dấu (X) vào mức độ hứng thú khi thầy cô sử dụng các PPDH tích cực.

Thang mức độ:

1: Rất hứng thú

2: Hứng thú

3: Ít hứng thú

4: Không hứng thú

Mức độ Nội dung Vấn đề 1 2 3 4

    Sử dụng các PPDH tích cực trong môn Toán

    Sử dụng các PPDH tích cực trong môn Tiếng Việt THÁI

ĐỘ     Sử dụng các PPDH tích cực trong môn Đạo đức

    Sử dụng các PPDH tích cực trong môn TN-XH

B.3. Hãy đánh dấu (X) vào mức độ cần thiết của những điều kiện sư phạm khi thầy cô sử dụng các PPDH tích cực.

Thang mức độ:

1: Rất cần thiết

2: Cần thiết

3: Ít cần thiết

4: Không cần thiết

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Mức độ Nội Vấn đề Dung 1 2 3 4

    Tiếp cận, tìm tòi các kĩ thuật mới để thực hiện tốt

các PPDH tích cực

    Xây dựng kĩ thuật riêng nhằm phát huy điểm mạnh

và hạn chế tối đa điểm yếu của bản thân. THÁI

ĐỘ     Hổ trợ, hợp tác chuyên môn của BGH và đồng

nghiệp

    Các phương tiện dạy học để thực hiện tốt các

PPDH tích cực

B.4. Hãy đánh dấu (X) vào mức độ thành thạo khi thầy cô sử dụng các PPDH tích cực.

Thang mức độ:

1: Rất thành thạo

2: Thành thạo

3: Không thành thạo

Mức độ Nội Vấn đề dung 1 3 2

   PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề Trong

môn    PPDH theo nhóm Toán

   PPDH kiến tạo

   PPDH phân tích ngôn ngữ

Trong    KĨ PPDH thực hành giao tiếp môn THUẬT    PPDH rèn luyện theo mẫu Tiếng

   PPDH thảo luận nhóm Việt

   PPDH trò chơi

   PPDH động não

   PPDH đóng vai

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp Trong    PPDH trò chơi môn    PPDH thảo luận nhóm Đạo

   PPDH kể chuyện Đức

   PPDH giải quyết vấn đề

   PPDH dự án

   PPDH thảo luận nhóm

Trong    PPDH điều tra môn    PPDH đóng vai TN-XH

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô! Kính chúc thầy cô sức khỏe, công tác tốt!

Mọi thắc mắc vui lòng gọi đến số điện thoại: 0933000107.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Mã số phiếu: 02

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC



PHIẾU KHẢO SÁT Kính thưa quý thầy cô! Tôi tên là: Nguyễn Thị Nhật Trường, sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học, h đang thực hiện bài nghiên cứu với đề tài: “Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một trường tiểu học tại TP.HCM”.

Để có những tư liệu thực tế phục vụ cho đề tài, tôi rất mong được sự giúp đỡ của quý thầy cô. Sự g đỡ chân thành và nhiệt tình của quý thầy cô góp phần làm cho đề tài của tôi thành công hơn.

Phần A: Thông tin cá nhân (Quý thầy cô có thể không cung cấp thông tin)

Họ và tên:......................................................Chủ nhiệm lớp:........................

Trường:..........................................................Điện thoại liên lạc:..................

Phần B: Nội dung

B.. Hãy khoanh tròn vào mức độ sử dụng các PPDH tích cực ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo đ TN-XH mà thầy cô cho là phù hợp với mình nhất.

B.1. Về môn Toán:

1. PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

2. PPDH theo nhóm

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

3. PPDH kiến tạo

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

B2. Về môn Tiếng Việt:

1. PPDH phân tích ngôn ngữ

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

2. PPDH thực hành giao tiếp

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

3. PPDH rèn luyện theo mẫu

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

4. PPDH thảo luận nhóm

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

5. PPDH trò chơi

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

B3. Về môn Đạo Đức:

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp 1. PPDH động não

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

2. PPDH đóng vai

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

3. PPDH trò chơi

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

4. PPDH thảo luận nhóm

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

5. PPDH kể chuyện

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

6. PPDH giải quyết vấn đề

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

7. PPDH dự án

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

B4. Về môn TN-XH:

1. PPDH thảo luận nhóm

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

2. PPDH điều tra

a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng

3. PPDH đóng vai

c. Thỉnh thoảng d. Rất ít khi e. Không sử dụng a. Rất thường xuyên b. Thường xuyên

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô! Kính chúc thầy cô sức khỏe, công tác tốt!

Mọi thắc mắc vui lòng gọi đến số điện thoại: 0933000107.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Mã số phiếu: 03

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC



PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN Kính thưa quý thầy cô! Tôi tên là: Nguyễn Thị Nhật Trường, sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học, h đang thực hiện bài nghiên cứu với đề tài: “Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một trường tiểu học tại TP.HCM”.

Để có những tư liệu thực tế phục vụ cho đề tài, tôi rất mong được sự giúp đỡ của quý thầy cô. Sự g đỡ chân thành và nhiệt tình của quý thầy cô góp phần làm cho đề tài của tôi thành công hơn.

Phần A: Thông tin cá nhân (Quý thầy cô có thể không cung cấp thông tin)

Họ và tên:......................................................Chủ nhiệm lớp:........................

Trường:..........................................................Điện thoại liên lạc:..................

Phần B: Nội dung

1. Hãy đánh dấu (X) vào ý kiến phù hợp:

Theo quý thầy cô, cơ sở vật chất và phương tiện dạy học nào cần thiết khi sử dụng các PPDH tích c trong các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, TN-XH?

- Phòng Multimedia 

- Băng hình 

- Tranh ảnh 

- Phiếu học tập 

- Dụng cụ thí nghiệm 

- Cơ sở vật chất và phương tiện khác (nếu có xin quý thầy cô ghi rõ):

……………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………….

Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học hiện đang có ở trường của quý thầy cô giả dạy:……………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………..

2. Theo quý thầy cô, cần có những biện pháp gì để nâng cao hiệu quả sử dụng các PPDH tích cực tro các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, TN-XH?

………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………………

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………

3. Những thuận lợi khi quý thầy cô sử dụng các PPDH tích cực trong các môn Toán, Tiếng Việt, Đ Đức, TN-XH?

………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………

4. Những khó khăn khi quý thầy cô sử dụng các PPDH tích cực trong các môn Toán, Tiếng Việt, T XH, Đạo đức?

………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ……………………

5. Những việc mà Ban Giám hiệu nhà trường thường làm để khuyến khích quý thầy cô sử dụng c PPDH tích cực?

………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………………

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô! Kính chúc thầy cô sức khỏe, công tác tốt!

Mọi thắc mắc vui lòng gọi đến số điện thoại: 0933000107

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung Khóa luận tốt nghiệp

Mã số phiếu: 04

Tên:……………………………………………..

Lớp:……………………………………………..

Trường:................................................................

PHIẾU KHẢO SÁT

Hãy khoanh tròn vào mức độ hứng thú của em đối với các PPDH tích cực ở các môn Toán, Tiế Việt, Đạo đức, TN-XH

1. Về môn Toán:

1. PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

2. PPDH theo nhóm

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

3. PPDH kiến tạo

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

B2. Về môn Tiếng Việt:

1. PPDH phân tích ngôn ngữ

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

2. PPDH thực hành giao tiếp

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

3. PPDH rèn luyện theo mẫu

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

4. PPDH thảo luận nhóm

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

5. PPDH trò chơi

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

B3. Về môn Đạo Đức:

1. PPDH động não

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

2. PPDH đóng vai

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

3. PPDH trò chơi

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

4. PPDH thảo luận nhóm

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

4. PPDH kể chuyện

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

5. PPDH giải quyết vấn đề

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

6. PPDH dự án

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

B4. Về môn TN-XH:

1. PPDH thảo luận nhóm

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

2. PPDH điều tra

a. Rất hứng thú b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú

3. PPDH đóng vai

b. Hứng thú c.Ít hứng thú d. Không hứng thú a. Rất hứng thú

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

PHỤ LỤC 2

CÂU HỎI PHỎNG VẤN (Dành cho cán bộ quản lý và các tổ trưởng chuyên môn) Câu 1: Theo thầy/cô, nhận thức của đội ngũ GV đối với các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực hiện nay như thế nào? Câu 2: Theo thầy/cô, mức độ hứng thú và mức độ sử dụng các PPDH tích cực trong các môn học như Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH của đội ngũ GV trường như thế nào? Câu 3: Theo thầy/cô, những kĩ thuật sử dụng các PPDH tích cực ở các môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH của đội ngũ GV như thế nào? Câu 4: Nhà trường có thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, chuyên đề về các PPDH tích cực cho GV không? Câu 5: Tình hình cơ sở vật chất, phương tiện dạy học của nhà trường hiện nay như thế nào? Câu 6:Thầy/cô đã có những biện pháp gì để đẩy mạnh phong trào đổi mới PPDH ở nhà trường?

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

PHỤ LỤC 3

Bảng 1. Mức độ nhận thức của GV tiểu học đối với các vấn đề liên quan đến PPDH tích cực

Mức độ biết (%) Mức độ hiểu (%)

Vấn đề

Biết rất rõ Biết chút ít Không biết Hiểu rất rõ Hiểu chút ít Không hiểu

Những định hướng chính trong đổi 74,5 24 1,5 73 24 3

mới cách thực hiện PPDH tích cực

ở tiểu học hiện nay.

Khái niệm PPDH tích cực. 83,5 14,5 81,3 17,2 1,5 2

Đặc trưng cơ bản của PPDH tích 79 20 76,3 22,7 1 1

Cực.

Tầm quan trọng của PPDH tích 1 80,5 18,5 1 80,5 18,5

Cực ở tiểu học.

Mục đích sử dụng của từng PPDH 81,7 16,8 1,5 79,7 19,8 0,5

tích cực.

Ưu và nhược điểm của từng PPDH 71,7 26,8 1,5 69,5 29,9 0,6

tích cực.

Các PPDH tích cực trong môn Toán 80,8 17,2 2 78,8 17,7 1,5

Các PPDH tích cực trong môn 80,9 16,6 2,5 79,2 18,8 2

Tiếng Việt

Các PPDH tích cực trong môn Đạo 80,8 16,2 3 76,8 20,7 2,5

Đức

Các PPDH tích cực trong môn 73,7 23,3 3 76,7 22,3 1

TN-XH

Mức độ biết (%) Mức độ hiểu (%) Địa bàn Biết rất Biết chút Không biết Hiểu rất rõ Hiểu chút Không

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

rõ ít ít hiểu

Quận 1 81,1 16,5 2,4 78,6 19,1 2,3

Quận 3 67,2 30,2 2,6 62,9 34,6 2,5

Quận 5 78 19,5 2,5 77,1 19,3 3,6

Quận 10 66,3 30 3,7 56,1 41,5 2,4

Quận 12 74,9 25,1 0 72,1 27,3 0,6

Quận Tân Bình 85,3 13,1 1,6 82,1 16,8 1

Bảng 2. Mức độ hứng thú của GV tiểu học đối với các PPDH tích cực ở môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH

Mức độ hứng thú (%)

Vấn đề

Hứng thú

Rất hứng thú

Ít hứng thú

Không hứng thú

Sử dụng các PPDH tích cực trong

52

42

5

1

môn Toán

Sử dụng các PPDH tích cực

47

45,5

7,5

0

Trong môn Tiếng Việt

Sử dụng các PPDH tích cực trong

48,5

45,5

4

2

môn Đạo đức

Sử dụng các PPDH tích cực

45

50,5

3,5

1

Trong môn TN-XH

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp Bảng 3. Mức độ sử dụng của GV tiểu học đối với các PPDH tích cực ở môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH

Mức độ sử dụng (%)

Rất Môn học Tên PPDH

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ ít khi Rất thường xuyên

30,8 52 16,7 0,5 0

Phát hiện và giải quyết vấn đề

TOÁN Theo nhóm 28,5 60 10,5 0 1

Kiến tạo 11 37 44 7,5 0,5

Phân tích ngôn ngữ 0 0 34,8 61,2 4

Thực hành giao tiếp 0 1 49,5 44,5 5

TIẾNG Rèn luyện theo mẫu 0 33,2 48,2 16,1 2,5 VIỆT

Thảo luận nhóm 0 1 41,7 51,3 6

Trò chơi 0 2 22,8 52,4 22,8

Động não 0 0,5 27,8 50,6 21,1

Đóng vai 0 0,5 18,6 51,1 25,8

Trò chơi 0 2 17,7 61,6 18,7

ĐẠO Thảo luận nhóm 0 0 30,3 56,1 13,6 ĐỨC

Kể chuyện 0 0,5 19,1 53,8 26,6

Giải quyết vấn đề 0 0 23,7 58,1 18,2

Dự án 6,1 21,8 43,7 24,8 3,6

Thảo luận nhóm 0 0 43,2 52,3 4,5

TỰ NHIÊN Điều tra 5 8 4,5 41,9 40,6

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp XÃ HỘI Đóng vai 9,1 42,5 38,9 8 1,5

Bảng 4. Mức độ thành thạo của GV tiểu học khi sử dụng các PPDH tích cực ở môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH

Môn học Mức độ thành thạo (%) Tên PPDH

Rất thành thạo Thành thạo Không thành thạo

28,9 68,6 2,5

Phát hiện và giải quyết vấn đề

TOÁN Theo nhóm 41,3 57,7 1

Kiến tạo 18,2 72,4 9,4

Phân tích ngôn ngữ 27,2 71,8 1

Thực hành giao tiếp 32,6 66,4 1

TIẾNG Rèn luyện theo mẫu 45,2 52,8 2 VIỆT

Thảo luận nhóm 47,3 51,2 1,5

Trò chơi 35,7 59,2 5,1

Động não 34,3 62,1 3,6

Đóng vai 34,3 62,1 3,6

Trò chơi 36,5 59,9 3,6

ĐẠO Thảo luận nhóm 48 50,5 1,5 ĐỨC

Kể chuyện 36,5 60,5 3

Giải quyết vấn đề 32,7 64,7 2,6

Dự án 13,6 62,8 23,6

Thảo luận nhóm 53 46 1

TỰ NHIÊN Điều tra 29,5 59 11,5

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

XÃ HỘI Đóng vai 34,5 60 5,5

Bảng 5. Mức độ hứng thú của HS tiểu học đối với các PPDH tích cực ở môn Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, TN-XH

Mức độ hứng thú (%)

Môn học Tên PPDH Hứng thú Ít hứng thú

Rất hứng thú Không hứng thú

49,3 41,8 6,6 2,3

Phát hiện và giải quyết vấn đề

TOÁN Theo nhóm 59,6 30,1 9,4 0.9

Kiến tạo 39 46,9 10 4,1

Phân tích ngôn ngữ 45,5 35,7 18,3 0,5

Thực hành giao tiếp 57,7 31,5 10,3 0,5

TIẾNG Rèn luyện theo mẫu 37,5 44,6 14,6 3,3 VIỆT

Thảo luận nhóm 51,6 40,4 6,1 1,9

Trò chơi 93 6,1 0 0,9

Động não 46 40,4 11,7 1,9

Đóng vai 72,3 16,4 8,9 2,4

Trò chơi 84,5 11,7 2,3 1,5

ĐẠO Thảo luận nhóm 59 33 7,5 0,5 ĐỨC

Kể chuyện 58,2 32,9 6,6 2,3

Giải quyết vấn đề 35,7 50,2 13,6 0,5

Dự án 47,4 33,8 15,5 3,3

Thảo luận nhóm 58,7 30 9,9 1,4 TỰ

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

NHIÊN Điều tra 29 3,8 0,5 66,7

XÃ HỘI Đóng vai 24,4 8 0,9 66,7

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

PHỤ LỤC 4 PHIẾU DỰ GIỜ

Trường: ............................................................................................................ Lớp: .................................................................................................................. Môn: ................................................................................................................ Bài: ..................................................................................................................

Tóm tắt diễn biến bài dạy Nhận xét

Ngày … tháng … năm 2010 Người thực hiện

Nguyễn Thị Nhật Trường

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

PHỤ LỤC 5

Kế hoạch 1: (dành cho dạy học môn Đạo Đức theo phương pháp dự án)

DỰ ÁN

VỀ NGUỔN

(Lớp 5 - Bài 4 – Nhớ ơn tổ tiên)

I. Nội dung bài tập dành cho HS

“ Hãy tìm hiểu và sưu tầm các tranh, ảnh, bài báo về Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương”

Trong dự án “Về nguồn”, HS phải thực hiện bài tập trên. Sau dự án HS cần đạt được các mục

tiêu sau đây:

1. Về kiến thức:

- Biết được: Con người ai cũng có tổ tiên và mỗi người đều phải nhớ ơn tổ tiên.

- Hiểu thêm về Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương ( Giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức vào ngày nào?

Ở đâu? Thường có những hoạt động gì diễn ra?,…)

2. Về kĩ năng:

- Nêu được những việc làm cần để thể hiện lòng biết ơn tổ tiên.

- Góp phần rèn luyện cho HS những kĩ năng: thu thập và xử lí thông tin, tóm tắt tin tức (từ các nguồn sách báo, tạp chí, phim ảnh,…), tìm kiếm thông tin trên mạng, ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập, làm việc nhóm.

3. Thái độ:

- Về Biết ơn tổ tiên, tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

- HS có ý thức trách nhiệm trong công việc.

- HS làm việc độc lập, sáng tạo.

II. Các nhiệm vụ và cách thức thực hiện

HS hợp thành các nhóm 5 theo sự phân chia ngẫu nhiên của GV. Để hoàn thành bài tập này

các bạn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:

1. Tìm hiểu thông tin về Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: HS tìm kiếm qua internet, sách báo, truyền hình…để có những thông tin về Giỗ Tổ Hùng Vương như thời gian, địa điểm tổ chức và những hoạt động diễn ra trong ngày này,…

2. Sưu tầm phim, hình ảnh, bài báo nói về Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương

Sản phẩm của HS sau 2 nhiệm vụ này là một bài trình trên powerpoint không quá 5 slide (có chèn phim (nếu có) và hình ảnh), kết hợp với thuyết trình. Thời gian trình bày không quá 5 phút.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

III. Thang điểm đánh giá

Nội dung – Hình ảnh ( 6 điểm)

Nêu được thời gian, địa điểm tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương. 1 điểm

2 điểm

Nêu được những hoạt động chính được diễn ra trong Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.

Bài viết sáng tạo, thú vị. 1 điểm

Phim, hình ảnh phong phú, đa dạng. 1 điểm

Sản phẩm được trình bày đẹp mắt, có trật tự, hình ảnh rõ. 1 điểm

Kỹ thuật trình bày ( 2 điểm)

Tất cả thành viên đều tham gia trình bày sản phẩm. 1 điểm

Trình bày tự nhiên, trôi chảy. 1 điểm

Tinh thần hợp tác nhóm ( 2 điểm)

Các nhóm tự đánh giá các thành viên theo các tiêu chí sau:

- Công việc được san sẻ cho nhau.

- Mọi người đều cố gắng hết sức vì sản phẩm của nhóm.

- Mọi thông tin đều được chia sẻ và lắng nghe.

IV. Các kế hoạch hỗ trợ

- GV theo dõi quá trình các em thực hiện để kịp thời giải đáp thắc mắc và hỗ trợ HS về kĩ

thuật.

- GV có thể cung cấp cho HS một vài trang web có thông tin đáng tin cậy.

- GV liên hệ với gia đình các em để cùng tham gia hỗ trợ các em về kĩ thuật vi tính và các vấn

đề khác.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

Khóa luận tốt nghiệp Kế hoạch 2: (dành cho dạy học môn TN-XH theo phương pháp điều tra)

ĐIỀU TRA

TÌNH HÌNH RÁC THẢI Ở ĐỊA PHƯƠNG

Bài 36 (Lớp 3)

1. Xác định mục đích, nội dung và đối tượng điều tra

- Mục đích:

+ Tìm hiểu ảnh hưởng của rác thải đến trường học; xung quanh trường học và nơi HS sống

+ Tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp khắc phục.

- Nội dung:

+ Liệt kê những nơi thường có rác và ảnh hưởng của rác thải.

+ Liệt kê những loại rác mà em thấy (giấy, chai, vỏ, đồ hộp, thức ăn thừa, xác chết súc vật,…).

+ Tìm hiểu nguyên nhân là ai là người thường gây ra rác thải.

+ Rác thải ở đó được xử lí như thế nào?

- Đối tượng điều tra:

+ Môi trường trường học, xung quanh trường học và nơi HS sống.

+ GV, HS, người lao động, người dân địa phương.

2. Tổ chức cho HS điều tra

- Việc điều tra thực hiện trước bài học.

- Điều tra theo nhóm, gợi ý như sau:

Nhóm 1: Điều tra về rác thải ở trong trường học.

Nhóm 2: Điều tra vấn đề rác thải xung quanh trường học.

Nhóm 3: Điều tra vấn đề rác thải ở khu tập thể cao tầng.

Nhóm 4: Điều tra về rác thải ở khu dân cư hoặc một chợ gần trường.

- Hướng dẫn cho HS cách thức tìm hiểu điều tra để thu thập thông tin và trả lời cho 4 nội dung

cần điều tra.

+ Quan sát hiện trường và ghi lại những gì em quan sát được.

+ Phỏng vấn: phỏng vấn miệng (đối tượng: GV, HS, người lao công, người dân địa phương,…).

+ Thu thập: hình ảnh, bài viết.

3. Tổ chức cho HS báo cáo kết quả điều tra

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

HS báo cáo kết quả điều tra trước lớp và cả lớp cùng thảo luận để rút ra kết luận:

- Rác thải gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

- Đề xuất biện pháp khắc phục tình trạng rác thải gây ô nhiễm môi trường ở trường học, xung

quanh trường học và nơi HS sống.

- Định hướng những hành vi đúng cho HS.

4. Đánh giá sản phẩm của HS

Nội dung (6 điểm)

2 điểm

Nêu đúng tình hình môi trường ở trường học hoặc xung quanh nơi em ở và tìm được nguyên nhân của tình hình trên.

Đề xuất được những biện pháp giải quyết hay, thiết thực. 2 điểm

Bài viết hoặc tranh vẽ sáng tạo, thú vị. 1 điểm

Có phim, hình ảnh minh họa phong phú, đa dạng. 1 điểm

Kỹ thuật trình bày ( 2 điểm)

Tất cả thành viên đều tham gia trình bày sản phẩm. 1 điểm

Trình bày tự nhiên, trôi chảy. 1 điểm

Tinh thần hợp tác nhóm ( 2 điểm)

Các nhóm tự đánh giá các thành viên theo các tiêu chí sau:

- Công việc được san sẻ cho nhau.

- Mọi người đều cố gắng hết sức vì sản phẩm của nhóm.

- Mọi thông tin đều được chia sẻ và lắng nghe.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị Thanh Chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Vũ Ngọc Anh – Nguyễn Hữu Châu – Bạch Ngọc Diệp – Bùi Thị Dương – Đỗ Tiến Đạt – Nguyễn Thị Hạnh – Nguyễn Thúy Hồng – Hoàng Long – Đàm Luyện – Trần Thị Hiền Lương – Nguyễn Tuyết Nga – Phạm Thanh Tâm – Lương Việt Thái – Lưu Thu Thủy – Vũ Thị Thư (2008), Phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học, NXBGD.

2. Trịnh Thị Vân Anh (2004), Khóa luận tốt nghiệp “Phát huy tính tích cực học tập của HS trong

dạy học Tập đọc ở lớp 2”, Khoa Giáo dục Tiểu học – ĐHSP TP.HCM.

3. Bộ Giáo dục – Đào tạo (2006), Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học, (Dự án phát triển GV

Tiểu học), NXBGD.

4. Lê Thị Thanh Chung (2008), Dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học, NXBGD. 5. Vũ Quốc Chung - Đỗ Trung Hiệu – Đỗ Đình Hoan – Vũ Dương Thụy, (1995), Phương pháp

dạy học môn Toán ở Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm.

6. Nguyễn Thượng Giao (2006), Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và Xã hội, NXB

Đại học Sư phạm.

7. Nguyễn Thị Bích Hạnh–Trần Thị Hương (2004), Lý luận dạy học, Khoa tâm lý giáo dục Đại học sư phạm TP.HCM.

8. Lê Thị Kim Hằng (2004), Khóa luận tốt nghiệp “Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của HS trên lớp trong phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học”, Khoa Giáo dục Tiểu học – ĐHSP TP.HCM.

9. Nguyễn Kỳ (1995), Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm, NXBGD Hà Nội.

10. Võ Thị Lai (2001), Khóa luận tốt nghiệp “Thực trạng sử dụng và phương hướng đổi mới PPDH trong dạy Đọc – hiểu ở tiểu học”, Khoa Giáo dục Tiểu học – ĐHSP TP.HCM.

11. Lê Phương Nga; Đặng Kim Nga (2007), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, (Dự án

phát triển GV Tiểu học), NXBGD-ĐHSP .

12. Robert J.Marzano – Debra J.Pickering – Jane E.Pollock (2005), Các phương pháp dạy học

hiệu quả, NXBGD.

13. Thái Duy Tuyên (2008), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXBGD.

SVTH: Nguyễn Thị Nhật Trường