intTypePromotion=1

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại PGD Lò Đúc- chi nhánh Ngân hàng Việt Nam thương tín Vietbank tại Hà Nội

Chia sẻ: Dong Ba Liem | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:104

0
217
lượt xem
53
download

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại PGD Lò Đúc- chi nhánh Ngân hàng Việt Nam thương tín Vietbank tại Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại PGD Lò Đúc - chi nhánh Ngân hàng Việt Nam thương tín Vietbank tại Hà Nội nhằm nghiên cứu những vấn đề cơ bản về DNVVN và hoạt động tín dụng ngân hàng để hiểu rõ những điểm mạnh, điểm yếu, vai trò, vị trí của DNVVN trong nền kinh tế,...từ đó, đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần mở rộng tín dụng cho các DNVVN của PGD Lò Đúc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại PGD Lò Đúc- chi nhánh Ngân hàng Việt Nam thương tín Vietbank tại Hà Nội

  1. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Doanh nghiệp vừa và nhỏ  (DNVVN) là một loại hình doanh nghiệp  không những thích hợp đối với nền kinh tế  của những nước công nghiệp   phát triển mà còn đặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang  phát triển.  Ở  nước ta trước đây, việc phát triển các DNVVN cũng đã được   quan tâm, song chỉ  từ  khi có đường lối đổi mới kinh tế  do Đảng cộng sản   Việt Nam khởi xướng thì các doanh nghiệp này mới thực sự phát triển nhanh   cả về số và chất lượng. Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá  hiện đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN   là bước đi hợp quy luật đối với nước ta. DNVVN là công cụ  góp phần khai  thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn tiềm tàng sẵn  có ở mỗi người, mỗi miền đất nước. Các DNVVN ngày càng khẳng định vai   trò to lớn của mình trong việc giải quyết các mối quan hệ  mà quốc gia nào  cũng phải quan tâm chú ý đến đó là: Tăng trưởng kinh tế  ­ giải quyết việc   làm. Nhưng để  thúc đẩy phát triển DNVVN  ở  nước ta đòi hỏi phải giải  quyết hàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên   quan đến nhiều vấn đề. Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến   nhất đó là thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ. Vậy DNVVN phải tìm   vốn ở đâu trong điều kiện thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển và bản   thân các doanh nghiệp này khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, chúng ta cũng  chưa có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp này một các hợp lý. Vì vậy phải   giải quyết khó khăn về vốn cho các DNVVN đã và đang là một vấn đề cấp   bách mà Đảng, Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng  cùng phải quan tâm giải quyết.
  2. Thực tế  hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư  cho  phát triển DNVVN còn rất hạn chế vì các DNVVN khó đáp ứng đầy đủ điều  kiện vay vốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh  nghiệp lại sử  dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả. Vì thế  việc tìm ra giải   pháp nhằm mở  rộng hoạt động tín dụng đối với các DNVVN đang là một   vấn đề bức xúc hiện nay của các NHTM. Xuất phát từ quan điểm đó và thực   trạng hoạt động của các DNVVN hiện nay, sau một thời gian thực tập tại   Chi nhánh NHCT Đông Anh em đã chọn đề  tài : “GIẢI PHÁP MỞ  RỘNG   HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ   TẠI PGD LÒ ĐÚC­ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM THƯƠNG   TÍN (VIETBANK) TẠI HÀ NỘI” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.  2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề  cơ  bản về  DNVVN và hoạt động tín dụng   ngân hàng đối với DNVVN để hiểu rõ những điểm mạnh, điểm yếu, vai trò,  vị trí của DNVVN trong nền kinh tế; vai trò của tín dụng ngân hàng đối với   sự  phát triển DNVVN. Trên cơ  sở  đó, nghiên cứu cụ  thể  mối quan hệ  tín  dụng giữa Chi nhánh NHCT Đông Anh với các DNVVN, thấy được thực   trạng của hoạt động này, từ  đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị  nhằm góp  phần mở rộng tín dụng cho các DNVVN của PGD Lò Đúc .   3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các DNVVN tại PGD Lò Đúc   trong 3 quý đầu năm 2010. 4. Phương pháp nghiên cứu  Trong  quá   trình   nghiên   cứu,  khóa   luận   đã   sử  dụng  kết   hợp  một   số  phương pháp nghiên cứu khoa học để  phân tích lý luận và thực tiễn như:   Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương  pháp phân tích hoạt động kinh tế, phương pháp tổng hợp thống kê… 5. Kết cấu của đề tài
  3. Khóa luận gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.   Trong đó, phần nội dung gồm 3 chương: Chương 1:  Lý luận chung về  doanh nghiệp vừa và nhỏ  và tín dụng  ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa   và nhỏ  tại PGD Lò Đúc ­ Chi nhánh Hà Nội , Ngân hàng Việt Nam Thuơng  Tín. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tín dụng  đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Lò Đúc ­ Chi nhánh Hà Nội , Ngân  hàng Việt Nam Thuơng Tín.
  4. CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ  TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC  DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ  1.1.1. Khái niệm a. Khái niệm doanh nghiệp Theo khoản 1 điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thì:   Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ  sở  giao dịch   ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục   đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. b. Khái niệm DNVVN Ở  Việt Nam, do chưa có tiêu chí xác định cụ  thể  đâu là doanh nghiệp   nhỏ đâu là doanh nghiệp vừa nên một số cơ quan Nhà nước, một số tổ chức   hỗ  trợ  đã chủ  động đưa ra các tiêu chí quy định DNVVN để  phục vụ  cho  công tác của mình như: ­ NHCT Việt Nam quy định: là doanh nghiệp có dưới 500 lao động, vốn   cố định 
  5. bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội cụ  thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương  trình trợ  giúp có thể  linh hoạt áp dụng đồng thời cả  hai tiêu chí vốn và lao  động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên   chính thức quy định về DNVVN. Ý nghĩa nổi bật nhất của nghị định này là  đã tạo nên khung pháp lý cho việc trợ giúp phát triển DNVVN ở nước ta.  Theo nghị định 56/2009/NĐ­CP thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở  kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành   ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn  tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế  toán của  doanh nghiệp) hoặc số  lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu   chí ưu tiên), cụ thể như sau: Quy mô Doanh  Doanh  Doanh nghiệp vừa   nghiệp siêu  nghiệp nhỏ nhỏ   Số lao  Tổng  Số lao  Tổng nguồn  Số lao động Khu vực động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm nghiệp và 10 người  20 tỷ đồng  từ trên 10  từ trên 20 tỷ  từ trên 200  thủy sản trở xuống  trở xuống người đến  đồng đến 100 người đến  200 người tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp và xây 10 người  20 tỷ đồng  từ trên 10  từ trên 20 tỷ  từ trên 200  dựng  trở xuống  trở xuống người đến  đồng đến 100 người đến  200 người tỷ đồng 300 người III. Thương mại và  10 người  10 tỷ đồng  từ trên 10  từ trên 10 tỷ  từ trên 50  dịch vụ  trở xuống  trở xuống người đến  đồng đến 50  người đến  50 người tỷ đồng 100 người
  6. Ngoài ra, DNVVN là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ  đặc điểm của một doanh nghiệp. Ngoài ra DNVVN còn có một số đặc điểm  riêng. a. Đặc điểm tạo nên những ưu thế cho DNVVN ­ DNVVN có thể hoạt động mà không cần phải đòi hỏi một lượng vốn  lớn. Thêm vào đó lĩnh vực sản xuất kinh doanh thường hướng tới phục vụ  trực tiếp đời sống xã hội, chủ  yếu nhằm vào những sản phẩm có sức mua  cao, nên có thể  huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn   tiềm ẩn trong dân do đó các DNVVN có khả năng đầu tư rất đa dạng và linh  hoạt. Hơn nữa chu kì sản xuất kinh doanh ngắn, diễn biến theo mùa nên tốc   độ  quay vòng vốn nhanh, từ  đó mang lại hiệu quả  kinh tế  cao cho doanh   nghiệp. ­ Cơ chế tổ chức ­ quản lý của DNVVN hoạt động tương đối hiệu quả  so với các loại hình doanh nghiệp còn lại. Trong DNVVN, cơ  cấu tổ  chức   thường nhỏ gọn, ít cấp bậc, thường không bị chồng chéo. Cũng chính vì cơ  cấu tổ chức đơn giản và gọn nhẹ của các DNVVN được đi cùng với cơ chế  quản lý, điều hành hết sức linh hoạt đã đem lại hiệu quả tích cực trong quản  trị doanh nghiệp. Chi phí quản lý của các DNVVN tương đối thấp. Thời gian  đưa ra quyết định của các DNVVN ngắn, do đó có thể  đưa ra quyết định   nhanh chóng và hiệu quả đối với những vấn đề liên quan đến sản xuất kinh   doanh khiến cho kế hoạch kinh doanh có thể  được xây dựng và điều chỉnh   sát với các biến động thực tế trên thị trường cũng như các nguồn lực nội tại   của doanh nghiệp như vốn, nhân sự, trình độ kỹ thuật…  ­ Các DNVVN rất năng động và có tính linh hoạt cao. DNVVN có thể  sử dụng linh hoạt các loại máy móc, thiết bị nội địa, dễ  dàng thay đổi công  nghệ sao cho phù hợp với yêu cầu của thị trường, đổi mới trang thiết bị kỹ  thuật mà không cần  nhiều chi phí; có thể  kết  hợp cả  những công  nghệ  truyền thống với công nghệ  hiện đại, sản xuất ra những sản phẩm chất  
  7. lượng cao trong điều kiện sản xuất không thuận lợi. Hơn thế, do nhạy cảm  với những biến động của thị  trường và khả  năng phản  ứng lại thị  trường  cũng rất linh động, các DNVVN có thể chuyển đổi nhanh mặt hàng sao cho   phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng; tận dụng được các nguồn nguyên  vật liệu, nhân lực tại chỗ. ­ DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh  tế  và hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế  ­ xã hội. Với quy  mô khiêm tốn của mình, các DNVVN có thể hoạt động trong cả những lĩnh   vực mà những doanh nghiệp lớn không muốn tham gia hoặc không thể vươn  tới, do đó nó có thể tạo ra một lượng cung hàng hóa đáp ứng đầy đủ, kịp thời   nhất mọi nhu cầu tiêu dùng, dù là nhỏ  nhất của tất cả các tầng lớp xã hội.  Các DNVVN có số  lượng lớn, phân bố  rộng khắp trên cả  nước, hoạt động  trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và hoạt động dưới nhiều hình thức  như  DNNN, doanh nghiệp tư nhân, CTCP, CT TNHH, doanh nghiệp có vốn   đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể khác. b. Đặc điểm tạo nên những bất lợi cho DNVVN ­ Đa phần các DNVVN có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ  và luôn  trong tình trạng thiếu vốn, “khát vốn” cho mở  rộng quy mô sản xuất kinh   doanh, đầu tư  cải tiến máy móc, trang thiết bị  mới. Theo kết quả khảo sát  điều tra hơn 63 ngàn doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc cho thấy số  vốn của các DNVVN còn rất thấp: khoảng 50% doanh nghiệp có vốn dưới 1   tỷ đồng, gần 75% doanh nghiệp có vốn dưới 2 tỷ đồng và có tới 90% doanh  nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng (nguồn: Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và  vừa – Bộ Kế hoạch và Đầu tư). ­ Thông tin của các DNVVN thường không minh bạch do hạn chế kiến  thức về  kế  toán, về  thông tin tài chính… nên việc lập kế  hoạch tài chính  cũng như  lập các báo cáo tài chính thiếu chính xác, không trung thực. Do 
  8. chính sách  ưu đãi thuế  thu nhập đối với DNVVN, một số  doanh nghiệp đã   cố tình “chế biến” số liệu, giấu lãi để hưởng chính sách ưu đãi thuế. ­ Chủ yếu các DNVVN không có tài sản đảm bảo để vay vốn. Mặt khác  việc chuyển giao quyền sở hữu về vốn góp bằng tài sản chưa rõ ràng minh  bạch gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình thẩm định tài chính, thẩm  định tài sản đảm bảo. ­ Năng lực quản trị điều hành của chủ DNVVN kém, còn thói quen điều   hành quản trị theo kiểu gia đình. Việc lập kế hoạch kinh doanh, phương án  kinh doanh thiếu tính chuyên nghiệp. Chưa biết thu thập và xử  lý tốt các  thông tin, khả năng tự điều chỉnh trong nền kinh tế thị trường đầy biến động   còn hạn chế. ­ Trình độ của người lao động còn hạn chế. Các chủ DNVVN không đủ  khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người   lao động có tay nghề  cao do hạn chế về tài chính. Người lao động ít được  đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn do kinh phí hạn hẹp vì vậy kỹ  năng tay  nghề của người lao động không cao. Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc  cho các DNVVN, cơ hội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác   động làm cho nhiều người lao động có kỹ  năng tay nghề  cao không muốn  làm việc cho khu vực này. ­ Hạ  tầng cơ  sở phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế,  máy móc thiết bị lạc hậu, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn. Hiện nay phần   lớn công nghệ mà các DNVVN đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm, có   khi vài chục năm, như trong ngành điện tử là khoảng 15 ­ 20 năm, ngành cơ  khí là 20 năm, 70% công nghệ  ngành dệt may đã sử  dụng được 20 năm. Tỷ  lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm chỉ  ở  mức 5 ­ 7% so với mức   20% của thế  giới. Kỹ  thuật, công nghệ  lạc hậu đã kéo theo hiệu quả  sử  dụng vốn thấp, đồng thời làm chi phí đầu vào tăng.
  9. ­ DNVVN thường gặp khó khăn về  tiếp cận những nguồn thông tin,   công nghệ tiên tiến. Đó là một trở ngại lớn khó vượt qua do công nghệ mới  thường rất đắt nên các DNVVN thường không đủ nguồn vốn để đầu tư ngay  vào lĩnh vực này. ­ Chưa có khả năng liên kết, hợp tác giữa các DNVVN với nhau, với các   hiệp hội, với phòng thương mại, với ngân hàng… Tính thực thi các chính  sách hỗ  trợ  của Chính phủ  còn hạn chế. Dẫn đến năng lực cạnh tranh của  các DNVVN kém. 1.1.3. Vai trò của DNVVN đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam Kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực vào ngày 01/01/2000, khu vực  kinh tế tư nhân, đặc biệt là các DNVVN trở thành khu vực kinh tế năng động   nhất. Với xuất phát điểm là một nền kinh tế kém phát triển, sản xuất nhỏ lẻ  phổ  biến, nên các DNVVN chiếm một tỷ  trọng đáng kể  trong các loại hình  doanh   nghiệp   tại   Việt   Nam.   Các   DNVVN  đã   và   đang  trở   thành   một  lực  lượng kinh tế quan trọng, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đóng   góp vào nguồn thu đáng kể cho Ngân sách Nhà nước. Từ năm 2000 đến năm  2006,   Việt   Nam   có   207.034   doanh   nghiệp   dân   doanh   (chủ   yếu   là   các  DNVVN) đăng ký kinh doanh thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt hơn  466 nghìn tỷ  đồng (tương đương gần 3 tỷ  USD). Trong thời gian qua, các  doanh nghiệp dân doanh đã sử dụng gần 3 triệu lao động, đóng góp hơn 40%  GDP và 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả  nước,  đóng góp khoảng   14,8% tổng thu Ngân sách Nhà nước. Việc phát triển DNVVN sẽ  góp phần  đa dạng hóa các thành phần kinh tế, góp phần đáng kể  vào sự  tăng trưởng  GDP của đất nước, đẩy nhanh tốc độ  phát triển của nền kinh tế, tạo ra  nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế. Vai trò của các DNVVN   không chỉ thể hiện ở giá trị kinh tế mà nó tạo ra, mà quan trọng hơn nó có ý  nghĩa then chốt trong việc tạo ra công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, phát  triển đồng đều giữa các vùng, khu vực trong cả nước.
  10. DNVVN còn có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất lưu thông  hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Hệ thống cửa hàng sản xuất kinh doanh, thương  mại ­ dịch vụ vừa và nhỏ đặt  ở khắp các đường phố, khu công nghiệp, các   tụ điểm dân cư, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách nhanh chóng,  thuận tiện.  Với tính năng động cao, các DNVVN còn là trường học khởi nghiệp cho  các doanh nhân và là môi trường tạo mối liên kết, tích tụ vốn để từng bước  hình thành các doanh nghiệp lớn. Thực tế  cho thấy, các doanh nghiệp lớn   đều hình thành từ các DNVVN cách đây vài chục năm và mọi người khi làm  quen với môi trường kinh doanh thường bắt đầu với những DNVVN. Từ  những DNVVN các nhà kinh doanh sẽ được làm quen với sự cạnh tranh, tiếp   cận các kỹ năng quản lý cơ bản, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân. Họ sẽ là  người lãnh đạo các doanh nghiệp này phát triển thành các doanh nghiệp lớn  hoặc tự tìm kiếm các doanh nghiệp lớn để phát triển hơn nữa năng lực của   mình. Nguồn nhân lực về  quản lý vì thế  được nâng cao cả  về  chất lượng   cũng như số lượng.   DNVVN có vai trò tích cực đối với sự  phát triển kinh tế  địa phương,  khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu   kinh tế. Các DNVVN có thể hoạt động ở khắp mọi nơi thậm chí cả  những   nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển như vùng núi, hải đảo, nông thôn. Nhờ đó,   doanh nghiệp có thể khai thác rộng khắp các tài nguyên của từng vùng. Việc  nhiều doanh nghiệp, chủ  yếu là các DNVVN được thành lập tại các vùng  nông thôn, vùng núi, vùng sâu vùng xa sẽ góp phần trong việc chuyển dịch cơ  cấu của nền kinh tế  theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ  trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Các DNVVN góp phần làm tăng hiệu quả  và năng lực cạnh tranh của   nền kinh tế. Sự ra đời của các DNVVN đã làm tăng tính cạnh tranh của nền   kinh tế. Với sự  tồn tại của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một 
  11. ngành, cùng một lĩnh vực sẽ  làm giảm tính độc quyền và buộc các doanh   nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới, làm ăn có hiệu   quả để có thể tồn tại và phát triển.  DNVVN đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng phong phú, đa  dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể  làm được. Hoạt động sản xuất   kinh doanh của các DNVVN đã phát triển hầu khắp các lĩnh vực, rất đa dạng  và phong phú như: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Nếu   trong những năm trước đây, vốn đầu tư  của khu vực tư  nhân và số  lượng  doanh   nghiệp   tư   nhân   thành   lập   mới   hoạt   động   chủ   yếu   trong   lĩnh   vực  thương mại thì trong thời gian gần đây có xu hướng tăng lên trong lĩnh vực  sản xuất kinh doanh, du lịch, xây dựng, giao thông…  1.1.4. Các nguồn huy động vốn của DNVVN a. Nguồn tài chính phi chính thức ­ Vay từ  người quen, người thân nhưng lượng vốn huy  động không   nhiều và không có sẵn khi cần thiết. ­ Vay từ người cho vay nặng lãi, mặc dù không cần tài sản thế chấp và  có thể đáp  ứng đủ, kịp thời nhu cầu vay nhưng hình thức này lại có chi phí   rất cao. ­ Vay thông qua hình thức trả chậm, chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các   doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp với nhà cung cấp các yếu tố đầu   vào. Trong việc tài trợ  cho các DNVVN, các nguồn tài chính phi chính thức   này có một số  lợi thế  nhất định là khá linh hoạt, chi phí giao dịch thường   thấp hơn, hơn nữa giao dịch chủ  yếu dựa trên cơ  sở  lòng tinh giữa những  người đi vay và người cho vay nên thường không có tài sản thế  chấp. Tuy   nhiên, nguồn tài chính này cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: quy mô cho vay   nhỏ, ngắn hạn với chi phí phát sinh cao, chỉ  đủ  để  tài trợ  cho những hoạt  động mua sắm tài sản cố định có quy mô nhỏ và đầu tư nhiều lần. Như vậy, 
  12. các nguồn vốn này khó có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển DNVVN. Do  đó, việc tiếp cận với các nguồn tài chính chính thức được xem là cần thiết  cho quá trình tăng trưởng và phát triển của các DNVVN. b. Nguồn tài chính chính thức ­ Nguồn tín dụng  ưu đãi của Nhà nước thực hiện chủ  yếu thông qua   hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển và Ngân hàng chính sách xã hội. ­ Nguồn tín dụng từ  các TCTD hiện hành bao gồm các NHTM quốc  doanh, NHTM cổ  phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước  ngoài, các quỹ  tín dụng nhân dân và các công ty cho thuê tài chính. Để  mở  rộng sản xuất và phát triển hoạt động kinh doanh, các DNVVN chủ yếu tiếp  cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này   cũng không phải dễ dàng. Theo điều tra về thực trạng DNVVN của Cục phát  triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa ­ Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ có 32.28% các  DNVVN   có   khả   năng   tiếp   cận   được   nguồn   vốn   ngân   hàng,   còn   lại   các   DNVVN rất khó hoặc không thể tiếp cận được. ­ Các chương trình tín dụng của các tổ  chức và chính phủ  nước ngoài  như: Quỹ phát triển DNVVN của cộng đồng châu Âu (SMEDF), tín dụng hỗ  trợ  của ngân hàng hợp tác quốc tế  Nhật Bản (JBIC), dự  án phát triển khu  vực Mêkông (MPFD), hỗ  trợ  của công ty tài chính quốc tế  IFC tại Việt  Nam… ­ Nguồn vốn huy động trên thị trường chứng khoán thông qua việc niêm  yết và phát hành trái phiếu, cổ phiếu. Tuy nhiên, hình thức huy động vốn này  đối với DNVVN rất khó khăn, bởi những điều kiện niêm yết, phát hành hết  sức chặt chẽ mà các DNVVN khó có thể đáp ứng được. 1.2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ  NHỎ 1.2.1. Khái niệm, đặc trưng, phân loại tín dụng ngân hàng a. Khái niệm tín dụng ngân hàng
  13. Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Creditum có nghĩa là một sự  tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn  nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo K.Mác, tín dụng là sự  chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị  từ  người sở  hữu sang người sử  dụng, sau một thời gian nhất định lại quay   về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Theo quan điểm này phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu đó là: tính  chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả. Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người   đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới   hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn   sau: ­ Thứ  nhất:  phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay.  Ở  giai đoạn   này, giá trị  vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay,  ở  đây chỉ  có một  bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị. ­ Thứ  hai: sử  dụng vốn trong quá trình tái sản xuất. Người đi vay sau  khi nhận được giá trị  vốn tín dụng, họ  được quyền sử  dụng giá trị  đó để  thỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên, người đi vay   chỉ  được quyền sử  dụng trong một khoảng thời gian nhất  định mà không  được quyền sở hữu về giá trị đó. ­ Thứ  ba: đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng.  Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kì  sản xuất để trở về hình thái  tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay. Việc các ngân hàng thương mại tập trung vốn dưới hình thức huy động  và phân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tín dụng ngân hàng. b. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng * Tín dụng ngân hàng được thiết lập trên cơ sở lòng tin.
  14. Lòng tin là cơ sở đầu tiên để có quan hệ tín dụng. Vì quan hệ tín dụng  chỉ xảy ra khi người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả tiền vay, sẽ  sử  dụng vốn vay có hiệu quả. Tuy nhiên, lòng tin thể hiện  ở uy tín, tài sản  bảo đảm của khách hàng hay sự bảo lãnh của bên thứ ba. Điều này rất quan  trọng vì nó tạo nên sự an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. * Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn có thời hạn. Nếu không có   thời hạn thì không thể gọi là quan hệ tín dụng hoàn chỉnh. Thời hạn trong quan hệ  tín dụng phụ  thuộc vào thỏa thuận giữa ngân  hàng và khách hàng. Để xác định thời hạn vay ngân hàng căn cứ  tính hợp lý  giữa thời hạn đi vay và thời hạn cho vay vốn để  giảm thiểu rủi ro thanh   khoản. Còn khách hàng xác định dựa trên cơ  sở chu kì sản xuất kinh doanh,   thời điểm hình thành nguồn thu của mình. * Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả cả gốc và lãi. Hoàn trả  là thuộc tính vốn có của tín dụng. Vì vốn cho vay của ngân   hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian  nhất định ngân hàng phải trả lại cho người ký thác. Mặt khác, ngân hàng cần  phải có nguồn để  bù đắp chi phí hoạt động như: khấu hao tài sản cố  định,   trả  lương cán bộ  công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm… nên người vay  vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi. Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường tín dụng còn mang các đặc trưng   sau: ­ Hoạt động tín dụng luôn bị  chi phối bởi các quy luật kinh tế  khách  quan của thị trường: Quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy lu ật giá trị,  quy luật lưu thông tiền tệ. ­ Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng khả  năng xảy ra rủi ro. Đó là  những khoản lỗ tiềm năng mà ngân hàng phải gánh chịu khi đến hạn khách   hàng không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ  nghĩa vụ  trả  nợ  của   mình.
  15. c. Phân loại tín dụng ngân hàng Hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác   nhau. Để  sử  dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả  thì phải tiến hành phân   loại tín dụng. Mặt khác, để  đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh thì việc   cấp tín dụng phải gắn liền với đối tượng vay, để  tạo điều kiện cho sự vận  động của vốn phù hợp với sự  vận động của vật tư  hàng hóa thì phải tiến   hành phân loại tín dụng. * Căn cứ vào thời hạn tín dụng ­ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm (một số  nước quy định dưới 2 năm). Tín dụng ngắn hạn được dùng để  bổ  sung sự  thiếu hụt tạm thời về  vốn lưu động của các doanh nghiệp và phục vụ  các  nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. ­ Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại  tín dụng này được cấp để  mua sắm tài sản cố  định, cải tiến và đổi mới kĩ  thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi  vốn nhanh. ­ Tín dụng dài hạn:  là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử  dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới,   các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay…), cải tiến   và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. * Căn cứ vào đối tượng tín dụng. ­ Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được sử  dụng để  hình thành  vốn lưu động của các tổ  chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu  động thiếu hụt tạm thời. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự  trữ  hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới  hình thức chiết khấu kỳ phiếu.
  16. ­ Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài  sản cố định, có nghĩa là đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi   mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới. * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn. ­ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng cấp cho các  nhà doanh nghiệp, các chủ  thể  kinh doanh  để  tiến hành sản xuất và lưu  thông hàng hóa. ­ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để  đáp  ứng  nhu cầu tiêu dùng như: mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa bền chắc   như tủ lạnh, điều hòa, máy giặt… * Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng. ­ Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung gian  tài chính như NHTM hoặc tổ chức tín dụng khác. ­ Tín dụng trực tiếp: là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền (hoặc  hàng hóa) với người cần sử  dụng tiền (hoặc hàng hóa) đó, không cần phải   thông qua một trung gian tài chính nào cả. * Căn cứ vào mức độ đảm bảo. ­ Tín dụng có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người   bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay. ­ Tín dụng không có đảm bảo:  là hình thức tín dụng không có tài sản  hoặc người bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay. 1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của DNVVN * Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh   nghiệp.  Hiện nay để thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp có thể sử  dụng hai nhóm nguồn vốn là vốn tự có và vốn đi vay. Tuy nhiên nhu cầu vay   vốn của doanh nghiệp không được đáp ứng tối đa mà quy mô của khoản vay   còn tùy thuộc vào các điều kiện, các quy định vay vốn của ngân hàng, của  
  17. pháp luật… Mặt khác, nếu quy mô vốn vay quá lớn sẽ  làm tăng chi phí trả  lãi dẫn đến tăng giá sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.   Do vậy buộc doanh nghiệp phải xây dựng cơ  cấu vốn tối  ưu. Cơ  cấu vốn   tối ưu là sự kết hợp hợp lý nhất các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh   của một doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa giá trị thị trường của doanh   nghiệp tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất. *   Tín   dụng   ngân   hàng   hỗ   trợ   cho   sự   ra   đời   và   phát   triển   của   các   DNVVN; tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh   thường xuyên, liên tục và mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngân hàng không những hỗ trợ  cho DNVVN trong quá trình hoạt động   và phát triển mà còn hỗ trợ cho doanh nghiệp ngay từ khi mới hình thành và   đi vào hoạt động ban đầu. Nếu như không có sự hỗ trợ của ngân hàng thì các  DNVVN sẽ  gặp rất nhiều khó khăn trong việc trang bị  cơ  sở  vật chất, kỹ  thuật cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí không thành lập được.   Nhiều doanh nghiệp ra đời, song do hạn chế về vốn nên không có khả năng   sử dụng công nghệ, thiết bị hiện đại dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất   kinh doanh không cao, thiếu sức cạnh tranh và khó đứng vững trên thương  trường. Để có thể hoạt động thường xuyên liên tục các DNVVN phải có đủ  vốn để  đáp  ứng các nhu cầu cho sản xuất kinh doanh, tuy nhiên nguồn vốn   tự  có của doanh nghiệp lại không thể  đáp  ứng được nhu cầu cần thiết. Vì  vậy vốn tín dụng ngân hàng là một giải pháp hữu hiệu. Tín dụng ngân hàng   còn giúp các DNVVN tái sản xuất mở  rộng, phát triển các ngành nghề  mũi  nhọn.  * Tín dụng ngân hàng giúp các DNVVN tổ chức sản xuất kinh doanh có   hiệu quả từ đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNVVN trên thị   trường. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là tài trợ  vốn mà còn phải  đảm bảo hoàn trả  gốc và lãi đúng hạn. Do vậy khi sử  dụng vốn vay các 
  18. doanh nghiệp không phải chỉ thu hồi vốn đủ mà còn phải tìm mọi biện pháp   sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Mặt khác, các ngân hàng chỉ cho vay   khi đã thẩm định đầy đủ, kỹ  càng mọi yếu tố  liên quan đến doanh nghiệp,  trong đó đặc biệt là tính hiệu quả  và khả  thi của phương án, dự  án kinh  doanh cần tài trợ vốn. Vì vậy, ngay từ khi thiết lập phương án sản xuất kinh   doanh, các doanh nghiệp đã phải nghiên cứu và phân tích kỹ  về  phương án   của mình để có thể tăng tính khả thi của phương án, tăng cường sự tin tưởng  của ngân hàng khi quyết định tài trợ. Ngoài ra trong quá trình cấp tín dụng  ngân hàng còn tư vấn giúp cho các doanh nghiệp có các quyết định đầu tư tốt  nhất, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Đồng thời công tác kiểm  tra định kỳ  của các ngân hàng đã buộc các doanh nghiệp phải làm ăn đứng  đắn, minh bạch, tuân thủ  pháp luật. Trên cơ  sở  đó năng lực cạnh tranh của   DNVVN sẽ ngày càng được nâng cao trên thị trường. * Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình cổ  phần hoá các   DNVVN thuộc loại hình doanh nghiệp Nhà nước.  Trong thời gian qua Nhà nước ta đã và đang tập trung tiến hành cổ phần   hóa các DNNN. Cụ thể, các doanh nghiệp sau khi có quyết định cổ phần hóa  sẽ tự phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay các hình thức huy động vốn khác để  có vốn hoạt động. Trước tình hình đó các ngân hàng cũng tập trung phát triển   các dịch vụ trên thị trường chứng khoán nhằm hỗ trợ  các doanh nghiệp huy  động vốn như  dịch vụ  lưu ký chứng khoán, mua bán cổ  phiếu, trái phiếu,  bảo lãnh phát hành, tư  vấn tài chính… Hơn nữa các doanh nghiệp cũng có   thể sử  dụng các cổ  phiếu, trái phiếu làm tài sản đảm bảo vay vốn tại ngân  hàng. Với hình thức cấp tín dụng này các doanh nghiệp có thể  yên tâm hơn  khi tham gia vào quá trình cổ phần hóa và đó chính là động lực thúc đẩy quá   trình cổ phần hóa hiện nay. * Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các DNVVN tiếp cận nguồn   vốn nước ngoài.
  19. Nếu chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng tốt, các sản phẩm  dịch vụ cung cấp với chất lượng cao, sẽ góp phần tạo ra một cơ sở hạ tầng  tài chính của nền kinh tế vững mạnh, từ đó sẽ  tăng cường thu hút vốn đầu   tư nước ngoài trực tiếp, gián tiếp cũng như các nguồn vốn hỗ trợ phát triển  của các tổ chức nước ngoài. Và như vậy, nguồn vốn để các DNVVN có thể  tiếp cận sẽ ngày càng được mở rộng. * Tín dụng ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh   tế, góp phần chống lạm phát,  ổn định tiền tệ  và giá cả, từ  đó tạo ra môi   trường kinh doanh thuận lợi cho DNVVN. Thông qua tín dụng ngân hàng, có thể  kiểm soát được khối lượng tiền  cung ứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ.  Với việc cung ứng tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng đã   góp phần mở rộng khối lượng tiền cung  ứng trong l ưu thông, thực hiện việc  dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển  chúng một cách hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô, góp phần   tạo ra một môi trường kinh doanh  ổn định, thuận lợi cho hoạt động của các  doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng. Như vậy, DNVVN có thể ra đời, tồn tại và phát triển thì rất cần sự hỗ  trợ  từ  phía ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng là chủ  yếu. Qua đó có   thể thấy, việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN là thực sự quan   trọng, cần thiết và đúng đắn, phù hợp với chủ trương, định hướng chính sách  tăng cường hỗ  trợ  phát triển DNVVN của Đảng và Nhà nước ta trong thời   kỳ đổi mới. 1.2.3. Các phương thức cho vay áp dụng đối với DNVVN a. Cho vay ngắn hạn Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng dành cho doanh nghiệp là loại cho   vay có thời hạn dưới một năm, thường được dùng để bổ sung vốn lưu động 
  20. thiếu hụt tạm thời, phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh   nghiệp. * Cho vay ứng trước: là phương thức tài trợ trực tiếp cho người đi vay  để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn. Bao gồm: ­ Cho vay từng lần: là phương thứ  cho vay dựa trên cơ  sở  nhu cầu tín   dụng của từng đối tượng vay cụ  thể, như  cho vay để  mua nguyên vật liệu   đối với các doanh nghiệp sản xuất, cho vay dự trữ hàng hóa để bán đối với   các doanh nghiệp thương mại… Đây là loại cho vay có kì hạn nợ cụ thể gắn   liền với chu kì ngân quỹ  của doanh nghiệp. Thông thường, việc xét duyệt  cho vay dựa trên cơ  sở  hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng, các hóa đơn bán  hàng, bản kê bán thành phẩm hoặc thành phẩm, hoặc có thể dựa trên dự toán   ngân sách cho từng loại tài sản lưu động cụ  thể. Loại hình cho vay này   thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có trình độ quản trị tài chính yếu,  và có nhiều rủi ro hoặc không có quan hệ  tín dụng thường xuyên với ngân  hàng. Trên thực tế, các doanh nghiệp mới thành lập, các doanh nghiệp nhỏ  thường áp dụng kỹ thuật cho vay này. ­ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương pháp cho vay để  đáp  ứng  toàn bộ nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động theo hạn mức tín dụng đã cam kết.   Hạn mức tín dụng là giới hạn tối đa số  tiền cho vay mà ngân hàng có thể  cung cấp cho một khách hàng trong một thời hạn nhất định. Ngân hàng xác   định hạn mức tín dụng trên cơ sở phân tích toàn diện các mặt hoạt động của  doanh nghiệp và doanh nghiệp được sử  dụng một cách chủ  động tiền vay   trong hạn mức thỏa thuận đó. Thông thường, ngân hàng định kỳ  hạn trả  nợ  cuối cùng cho toàn bộ các khoản vay, không định kỳ hạn trả nợ cho từng lần   giải ngân. Các doanh nghiệp có quan hệ  tín dụng thường xuyên, trình độ  quản trị tài chính tương đối tốt và doanh nghiệp được xếp hạng tín dụng cao  là những doanh nghiệp thường được áp dụng loại hình cho vay này.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2