ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

---0-0---

TRẦN CẨM TÚ

CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG LUẬT BẢO HIỂM

XÃ HỘI NĂM 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LUẬT HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Khóa học: QH-2014-L

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS Lê Thị Hoài Thu

Hà Nội - 2018

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan báo cáo này là nghiên cứu của riêng tôi.

Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong báo cáo có nguồn dẫn rõ ràng,

các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.

Sinh viên

Trần Cẩm Tú

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ ...... 6

1.1.Khái niệm chế độ hưu trí ............................................................................. 6

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm chế độ hưu trí ......................................................... 6

1.1.2.Nguyên tắc cơ bản của chế độ hưu trí ...................................................... 9

1.1.3.Vai trò của chế độ hưu trí ....................................................................... 11

1.1.4.Chế độ hưu trí theo quy định của các quốc gia khác trên thế giới và

những gợi mở cho Việt Nam ........................................................................... 13

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM ............... 20

2.1.Lược sử quá trình hình thành và phát triển chế độ hưu trí ở Việt Nam .... 20

2.2.Thực trạng pháp luật Việt Nam về chế độ hưu trí .................................... 22

2.2.1.Chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc ...................... 22

2.2.2.Chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện .................... 30

2.3. Thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí ở Việt Nam ....................................... 32

2.3.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 32

2.3.2. Những hạn chế trong việc thực hiện chế độ hưu trí .............................. 36

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN

CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 ....... 42

3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam..... 42

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về chế

độ hưu trí ......................................................................................................... 43

3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức triển khai thực hiện

chế độ hưu trí ở Việt Nam. .............................................................................. 45

KẾT LUẬN .................................................................................................... 49

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 51

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH : Bảo hiểm xã hội

BQTL : Bình quân tiền lương

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chế độ hưu trí là một trong những chế độ bảo hiểm xã hội quan trọng

nhất của hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội tại Việt Nam. Bảo hiểm xã hội

nói chung và chế độ hưu trí nói riêng đều góp phần bảo đảm cho quyền con

người được thực hiện một cách trọn vẹn, xác đáng nhất. Bảo hiểm xã hội là

một loại chế độ pháp định nhằm bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền

đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ

của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình

trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn

lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thật nghiệp, hết tuổi lao động theo quy

định của pháp luật. Qua thời gian dài tổ chức thực hiện, chế độ hưu trí cũng

với các chế độ bảo hiểm xã hội khác đã và đang đảm bảo cho người lao động

những điều kiện nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

Chế độ hưu trí đã bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ phong kiến với các

quy định hết sức sơ khai và áp dụng chủ yếu đối với một số viên chức và một

số chức danh trong bộ máy chính quyền. Hệ thống hưu trí Việt Nam chính

thức được hình thành từ năm 1962. Ngày 27/12/1961, Nghị định 218/CP về

ban hành điều lệ tạm thời về ác chế độ BHXH đối với công nhân viên chức

nhà nước được ban hành, nghị định này được coi là văn bản gốc về bảo hiểm

xã hội đối với cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước. Sau đó là sự ra đời của

Bộ luật lao động năm 1995 và đến năm 2006, chương Bảo hiểm xã hội trong

Bộ Luật Lao động được tách ra thành Luật Bảo hiểm xã hội; trong đó, chế độ

hưu trí có quy định tại một mục riêng với 13 Điều.

Trong hơn 40 qua, chế độ hưu trí luôn có một vị trí quan trọng, góp

phần vào việc ổn định đời sống của công nhân viên chức, lực lượng vũ trang

và gia đình họ làm cho họ yên tâm lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi các

nhiệm vụ chính trị của đất nước. Sự ra đời và phát triển của các chính sách về

1

hưu trí nói riêng và chính sách bảo hiểm xã hội nói chung có tầm quan trọng

lớn đối với xã hội do sự tăng trưởng kinh tế, sự phát triển đa ngành nghề, dẫn

đến nhu cầu về bảo hiểm xã hội ngày càng tăng cũng như số lượng người về

hưu ngày càng nhiều thì đời sống của họ luôn là mối quan tâm lớn của Đảng

và nhà nước ta. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi một số quy định trong

Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực kể từ thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2018,

vấn đề hưu trí lại càng nhận được sự quan tâm nhiều hơn.

Để có thể đảm bảo đạt hiệu quả cao trong việc quy định các chế độ

dành cho người tham gia lao động đã về hưu thì việc xây dựng và hoàn thiện chế

độ hưu trí là điều hết sức cần thiết. Từ thời kỳ bao cấp cho đến thời kỳ công

nghiệp hóa-hiện đại hóa ngày nay, theo cùng với sự phát triển của đất nước là sự

đa dạng hóa của các loại ngành nghề, dẫn đến yêu cầu về nguồn lao động ngày

càng tăng cao. Nguồn lao động càng lớn, đòi hỏi phải có những chính sách càng

tiến bộ, theo kịp với yêu cầu của thời đại, bảo đảm sự ổn định cho chính nguồn

lao động đó. Đồng thời, việc nghiên cứu và đánh giá tính khả thi và hạn chế của

những quy định được áp dụng tại thời điểm năm 2018 cũng rất cần thiết nhằm

giúp cho việc thực hiện bảo hiểm xã hội đạt hiệu quả cao.

Xuất phát từ tầm quan trọng của chế độ hưu trí, thực trạng pháp luật

cũng như thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí ở Việt Nam, việc đi sâu nghiên

cứu các quy định pháp luật hiện hành về chế độ hưu trí có sự tham chiếu, so

sánh với pháp luật quốc tế để tìm ra những thiếu sót, hạn chế; nguyên nhân

của hạn chế và đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ hưu trí về mọi mặt

trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết. Chính vì lý do đó, tôi đã chọn đề

tài “ Chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2014” làm đề tài tốt

nghiệp với hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào công tác nghiên cứu trong

lĩnh vực pháp luật về bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu trí nói riêng.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Chế độ hưu trí là một trong những chế độ quan trọng nhất trong hệ

thống các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam nói riêng và trên phạm vi thế

2

giới nói chung. Chính vì vậy, đề tài hưu trí luôn nhận được sự quan tâm,

nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau; nhận được sự theo dõi, tìm hiểu

của nhiều thành phần trong xã hội. Có thể kể đến một số công trình sau:

- Tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng với bài viết: “Góp ý vào Dự

thảo Luật bảo hiểm xã hội: Hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí”, Tập chí

Nghiên cứu lập pháp, số 8/2005;

- Tác giả Trần Phương Thảo và Nguyễn Anh Tuấn với bài viết: “Hệ

thống hưu trí trên thế giới: kinh nghiệm quốc tế và xu hướng cải cách”, Tạp

chí Tài chính-Bảo hiểm, số 3/2013;

- Tác giả Bùi Cẩm Hường với bài viết: “Nỗ lực cải cách hệ thống

hưu trí Việt Nam: Bảo hiểm hưu trí tự nguyện và Bảo hiểm hưu trí bổ sung”,

Tạp chí Tài chính- Bảo hiểm, số 3/2013;

- Tác giả Bùi Ngọc Thanh với bài viết: “Kiến nghị sửa đổi chế độ hưu

trí trong Luật bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19/2013;

- Tác giả Đặng Như Lợi với bài viết: “ Cải cách Luật bảo hiểm xã hội

để mở rộng bảo hiểm hưu trí đối với người cao tuổi”, Tạp chí Lý luận chính

trị số 12/2014.

Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khá như:

- Tác giả Trần Công Dũng với công trình: “Góp phần hoàn thiện chế

độ hưu trí trong pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam”, Khoa Luật

Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002;

- Tác giả Lê Ngọc Linh với công trình: “Cải cách chế độ bảo hiểm

hưu trí trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Trường

Đại học Luật Hà Nội, năm 2008;

- Tác giả Nguyễn Thị Hiên với công trình: “Những điểm mới về chế

độ bảo hiểm hưu trí của Luật Bảo hiểm xã hội 2006”, Trường đại học Luật Hà

Nội năm 2007.

- Tác giả Lê Ngọc Linh với công trình: “Bảo hiểm hưu trí-Thực

trạng và kiến nghị”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015.

3

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên đều tập trung tìm hiểu,

nghiên cứu về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội qua mỗi thời kỳ. Tuy

nhiên, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 mới có hiệu lực thi hành kể từ ngày

01/01/2016 và đặc biệt ở phần chế độ hưu trí có những quy định bắt đầu có

hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018; vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “ Chế độ hưu

trí trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014” là cần thiết về cả vấn đề lý luận và

thực tiễn.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài làm rõ các vấn đề sau:

Nghiên cứu, làm rõ nội dung các quy định của pháp luật hiện hành,

đặc biệt là các quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 về chế độ hưu

trí, cũng như vai trò và tác động của chế độ hưu trí trong quá trình phát triển

kinh tế và xã hội.

Tìm hiểu thực tiễn chế độ hưu trí tại Việt Nam, từ đó rút ra những ưu

điểm và hạn chế, vướng mắc của những quy định đó.

Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt

động của Bảo hiểm xã hội về chế độ hưu trí.

Từ những mục đích trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứ cụ

thể như sau:

Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm của và các chế độ BHXH, trong đó

đi sâu phân tích khái niệm, đặc điểm của chế độ hưu trí.

Nghiên cứu so sánh một số chính sách về chế độ hưu trí trong Luật bảo

hiểm xã hội ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.

Nghiên cứu thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí ở Việt Nam, từ đó rút

ra những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về chế độ hưu trí

và thực tiễn thực hiện.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về

chế độ bảo hiểm hưu trí, về thực trạng các quy định của pháp luật về bảo hiểm

hưu trí và thực trạng thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam.

4

Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế độ hưu

trí được quy định trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản hướng

dẫn thi hành, đồng thời so sánh đối chiếu với chế độ hưu trí của một số nước

trên thế giới, những quy định pháp luật quốc tế về vấn đề này.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận Mác – Lênin về duy vật biện chứng và

duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, đồng thời

vận dụng các tư tưởng chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới tư duy

chính trị - pháp lý, về cải cách hành chính tư pháp và về chính sách an sinh xã

hội, trong đó có chế độ bảo hiểm hưu trí.

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ đặt ra, luận văn được thực

hiện dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp

logic với phương pháp phân tích, thống kê, so sánh và tổng hợp.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của báo cáo nghiên cứu

Luận văn sẽ góp phần làm rõ và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận và

thực tiễn về hoạt động bảo hiểm xã hội nói chung và về chế độ hưu trí nói riêng.

Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về

chế độ hưu trí và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo hiểm hưu

trí ở Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn có sự thay đổi về cách tính lương

hưu hiện nay

Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ

việc nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về lao động, phần chuyên về BHXH.

7. Kết cấu của báo cáo nghiên cứu

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo,

luận văn có kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận.

Chương 2: Thực trạng chế độ hưu trí ở Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chế độ hưu trí

trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

5

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

1.1. Khái niệm chế độ hưu trí

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm chế độ hưu trí

Hệ thống hưu trí là bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội tại

bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Hệ thống hưu trí thông thường được xây

dựng gồm ba tầng (phúc lợi xã hội, hưu trí bắt buộc, hưu trí tự nguyện) nhằm

đảm bảo diện bao phủ rộng và cung cấp sản phẩm hưu trí linh hoạt, đảm bảo

nhu cầu và quyền lợi cho người cao tuổi. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế

và cơ cấu dân số xã hội, hệ thống hưu trí được xây dựng tương đối khác biệt

theo từng quốc gia.

Chế độ hưu trí được hình thành tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới

nói chung bởi những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Thông thường, mỗi

người chỉ có một khoảng thời gian có đầy đủ các điều kiện về sức khỏe và trí

tuệ để tham gia lao động. Vì vậy, dựa vào các nghiên cứu về khả năng lao

động ở các quốc gia trên thế giới, có thể thấy độ tuổi về hưu là tương đối

đồng đều. Từ đó có thể thấy, những người không còn khả năng lao động sẽ

không còn khả năng tự tạo ra thu nhập cho bản thân. Và để đảm bảo lợi ích

cho người lao động khi họ đã tham gia cống hiến sức lao động của mình trong

một khoảng thời gian dài, Nhà nước đã đưa ra các quy định về chế độ hưu trí

nhằm đảm bảo thu nhập cho người lao động khi đã hết tuổi lao động.

Chế độ hưu trí có thể được hiểu theo một vài nghĩa khác nhau:

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì chế độ hưu trí là dạng trợ cấp

cho những người tham gia bảo hiểm xã hội đạt đến độ tuổi cao mà không tiếp

tục làm việc bình thường nữa.

Chế độ hưu trí nhằm chu cấp phần thu nhập bị mất cho những người

lao động khi đã kết thúc quá trình lao động, để đảm bảo đời sống cho chính

những người lao động này.

6

Chế độ hưu trí là chế độ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo thu nhập cho

người lao động hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động

với mục đích đảm bảo thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của công dân sau

khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội; ổn định đời sống cho

người lao động sau khi họ hết tuổi lao động, góp phần tăng cường sức khỏe và

nâng cao tuổi thọ; thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với người

lao động không chỉ trong quá trình lao động mà kể cả khi người lao động hết

tuổi lao động; thể hiện đạo lý dân tộc, trình độ văn minh của xã hội.

Chế độ hưu trí là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về các

điều kiện và mức trợ cấp cho những người tham gia bảo hiểm hưu trí, khi đã

hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động.

Có thể thấy, các định nghĩa về chế độ hưu trí nêu trên có sự tương

đồng nhau, là một chế độ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo thực hiện quyền

lợi hợp pháp của người lao động sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động

và đóng bảo hiểm xã hội, nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao

động khi không còn khả năng lao động bình thường, hay còn gọi là khi đã

hết tuổi lao động.

Đặc điểm của chế độ hưu trí:

Thứ nhất, chế độ hưu trí là một trong những chế độ bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, khác với chế độ thai sản hay chế độ ốm đau..., người lao động tiến

hành đóng bảo hiểm hưu trí ngay trong quá trình lao động, nhưng lại được

hưởng ngoài quá trình lao động, tức là sau khi đã đáp ứng đủ các điều kiện để

được nghỉ hưu và hưởng lương hưu.

Thứ hai, chế độ hưu trí nhằm tạo ra một khoản thu nhập ổn định cho

người lao động sau quá trình về hưu, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp

pháp của công dân sau khi đã đóng góp và cống hiến sức lao động của mình

cho xã hội, tạo ra của cải vật chất và phát triển đời sống.

Thứ ba, chế độ hưu trí do Nhà nước thống nhất quản lý và quy định

Thứ tư, để được hưởng chế độ hưu trí, người lao động phải thuộc đối

7

tượng được hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí, đồng thời đáp ứng các điều kiện

theo quy định của pháp luật về tuổi, thời gian đóng bảo hiểm,…

Thứ năm, mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng,

và thời gian đóng bảo hiểm xã hội trong quá trình lao động

Bản chất của chế độ hưu trí

Một là, chế độ hưu trí đặt ra với người lao động kể từ thời điểm họ về

hưu cho đến khi họ chết, với mục đích nhằm đảm bảo một khoản lương hưu

cho người lao động khi họ không còn khả năng tạo ra thu nhập do các nguyên

nhân như tuổi cao, sức yếu, không còn khả năng làm việc ở điều kiện bình

thường. Những điều kiện về nội dung cụ thể được quy định trong Luật bảo

hiểm xã hội năm 2014.

Hai là, chế độ hưu trí là một chế độ bảo hiểm xã hội mang tính dài hạn.

Điều này được thể hiện ở hai quá trình là quá trình đóng và quá trình hưởng

lương hưu. Người lao động có trách nhiệm tham gia đóng bảo hiểm xã hội trong

suốt quãng thời gian làm việc cho đến khi đã đủ các điều kiện về tuổi đời và thời

gian tham gia bảo hiểm xã hội thì họ sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí trong khoảng

thời gian tính từ lúc về hưu cho đến khi người lao động chết. Theo đó, thời gian

đóng và hưởng lương hưu có thể chênh lệch nhau nhiều hay ít phụ thuộc vào

tuổi thọ cũng như số năm công tác của từng người lao động.

Ba là, chế độ hưu trí có sự kế thừa giữa các thế hệ lao động trong việc

hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm hưu trí. Đặc trưng này thể hiện nguyên

tắc lấy số đông bù số ít - một nguyên tắc đặc thù của bảo hiểm xã hội. Mọi

người tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp cho bên nhận bảo hiểm xã hội và

tích dần thành một quỹ tài chính độc lập dùng để chi trả trợ cấp cho người lao

động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập trong các chế độ đã quy định. Số trợ

cấp của họ nhận được thường lớn hơn so với số tiền đóng góp của họ. Điều

này tạo nên cơ chế phải lấy kết quả đóng góp của số đông người tham gia để

bù cho số ít người được hưởng trợ cấp.

8

1.1.2. Nguyên tắc cơ bản của chế độ hưu trí

Chế độ bảo hiểm hưu trí là một trong những chế độ BHXH, vì vậy, chế

độ hưu trí cũng tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản của chế độ bảo hiểm

xã hội và có thêm một số nguyên tắc đặc thù.

Thứ nhất, đảm bảo sự công bằng cho mọi thành viên trong xã hội có

quyền được tham gia và hưởng an sinh xã hội.

Những quy định về chế độ hưu trí nhằm mục đích lớn nhất là đảm bảo

cho người lao động sau khi về hưu một khoản tiền nhằm họ ổn định cuộc

sống. Việc này cần thực hiện đối với mọi người lao động theo nguyên tắc

đóng – hưởng, bảo đảm cân đối quỹ bảo hiểm xã hội, xây dựng chính sách

khuyến khích nông dân, lao động trong khu vực phi chính phủ tham giao bảo

hiểm xã hội tự nguyện. Mặc dù không còn khả năng lao động, nhưng họ vẫn

nhận được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Điều này cũng nhằm thể hiện sự quan

tâm của Nhà nước với chính sách xã hội và với tầng lớp hưu trí chiếm một số

lượng không nhỏ trong xã hội.

Thứ hai, phân biệt hợp lý chế độ bảo hiểm hưu trí giữa lao động nam

và lao động nữ.

Mặc dù hiện này, nam và nữ là hoàn toàn bình đẳng trong các mối quan

hệ, tuy nhiên vì một số lý do sinh học nên chế độ hưu trí giữa lao động nam

và nữ vẫn có sự ưu đãi hơn dành cho nữ giới. Trong Luật bảo hiểm xã hội

năm 2014, ngoài các quy định chung về chế độ bảo hiểm xã hội đối với người

lao động tham gia bảo hiểm xã hội, còn có quy định riêng đối với lao động nữ

tại Điều 54 về điều kiện hưởng lương hưu của nam là đủ 60 tuổi và nữ là 55

tuổi. Sự chênh lệch thời gian 05 năm về tuổi nghỉ hưu cũng tạo ra sự chênh

lệch 05 năm trong thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Cụ thể, mức lương hưu

hàng năm của người lao động đủ điều kiện theo quy định của Luật bảo hiểm

xã hội được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng

BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mooixx năm

đóng BHXH được tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, mức tối đa

được hưởng bằng 75%.

9

Tuy nhiên hiện nay theo cách tính mới kể từ ngày 01 tháng 01 năm

2018, mức hưởng lương hàng tháng của người lao động đủ điều kiện được

tính bằng 45% mức bình quân tiền lương hàng tháng đóng BHXH và tương

ứng với số năm đóng BHXH là: Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16

năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm,…; Lao động nữ nghỉ hưu

vào năm 2018 trở đi là 15 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động

được tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%. Vì vậy dù theo quy định trước đây

hay quy định hiện hành, thì cách tính lương hưu của nam với nữ cũng có phần

ưu tiên hơn dành cho lao động nữ.

Trong các nguyên tắc của chế độ hưu trí có nguyên tắc đảm bảo sự

công bằng cho mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng an sinh xã hội và

nguyên tắc có sự phân biệt hợp lý chế độ hưởng bảo hiểm hưu trí giữa lao

động nam và lao động nữ. Hai nguyên tắc trên tưởng chừng như có sự đối

nghịch lẫn nhau, tuy nhiên, việc đảm bảo ưu tiên cho lao động nữ có những lý

do liên quan đến thể chất, giới tính khiến việc tạo ưu tiên cho họ mới giúp

thực sự đảm bảo nguyên tắc công bằng.

Thứ ba, nguyên tắc ưu đãi với một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định

như người lao động hành nghề có tính chất nặng nhọc độc hại, làm việc ở

vùng xa xôi hẻo lánh, làm việc trong lĩnh vực an ninh quốc phòng,...

Nguyên tắc này quy định người lao động làm những công việc nặng nhọc

độc hại, làm việc ở những vùng sâu vùng xa hoặc làm việc trong lực lượng vũ

trang sẽ được nghỉ hưu sớm hơn nhưng không phải trừ tỷ lệ lương hưu. Trường

hợp người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định trên mà vẫn

muốn tiếp tục làm việc và người sử dụng lao động vẫn có nhu cầu sử dụng thì

người lao động vẫn tiếp tục là việc và tham gia BHXH bắt buộc theo quy định.

Tuy nhiên, nếu họ không muốn tiếp tục làm việc thì sẽ có quyết định nghỉ việc và

lập hồ sơ hưởng lương hưu đối với người đang đóng BHXH gửi cơ quan BHXH

giải quyết theo quy định.Việc này vừa nhằm tạo điều kiện cho người lao động,

đồng thời cũng thể hiện sự công nhận và quan tâm của Nhà nước đối với công sức

và sự cống hiến của nhóm đối tượng này.

10

Thứ tư, mức trợ cấp chế độ hưu trí phù hợp với tốc độ tăng trưởng

kinh tế.

Chế độ hưu trí rất quan trọng trong chính sách bảo hiểm xã hội của một

quốc gia, hầu hết người lao động của quốc gia đó đều tham gia chế độ hưu trí

gần như cả cuộc đời mình, tác động đến đời sống vật chất, tinh thần của người

lao động và gia đình của họ cũng như của xã hội. Như vậy, chế độ hưu trí có

ảnh hưởng đến nhiều mặt kinh tế xã hội của quốc gia đó và ngược lại, Nền

kinh tế đạt trình độ phát triển cao thì mức sống của người lao động, của người

dân và tuổi thọ cũng không ngừng được nâng cao, cấu trúc dân số sẽ có sự

biển đổi. Trong các trường hợp này, tuổi về hưu của người lao động kéo dài.

Tại Việt Nam, theo quy định của pháp luật đã tiến hành tăng số năm

đóng bảo hiểm xã hội khi tính tỷ lệ để hưởng lương hưu, và tăng dần độ tuổi

tính tỷ lệ hưởng lương hưu.

1.1.3. Vai trò của chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí giữ vai trò quan trọng vì đó là vấn đề quan tâm của

người lao động khi tham gia quan hệ bảo hiểm vì hầu hết mọi người tham gia

đều là đối tượng của bảo hiểm hưu trí. Theo dự báo Dân số của Liên hợp quốc

năm 2002 về dân số Việt Nam đên năm 2050, tỷ lệ người già (trên 60 tuổi) sẽ

chiếm khoảng 25% dân số. Vì vậy, việc tạo ra một khoản thu nhập ổn định

cho họ sau quá trình về hưu là rất cần thiết, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích

hợp pháp của công dân sau khi đã đóng góp và cống hiến sức lao động của

mình cho xã hội, tạo ra của cải vật chất và phát triển đời sống. Từ đó có thể

nhận thấy, chế độ hưu trí có một vai trò to lớn đối trong đời sống xã hội.

Đối với người lao động, bảo hiểm xã hội được coi là điều kiện cho

người lao động được cộng động tương trợ khi xảy ra các rủi ro như ốm đau,

tai nạn,…Và chế độ hưu trí đảm bảo việc thực hiện quyền và lợi ích của

người lao động sau khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội.

Xét về tuổi đời, họ đa phần là những người cao tuổi, bị giảm hoặc hết khả

năng lao động. Xét về mặt xã hội, họ là những người đã có đóng góp một

phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

11

Chế độ hưu trí mang tính chất hoàn trả và ít nhiều có sự tách biệt giữa

đóng và hưởng vì người tham gia bảo hiểm đóng suốt thời kỳ lao động được

hưởng trợ cấp khi về hưu. Hàng tháng, người lao động đều đóng một khoản

tiền nhất định vào quỹ bảo hiểm xã hội, chính điều này đã góp phần chi tiêu

hợp lý, cân đối hơn nhằm dụ phòng một khoản thu nhập cho tuổi già. Ngoài

ra còn có thể thấy, bảo hiểm hưu trí là khoản thu nhập chính đáng, nhằm đảm

bảo cho họ cuộc sống ổn định về mặt vật chất và tinh thần sau khi họ đã bị

giảm hoặc không còn khả năng lao động. Khoản trợ cấp này tạo nên tâm lý

thoải mái, không phụ thuộc vào gia đình và người thân, giúp họ không mặc

cảm là gánh nặng của gia đình và xã hội.

Đối với người sử dụng lao động, BHXH có tác dụng nhằm ổn định

hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách phân phố các khoản chi phí cho

người lao động một cách hợp lý. Hơn nữa, việc tham gia bảo hiểm xã hội nói

chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng giúp tạo được mối quan hệ tốt với người

lao động, giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đối

với người lao động để họ yên lao động sản xuất.

Việc có một khoản trợ cấp ổn định sau khi hết tuổi lao động sẽ giúp

người lao động tích cực và có động lực làm việc hơn, góp phần tăng năng suất

lao động và chất lượng sản phẩm và tạo nên lợi nhuận nhiều hơn cho người sử

dụng lao động. BHXH nói chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng còn là yếu tố

quan trọng góp phần thu hút, ổn định thị trường lao động, tạo điều kiện phát

triển sản xuất do người lao động có xu hướng lựa chọn những doanh nghiệp

có tham gia BHXH cho người lao động để vào làm việc.

Đối với xã hội, chế độ BHXH thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, của

xã hội, của người sử dụng lao động đối với những người đã có quá trình lao

động, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, nay hết tuổi lao động.

BHXH là căn cứ nhằm đánh giá trình độ quản lý rủi ro và mức độ an sinh xã

hội đạt được trong mỗi quốc gia. Đồng thời, nhằm phản ánh trình độ phát

triển kinh tế, xã hội của các nước.

12

Hiện nay, xu hướng già hóa dẫn đến số lượng người nghỉ hưu ngày

càng tăng. Điều này cho thấy rõ vai trò ngày càng quan trọng của chế độ hưu

trí trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Hơn nữa, chế độ bảo hiểm

hưu trí còn thể hiện được sự quan chăm sóc của Nhà nước, người sử dụng lao

động đối với người lao động, cao hơn nữa là phản ánh trình độ văn minh của

một chế độ xã hội.

Bảo hiểm hưu trí tạo niềm tin tương lai cho người lao động, thúc đẩy

họ gắn bó với công việc vào tạo tâm lý yên tâm, tích cực làm việc để tăng

thêm nguồn thu nhập và cũng từ đó có điều kiện tăng mức đóng bảo hiểm hưu

trí để khi hết tuổi lao động được nhận tiền lương bảo hiểm hưu trí.

1.1.4. Chế độ hưu trí theo quy định của các quốc gia khác trên thế

giới và những gợi mở cho Việt Nam

Tuổi nghỉ hưu thường được xác định dựa trên tuổi già sinh học của

người lao động. Ở các nước có dân số già (tỷ trọng người già chiếm trên 10%

dân số), lực lượng lao động trong tuổi ít nên thường quy định tuổi nghỉ hưu

cao. Ngược lại, đối với các nhóm nước có dân số trẻ thường quy định tuổi

nghỉ hưu thấp để đổi mới lực lượng lao động.

Nhóm các nước ASEAN: Đây là nhóm các nước có mối quan hệ gần

gũi với Việt Nam về vị trí địa lý, tại đây, tuổi về hưu được pháp luật quy định

cụ thể như sau

Tuổi tiêu chuẩn Tuổi nghỉ hưu sớm có điều kiện

Nhật Bản 65 cho cả hai giới không

Lào 60 cho cả hai giới tới 5 năm

Phi-lip- 60 cho cả hai giới tới 5 năm

pin

Hàn Quốc 65 cho cả hai giới tới 10 năm

Thái Lan 55 cho cả hai giới

Đài Loan 60 nam 55 nữ tới 10 năm (nam) tới 5 năm (nữ)

Việt Nam 60 nam 55 nữ tới 5 năm

13

Indonesia 55 cho cả hai giới không

Malaysia 55 cho cả hai giới không

Singapore 62 cho cả hai giới không

60 cho nam giới tới 10 năm (45 cho phụ nữ) Trung

50 tới 60 cho phụ nữ Quốc

Nguồn: Cơ quan An sinh Xã hội Hoa Kỳ (2016).

Trung Quốc: phụ nữ có chuyên môn nghỉ hưu ở tuổi 60, các phụ nữ hưởng

lương khác nghỉ hưu ở tuổi 55, và các phụ nữ khác nghỉ hưu ở tuổi 50.

Nhóm các nước Tây Âu và Bắc Mỹ:

Tuổi nghỉ hưu tại các quốc gia OECD, thời kỳ 1949-2035

1989 1993 2002 2035

Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ

Úc 65 60 60 65 65 62.5 65 65

Áo 65 60 60 65 65 60 65 65

Bỉ 60 60 60 60 60 60 65 65

Ca-na-đa 60 60 60 60 60 60 60 60

Đan Mạch 67 67 67 67 67 67 65 65

Phần Lan 60 60 60 60 60 60 62 62

Pháp 60 60 60 60 60 60 60 60

Đức 65 60 60 65 65 61 65 65

Hy Lạp 60 55 55 60 60 60 65 65

Ai-xơ-len 67 67 65 65 67 67 67 67

Ailen 65 65 65 65 65 65 65 65

Ý 60 55 55 60 57 57 60 60

Nhật Bản 60 56 58 60 60 60 65 65

Lu-xem-bua 65 65 57 57 60 60 60 60

Hà Lan 65 65 65 65 65 65 65 65

Niu Zilân 60 60 62 62 65 65 65 65

14

Na-Uy 67 67 67 67 67 67 67 67

Bồ Đào Nha 65 62 55 55 55 55 55 55

Tây Ban Nha 65 65 60 60 60 60 61 61

Thuỵ Điển 60 60 60 60 61 61 61 61

Thuỵ Sĩ 65 60 65 62 65 63 65 64

Anh 65 60 65 60 65 60 65 65

Mỹ 62 62 62 62 62 62 62 62

Nguồn: Turner (2007).

Từ những số liệu trên, có thể thấy mặc dù trình độ phát triển cũng như

vị trí địa lý của các quốc gia có sự khác biệt, tuy nhiên tuổi nghỉ hưu đều dao

động từ 55 đến 65 tuổi. Trong đó, 1/3 số nước quy định tuổi nghỉ hưu của

nam nữ như nhau, còn lại thường quy định nam cao hơn so với nữ, thường là

05 tuổi.

Ngoài điều kiện về tuổi, thời gian đóng bảo hiểm xã hội cũng có một ý

nghĩa rất quan trọng trong việc xác lập chế độ hưu trí. Các quốc gia đều quy

định thời gian đóng BHXH tổi thiểu và thời gian đóng BHXH dao động từ 15

đến 45 năm. Cụ thể ở các quốc gia như sau:

Ở Trung Quốc, thời gian đóng phí bảo hiểm hưu trí tối thiểu là 20 năm

[2.tr.25]

Thái Lan: Người đến tuổi về hưu (55 tuổi) muốn nhận lương hưu phải

đạt điều kiện đã đóng BHXH ít nhất 15 năm. Trường hợp đóng bảo hiểm

nhiều hơn 15 năm, thì cứ mỗi năm đóng thêm đó, lương hưu sẽ được cộng

thêm 1,5%[25]

Pháp: đóng 150 tháng liên tục [53]

Có thể thấy, việc quy định thời gian đóng góp là khác nhau ở từng quốc

gia, tuy nhiên hầu hết đều quy định mức đóng tối thiểu và phần đóng góp này

phải đủ chi trả các trợ cấp hưu trí ở mức thấp nhất.

Tại Trung Quốc: chế độ hưu trí của Trung Quốc có sự tương đồng với

Việt Nam, được chia thành bảo hiểm hưu trí bắt buộc và bảo hiểm hưu trí tự

15

nguyện. Người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu theo quy định và tham gia ít

nhất 15 năm sẽ được nhận trợ cấp hưu trí hàng tháng. Trợ cấp này gồm 02

phần chính: phần từ quỹ cộng đồng bằng 20% mức tiền lương trung bình năm

trước của người lao động; phần thứ hai là từ tài khoản cá nhân bằng 1/120 của

tổng số tích lũy được. Những người làm việc trước thời gian ban hành chính

sách nói trên sẽ được áp dụng chế độ hưu trí quá độ khi nghỉ hưu và Nhà nước

sẽ điều chỉnh mức độ trợ cấp hưu trí theo sự phát triển kinh tế. Những người

tham gia hưu trí cơ bản trước năm 2011, khi đã đến tuổi về hưu mà vẫn chưa

đóng đủ 15 năm BHXH nhưng nhiều hơn 10 năm, thì có thể trả nốt trong một

lần để đạt đủ tiêu chí hưởng lương hưu theo cơ chế hiện tại, hoặc chuyển số

tiền đó cho các dự án ở nông thôn hoặc cho những người không có lương hưu

ở thành phố [4].

Tại Nhật Bản, người tham gia bảo hiểm có thể nhận lương sớm từ 60 –

64 tuổi, nhưng mức lương hưu sẽ giảm đi bằng 0,5% nhân với số tháng nhận

lương hưu sớm, ngược lại nếu nhận lương hưu muộn từ 66 – 70 tuổi, mức

lương hưu sẽ tăng lên là 0,7% nhân với số tháng muộn. Người lao động tham

gia chế độ bảo hiểm cho người lao động sẽ nhận được trợ cấp lương hưu cơ

bản và lương hưu tính trên cơ sở tiền lương đóng bảo hiểm [17, tr.4]

Tại Mỹ, những người lao động đã về hưu sẽ được hưởng tiền trợ cấp

tuổi già từ quỹ Social Security. Đối với những người đã từng đi làm, mức tiền

trợ cấp tuổi già được tính từ số năm đi làm và mức lương trong những năm

đó, tương tự như đối với bảo hiểm hưu trí ở Việt Nam. Khi lĩnh lương, họ sẽ

trích lại 6,2% lương và người trả lương góp thêm 6,2% lương nữa để nộp vào

quỹ Social Security. Ngoài ra, họ còn có tài khoản hưu trí, mỗi người sẽ tự

quyết định trích bao nhiêu phần trăm lương của mình để gửi vào tài khoản

hưu trí. Tài khoản này được giao cho công ty quản lý quỹ hoặc công ty bảo

hiểm nhân thọ quản lý. Số tiền trích vào quỹ hưu trí sẽ không chịu thuế thu

nhập cho tới khi được rút ra dùng [25]

16

Tại Đan Mạch, chế độ hưu trí được phân làm hai loại: loại đầu tiên đảm

bảo lương hưu phổ thông cho tất cả những người trên 65 tuổi. Tính đến năm

2015, số tiền tối đa một người nhận được rơi vào khoảng 10.081USD. Để

nhận được loại lương hưu trên, một cá nhân phải đăng ký sống ở Đan Mạch

trong 40 năm trong khoảng độ tuổi từ 15 đến 65. Nếu cư trú ít hơn, cá nhân đó

vẫn được nhận lương hưu nhưng sẽ bị giảm theo tỷ lệ. Loại thứ hai là lương

hưu đóng góp, đây là loại lương hưu bắt buộc các công ty phải đóng góp cho

nhân viên của mình trong độ tuổi từ 16 – 65 và với thời gian là việc hơn

9h/tuần. Người sử dụng lao động sẽ phải thanh toán 2/3 só tiền đóng góp cố

định. Số tiền này sẽ giảm xuống tương ứng với người làm việc bán thời gian.

Ngoài ra còn có lương hưu dựa trên thỏa ước giữa nhà tuyển dụng và người

lao động. Thông thường người lao động đóng góp khoảng 9-17% lương của

họ [25]

Tại Canada, tình trạng hưu trí của mỗi người là khác nhau, quy tắc

chung là mọi người cần ít nhất là 70% thu nhập trước khi nghỉ hưu để có thể

sống một cách thoải mái trong thời kỳ nghỉ hưu. Hệ thông hưu trí của Canada

gồm 03 tầng, điều này tạo nên sự linh hoạt và đa dạng cho nhiều đối tượng

khác nhau có thể áp dụng. Tầng thứ nhất là tầng an sinh tuổi già (OAS) đảm

bảo sự hỗ trợ cơ bản cho những người từ 65 tuổi đáp ứng được một số đòi hỏi

cơ bản về thời gian cư trú. Quỹ này được tài rợ bằng nguồn thu thuế của

Chính phủ liên bang. Tầng thứ 2 là chế độ trợ cấp hưu trí ở Canada (CPP)

đảm bảo sự hỗ trợ bổ sung trên cơ sở thu nhập và đóng góp cho người từ 60

tuổi trở lên. Đây là chế độ bảo hiểm xã hội đóng góp dựa trên thu nhập. Tầng

thứ 3 là trợ cấp hưu trí tư nhân và tiết kiệm cá nhân, một số chương trình

được hỗ trợ về thuế, như trợ cấp hưu trí nghề nghiệp. Mức hưởng thông

thường cho một người 65 tuổi ở Canada là một trợ cấp hàng tháng bằng 25%

lợi tức trung bình. Nếu trợ cấp được nhận trước tuổi 65, số tiền nhận được bị

giảm 0,5% cho mỗi tháng tính gộp giữa lúc bắt đầu trợ cấp và tháng sau ngày

sinh nhật thứ 65 của người được hưởng. Những người lùi việc chuyển trợ cấp

17

của mình giữa 65 và 70 tuổi sẽ thấy trợ cấp của mình được điều chỉnh tăng lên

0,5% cho mỗi tháng tính gộp giữa tháng sau ngày sinh nhật thứ 65 và tháng

bắt đầu trợ cấp. Như vậy có thể thấy, mức tối đa được nhận là 30% [23,tr.17]

Tại Pháp, có năm loại lương hưu được áp dụng. Thứ nhất là trợ cấp tối

thiểu: trợ cấp này áp dụng cho những người già không có đủ tiền sinh sống

(những người này không bắt buộc đã tham gia quỹ hưu trí trước đây). Thứ

hai là lương hưu Nhà nước: thu 6,65% lương từ người lĩnh lương và 8,3% từ

người trả lương để trả cho người về hưu. Mức lương hưu nhận được không

quá 50% lương cao nhất trước khi nghỉ hưu. Thứ ba là lương hưu bổ sung:

người lĩnh lương và người trả lương đóng thêm để khi về hưu nhận được thêm

một khoản công với khoản lương hưu nhà nước ở trên để có được thu nhập 70-

80% thu nhập trước khi nghỉ hưu. Thứ tư là lương hưu tự nguyện tập thể: loại

lương này có quy định về người lĩnh lương và người trả lương góp tiền vào quỹ

đầu tư để sinh lợi đến khi về hưu lấy ra dùng, tiền để trong quỹ không phải trả

thuế thu nhập. Và thứ năm là lương hưu tự nguyện cá nhân: cá nhân gửi tiền

vào quỹ đầu tư, tiền để trong quỹ không phải trả thuế thu nhập [19]

Những gợi mở cho Việt Nam

Thông qua những số liệu và phân tích về chế độ hưu trí của các nước

trên thế giới nói chung, có thể thấy nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Tuy

nhiên, các mô hình áp dụng cho chế độ hưu trí cũng đa dạng, phong phú tạo

nên nhiều lợi ích hơn cho người tham gia lao động khi đã về hưu. Từ đó có

thể đưa ra những nhận xét nhằm gợi mở cho việc hoàn thiện hơn chế độ hưu

trí ở Việt Nam.

Dựa trên các quy định về chế độ hưu trí ở các nước trên thế giới, có thể

thấy xu hướng đa dạng hóa về tổ chức thực hiện, về nội dung và phương thức

tiến hành trong chế độ hưu trí là rất phổ biến. Tham gia hoạt động trong hệ

thống hưu trí không chỉ có các tổ chức của nhà nước mà còn có các tổ chức

khác ngoài nhà nước. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để mọi

thành viên trong xã hội đều có thể tham gia vào chế độ hưu trí.

18

Các quốc gia trên thế giới đều có xu hướng xây dựng một hệ thống hưu

trí có tính ổn định và bền vững hơn trong tương lai. Có thể thấy, về hệ thống,

các chương trình hưu trí tự nguyện đang được xây dựng và chú ý phát triển

hơn. Về tính chất, các chương trình hưu trí có xu hướng chuyển đổi từ

phương thức mức hưởng xác định trước sang mức đóng xác định. Việc xây

dựng một hệ thống hưu trí đa tầng như tại Canada, Pháp, Nhật cũng tạo nên

một nền móng vững chắc, tránh tình trạng tập trung vào một hệ thống quỹ đầu

tư duy nhất.

Xu hướng hệ thống hưu trí có sự tham gia của nhiều đơn vị trung tâm

như đơn vị giám sát, đơn vị quản lý tài sản, tổ chức đầu tư (ngân hàng, công ty

bảo hiểm, công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng,…) đơn vị quản trị cũng ngày

càng trở nên phổ biến hơn. Việc nghiên cứu về việc sắp xếp và tổ chức bộ máy,

vị trí làm việc, cơ chế tiền lương, tiền thưởng đối với công chức, người làm

việc trong hệ thống bảo hiểm xã hội cảu các nước sẽ là cơ sở thực tiễn để đề

xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về bảo hiểm xã hội cũng như hoàn thiện

chức năng, nhiệm vụ hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.

Các quốc gia đều đưa ra các nhiều loại quỹ hưu trí nhằm giảm tải sự

mất cân bằng của quỹ hưu trí bắt buộc, điều đang gây cản trở và được dự

đoán là sẽ mất cân bằng trong tương lai tại Việt Nam. Việc hình thành quỹ

hưu trí tự nguyện và bổ sung được đặt ra ở hầu hết các quốc gia. Việt Nam có

thể học hỏi việc mở rộng và tăng cường chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện

cho người lao động. Với lý do nguồn lao động chủ yếu hiện nay đang có công

việc chưa thực sự ổn định, làm việc theo thời vụ và họ lại chiếm một số lượng

rất lớn trong tổng số người tham gia lao động trên cả nước. Nhóm đối tượng

này không tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, vì vậy, để đảm bảo quyền

lợi cho họ, vấn đề về chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện đặt ra là rất cần thiết.

19

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM

2.1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển chế độ hưu trí ở Việt Nam

Chế độ hưu trí nhằm mục đích đảm bảo ổn định về mặt kinh tế đối với

những người tham gia lao động đã kết thúc quá trình lao động với những điều

kiện được quy định cụ thể. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam

dân chủ cộng hòa, các chính sách về bảo hiểm xã hội đã được ban hành . Các

quy định về nội dung của chế độ hưu trí cũng dần được hình thành và hoàn

thiện theo thời gian kể từ giai đoạn năm 1945 đến nay.

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1961, các văn bản pháp luật có những

quy định về bảo hiểm xã hội được ban hành như: Sắc lệnh số 29- SL ngày 12

tháng 03 năm 1947 về các chế độ đối với công nhân làm việc tại các xưởng kĩ

nghệ, hầm mỏ, thương điếm và tư nhân. Trong sắc lệnh này có các điều kiện

quy định về chế độ thai sản, chế độ trợ cấp ốm đau. Sắc lệnh số 76-SL ngày

20 tháng 05 năm 1950 về quy chế công chức, Sắc lệnh số 77-SL ngày 22

tháng 05 năm 1950 về quy chế công nhân, hai sắc lệnh này ngoài những quy

định về quan hệ lao động của công chức và công nhân còn có những quy định

về bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật ở thời kì này mới quy

định những nét có tính nguyên tắc về bảo hiểm xã hội. Các chế độ BHXH như

chế độ bệnh nghề nghiệp, hưu trí, trợ cấp mất sức lao động chưa có quy định

toàn diện.

Giai đoạn từ 1961 đến 1994: Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối

với công nhân viên chức Nhà nước ban hành kèm theo nghị định 218/CP ngày

27 tháng 12 năm 1961 đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn của pháp luật

bảo hiểm xã hội Việt Nam nói chung và chế độ hưu trí nói riêng. Từ việc còn

sơ sài và chưa toàn diện về nội dung quy định, bản Điều lệ đã có những quy

định cụ thể, đặc biệt là về quỹ bảo hiểm xã hội được chính thức thành lập

thuộc Ngân sách Nhà nước.

20

Trong đó, chế độ bảo hiểm hưu trí được quy định bằng các văn bản

dưới luật và áp dụng cho cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước, lực lượng

vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước đối với các nhà máy, xí nghiệp,

công nông, lầm trường được hoạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông.

Các chính sách về bảo hiểm xã hội, đặc biệt là chế độ bảo hiểm hưu trí cũng

dần được hoàn thiện về nội dung bao gồm: phạm vị điều chỉnh, đối tượng áp

dụng, nội dung quy định cũng như hình thức văn bản quy phạm.

Giai đoạn từ 1995 đến nay: Năm 1995, bảo hiểm xã hội đã được điều

chỉnh bằng Bộ luật lao động, bao gồm các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao

động, nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Và đặc biệt, vào năm 2006, chương Bảo

hiểm xã hội trong Bộ Luật lao động được tách thành Luật Bảo hiểm xã hội,

trong đó quy định thêm chế độ bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm hưu trí tự

nguyện. Chế độ hưu trí cũng đã có sự thay đổi và dần hoàn thiện hơn sau

những lần sửa đổi, bổ sung. Về loại hình bảo hiểm xã hội cũng đã quy định

bởi hai hình thức rõ ràng hơn là hình thức bắt buộc và hình thức tự nguyện.

Thời điểm này, các nội dung về chế độ hưu trí được quy định cụ thể và rõ

ràng hơn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với các chính sách

xã hội của quốc gia. Cụ thể, việc tách vấn đề bảo hiểm xã hội thành Luật bảo

hiểm xã hội 2006 và hiện nay là 2014 đã tạo nên bước tiến quan trọng.

Tại Điều 34, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có khẳng định: “ Công dân

có quyền được đảm bảo an sinh xã hội”, đồng thời trong báo cáo trọng điểm

của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng chúng ta cần nỗ lực nhiều hơn

để thực hiện hóa quyền an sinh xã hội cho tất cả mọi người. Và chế độ hưu trí

là một phần quan trọng cần được quan tâm. Trên thế giới hiện nay có khoảng

68% người trong độ tuổi hưu trí nhận được trợ cấp hưu trí, lương hưu; điều

này có liên quan chặt chẽ đến việc mở rộng các hệ thống hưu trí có đóng góp

và không có đóng góp tại nhiều nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình.

Tính trung bình trên toàn cầu, chi tiêu cho trợ cấp hưu trí và các loại hình

phúc lợi khác cho người cao tuổi chiếm khoảng 6,9% GDP, trong đó có sự

21

chênh lệch khá lớn giữa các khu vực. Tuy nhiên, mức trợ cấp hiện nay còn

thấp, chưa đủ để giúp người cao tuổi thoát nghèo. Có thể thấy, vấn đề về hưu

trí đang được quy định và áp dụng trên phạm vi toàn thế giới nói chung và tại

Việt Nam cũng không ngoại lệ. Càng ngày, chế độ hưu trí càng được thay đổi

để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng các loại hình

bảo hiểm xã hội nhằm tạo điều kiện cho người lao động ngoài quá trình tham

gia lao động.

Cũng như các chế độ khác của hệ thống bảo hiểm xã hội, chế độ hưu trí

cũng cần nghiên cứu làm rõ 03 nội dung chính: đối tượng được hưởng chế độ

hưu trí, các điều kiện được hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng trợ cấp hưu

trí. Ngoài ra, việc xây dựng một mô hình chế độ hưu trí xuyên suốt và chặt

chẽ giữa các Bộ, ban, ngành cũng được quan tâm đặc biệt trong thời điểm

hiện tại.

2.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về chế độ hưu trí

Để được hưởng một chế độ bảo hiểm xã hội, người hưởng bảo hiểm

phải đảm bảo một số điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Tùy

vào từng chế độ bảo hiểm cụ thể mà điều kiện hưởng khác nhau nhưng nhìn

chung đều căn cứ vào mức đóng góp của người tham gia bảo hiểm. Trong

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, các nhà làm luật đã có sự quy định cụ thể về

hai loại hình bảo hiểm xã hội phổ biến trong chế độ hưu trí, đó là bảo hiểm

hưu trí bắt buộc và bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Điều này có tác dụng giúp

người tham gia lao động được hưởng ưu đãi nhất định từ các loại hình trên và

theo đó, mỗi loại hình đều có các điều kiện cụ thể như sau:

2.2.1. Chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc

Về đối tượng hưởng

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội, người lao

động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt

buộc, bao gồm:

Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp

22

đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo

một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể

cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người

đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật

về lao động

Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến

dưới 03 tháng;

Cán bộ, công chức, viên chức;

Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác

trong tổ chức cơ yếu;

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ

quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân,

người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân, hạ sĩ quan, chiến sĩ công an

nhân dân phục vụ có thời hạn, học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo

học được hưởng sinh hoạt phí;

Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người

lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có

hưởng tiền lương; người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.

Về điều kiện hưởng

Điều kiện hưởng lương hưu được quy định tại Điều 54 Luật bảo hiểm

xã hội quy định

Trong điều kiện bình thường:

Người lao động là người làm việc theo hợp đồng lao động không xác

định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên, cán bộ,

công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm

việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi đủ một

23

trong các độ tuổi thuộc các trường hợp sau:

Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có

đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc

biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ lao động – Thương

binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ

cấp khu vực thuộc hệ số 0,7 trở lên.

Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo

hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than

trong hầm lò;

Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.

Trong điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng đối với Quân đội,

Công an, Cơ yếu:

Người lao động là sĩ quan, quan nhân chuyên nghiệp quân đội nhân

dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật

công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quan

đội nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ

công an nhân dân phục vụ có thời hạn có đủ 20 năm đóng bảo hiểm trở lên

được hưởng lương hưu khi thuộc một trong những trường hợp sau đây:

Nam từ đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội

nhân dân, Luật cơ yếu có quy định khác

Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có

đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc

biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động –

Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi

có phụ cấp khu vực số 0,7 trở lên.

Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.

Trong điều kiện đối với lao động nữ hoạt động chuyên trách hoặc

không chuyên trách tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn:

24

Trường hợp lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không

chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà

có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi thì

được hưởng lương hưu.

Trong điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng khi suy giảm khả

năng lao động

Đối với những trường hợp suy giảm khả năng lao động, Luật bảo hiểm

xã hội cũng quy định cụ thể tại điều 55:

Người lao động là người làm việc theo hợp đồng lao động không xác

định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên, cán bộ,

công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm

việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu theo quy

định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 54 của Luật bảo hiểm xã hội nếu thuộc

một trong các trường hợp sau:

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy

giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi

suy giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến

năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng

lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên

Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ

81% trở lên

Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên

làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh

mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành

Người lao động là sĩ quan, quan nhân chuyên nghiệp quân đội nhân

dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật

công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quan

đội nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ

25

công an nhân dân phục vụ có thời hạn có đủ 20 năm đóng bảo hiểm trở lên

được hưởng lương hưu khi thuộc một trong những trường hợp sau đây:

Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội

nhân dân Việt Nam, Luật công an nhân dân, Luật cơ yếu có quy định khác

Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có

đủ 15 năm làm nghề hoăc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc

biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động –

Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi

có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.

Trường hợp lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không

chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà

có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi thì

được hưởng lương hưu.

Về mức hưởng

Mức lương hưu hàng tháng được quy định với 2 mốc thời gian, trước ngày

01 tháng 01 năm 2018 và từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Theo đó, trước thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu

hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật

này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã

hội tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm thì

tính thêm 2% đối vứi nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

Bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của

người lao động đủ điều kiện được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương

tháng đóng BHXH tương ứng với số năm đóng BHXH như sau:

Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm,

năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm.

Lao động nữ nghỉ ưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.

Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2%; mức tối

đa bằng 75%.

26

Ngoài ra, cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.

Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm

là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi.

Mức lương hưu hàng tháng của lao động nữ đủ là người hoạt động

chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo

hiểm xã hội khi nghỉ việc có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đống bảo hiểm xã

hội và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu được tính theo số năm đóng bảo

hiểm xã hội và mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội như

sau: đủ 15 năm đóng BHXH tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng

đóng BHXH quy định tại điều 62 Luật bảo hiểm xã hội. Từ đủ 16 năm đến

dưới 20 năm đóng BHXD, cứ mỗi năm đóng tính thêm 2%.

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 115/2015/NĐ-CP, mức lương hưu

hàng tháng của người lao động được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng

tháng nhân với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu,

trợ cấp một lần:

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà

nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền

lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã

hội trước khi nghỉ hưu như sau:

Thời điểm tham gia bảo hiểm Tính bình quân tiền lương

tháng đóng bảo hiểm xã hội xã hội

Trước 01/01/1995 05 năm

01/01/1995 đến 31/12/2000 06 năm

01/01/2001 đến 31/12/2006 08 năm

01/01/2007 đến 31/12/2015 10 năm

01/01/2016 đến 31/12/2019 15 năm

01/01/2020 đến 31/12/2024 20 năm

01/01/2015 trở đi Toàn bộ thời gian.

27

Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ

tiền lương do người người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền

lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.

Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng

thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo

hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định thì tính

bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian, trong

đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình

quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định như trên.

Từ những quy định trên, có thể rút ra quy tắc như sau:

Cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối

với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước

quy định thì mức BQTL = Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội

của T năm cuối trước khi nghỉ việc/ (T×12 tháng)

Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do

người sử dụng lao động quyết định thì:

Mức BQTL =

Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH Tổng số tháng đóng BHXH

Đối với người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo tiền

lương do người sử dụng lao động quyết định vừa có thời gian đóng bảo hiểm

xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định:

Mức BQTL = Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền

lương do Nhà nước quy định + Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo

chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định/Tổng số tháng đóng

BHXH.

Trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu

Đối với người lao động có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm

tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hư 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu

còn được hưởng trợ cấp một lần.

28

Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội cao

hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng bảo

hiểm xã hội thì được tính bằng 0.5 tháng mức bình quân tiền lương tháng

đóng bảo hiểm xã hội.

Bảo hiểm xã hội một lần

Pháp luật có quy định đối với người lao động khi nghỉ việc không đủ

điều kiện về tuổi đời hoặc thời gian đóng bảo hiểm hoặc cả hai để hưởng chế

độ hưu trí hàng tháng thì tùy vào trường hợp mà họ được hưởng trợ cấp một

lần, hoặc chờ cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu cho đến khi đủ tuổi để hưởng chế

độ hưu trí hàng tháng hoặc bảo lưu thời gian đóng BHXH để đến khi có điều

kiện thì tiếp tục đóng bảo hiểm. Điều này không chỉ phụ thuộc vào tuổi đời,

thời gian đóng BHXH của người lao động mà còn căn cứ vào nguyện vọng

của chính bản thân họ.

Theo quy định tại Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội, người lao động quy

định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm

xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các khoản 1,2 và 4 Điều 54

của Luật này mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc theo quy định tại khoản 3

Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 15 năm đóng BHXH và không tiếp tục

tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Ra nước ngoài để định cư.

Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng

như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã

chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.

Trường hợp người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1

Điều 2 của Luật này khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện

để hưởng lương hưu.

Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ

mỗi năm được tính như sau:

29

1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm

đóng trước năm 2014.

02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm

đóng từ năm 2014 trở đi.

Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng

BHXH bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền

lương tháng đóng BHXH.

Mức hưởng BHXH một lần thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều

này không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, trừ

trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

2.2.2. Chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện

Về đối tượng hưởng

Tại khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định: Người

tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân việt Nam từ đủ 15 tuổi trở

lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 điều này.

Nếu như đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hầu hết là

người lao động tham gia lao động với hợp đồng không xác định thời hạn, hợp

đồng với thời hạn từ 3 tháng trở lên, các sĩ quan, quân nhân,…thì đối tượng

tham gia bảo hiểm tự nguyện đều tự mình tham gia, không có sự ép buộc từ

phía pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế của bản thân họ.

Về điều kiện hưởng

Theo quy định tại điều 73 Luật bảo hiểm xã hội 2014, người lao động

được hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau:

Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi

Đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên

Người lao động đã đủ điều kiện theo quy định trên nhưng thời gian

đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 20 năm thì được đóng cho đến khi đủ 20 năm

để hưởng lương hưu.

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được chọn một trong các

phương thức đóng:

30

Đóng hàng tháng;

Đóng 3 tháng một lần;

Đóng 6 tháng một lần;

Đóng 12 tháng một lần;

Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm 1 lần;

Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH

đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian

đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng đủ 20

năm để hưởng lương hưu.

Về mức hưởng lương hưu

Trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của

người lao động đủ điều kiện được quy định tại Điều 73 Luật bảo hiểm xã hội

2014 được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH quy

định tại Điều 79 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng BHXH; sau đó cứ

thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa

bằng 75%

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người

lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 73 của Luật này được tính bằng 45%

mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội như sau:

Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm,

năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm

Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm

Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2%, mức tối

đa bằng 75%.

Về cơ bản có thể thấy, mức hưởng lương hưu của loại hình bảo hiểm xã

hội bắt buộc và loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện là có điểm tương đồng

với nhau.

Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính

lương hưu, trợ cấp một lần

31

Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng

bình quân các mức thu nhập tháng đã đóng BHXH của toàn bộ thời gian

đóng. Thu nhập tháng đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân thu

nhập tháng đóng BHXH được điều chỉnh như sau:

Thu nhập tháng đã đóng BHXH sau điều chỉnh của từng năm bằng thu

nhập tháng đã đóng BHXH của từng năm nhân với mức điều chỉnh thu nhập

tháng đã đóng BHXH của năm tương ứng.

Mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH được tính trên cơ sở chỉ

số giá tiêu dùng bình quân năm.

Trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu

Về điều kiện để được hưởng trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu, có thể

thấy tại Điều 58 và Điều 75 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định là hoàn toàn

giống nhau.

Bảo hiểm xã hội một lần

Theo quy định tại Điều 77 Luật bảo hiểm xã hội 2014 và điều 7 Nghị

định 134/2015/NĐ-CP: Người lao động quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật

này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một

trong các trường hợp sau:

Đủ điều kiện về tuổi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 73 của Luật

này nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục tham gia BHXH;

Ra nước ngoài để định cư

Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng

như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã

chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.

Về mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần, quy định tương tự như đối với

bảo hiểm xã hội một lần trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc.

2.3. Thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí ở Việt Nam

2.3.1. Những kết quả đạt được

Về số liệu cụ thể, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 13,16

32

triệu người, bảo hiểm thất nghiệp là 11,24 triệu người; bảo hiểm xã hội tự

nguyện là 240000 người, bảo hiểm y tế là 76,39 triệu người vào thời điểm quý

02 năm 2017. Và cho tới cuối năm 2017, con số này đã có sự tăng lên, cả

nước có 13,52 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự

nguyện là 291000 người. Từ năm đầu tiên thực hiện Luật BHXH là năm

2007, số người tham gia BHXH bắt buộc là hơn 7 triệu người, đến năm 2012

là 10,4 triệu người và hiện tại là 13,52 triệu người, từ những con số trên có

thể thấy, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội đã tăng lên đáng kể, và

tăng hơn 1 triệu người so với năm 2016. Những số liệu về số người đóng bảo

hiểm xã hội ở các tỉnh thành cụ thể trên cả nước cũng có dấu hiệu tăng lên

theo từng năm [24].

Trong năm 2017, toàn ngành BHXH đã thu 289,349 tỷ đồng, trong đó,

thu BHXH là 194,943 tỷ đồng, số tiền nợ BHXH là 5737 tỷ đồng, chiếm

3,0% số kế hoạch thu BHXH do Thủ tướng Chính phủ giao, giảm 0,8% so với

năm 2016 [25].

Có sự phân cấp rõ ràng trong hệ thống Bảo hiểm xã hội. Điều này được

thể hiện rõ ràng qua việc thực hiện chế độ hưu trí trên địa bàn các tỉnh thành ở

Việt Nam. Sự phân cấp chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội từ bảo hiểm xã hội

tỉnh, huyện đến đại diện chi trả, đơn vị sử dụng lao động đã tạo điều kiện

thuận lợi cho công tác quản lý và phục vụ tốt đối tượng tham gia BHXH.

Trong những năm qua, bảo hiểm xã hội ở các tỉnh thành luôn là vấn đề nhận

được sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Sở, Ban, Ngành, đoàn thể, các cơ

quan thông tin, truyền thông, các đơn vị sử dụng lao động, các cơ sở y tế trên

địa bàn trong vấn đề triển khai nhiệm vụ.

Hiện nay, việc lĩnh chế độ BHXH hàng tháng bằng tiền mặt chuyển

sang lĩnh bằng thẻ ATM và ngược lại đang ngày càng phát triển rộng rãi hơn,

điều này cũng tạo điều kiện để người được hưởng lương hưu lựa chọn phương

pháp nhận lương phù hợp và nhanh chóng. Căn cứ theo quy định của Luật

Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014; quyết định số

33

828/QĐ-BHXH ngày 27/05/2016 của BHXH Việt Nam Ban hành Quy định

quản lý chi trả các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp; Quyết định số

636/QĐ-BHXH ngày 22/04/2016 của BHXH Việt Nam về việc ban hành Quy

định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, người

hưởng chế độ BHXH hàng tháng thực hiện việc nộp hồ sơ tại cơ quan BHXH

quận, huyện và tự do lựa chọn Ngân hàng của Việt Nam thuận lợi nhất trong

địa bàn cơ quan BHXH quản lý và mở tài khoản là có thể áp dụng phương

pháp này.

Công nghệ thông tin được đưa vào ứng dụng vào các hoạt động nghiệp

vụ của ngành. Đặc thù của BHXH là cần lưu trữ khối lượng thông tin lớn,

phức tạp và lâu dài, phạm vi quản lý rộng, bao quát nhiều ngành nghề, do đó

việc ứng dụng công nghệ thông tin được coi là yêu cầu bức thiết. BHXH cũng

đã in, đổi thẻ BHYT co người tham gia BHYT đã đồng bộ theo mã số BHXH.

Ngoài ra, các tỉnh thành cũng đang triển khai và hoàn thiện ứng dụng phần

mềm có lắp đặt camera giám sát trong công tác tiếp nhận và trả kết quả thủ

tục hành chính theo cơ chế một cửa. Đến nay, việc tiếp nhận và trả kết quả hồ

sơ bằng phần mềm đã dần đi vào ổn định, đáp ứng được việc luân chuyển hồ

sơ liên thông giữa các phòng nghiệp vụ và giữa bảo hiểm xã hội thành phố

với bảo hiểm xã hội huyện. Việc ứng dụng hiệu quả phần mềm này là một

bước tiến trong công tác cải cách thủ tục hành chính, xác định rõ trách nhiệm

của công chức viên chức thụ lý và xử lý hồ sơ, hạn chế được tình trạng trả

chậm, muộn hồ sơ, tiết kiệm thời gian, tạo thuận lợi nhất cho các đối tượng

tham gia và thụ hưởng bảo hiểm xã hội.

Cuối cùng, Nghị quyết 49/2017/QH14 được thông qua vào ngày

13/11/2017 quy định về việc điều chỉnh tăng lương cơ sở từ 1.300.000

đồng/tháng lên 1.390.000 đồng/tháng; điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH,

trợ cấp hàng tháng theo quy định (đối tượng do ngân sách nhà nước đảm bảo)

và trợ cấp ưu đãi người có công tăng bằng mức tương lương cơ sở. Nghị

quyết trên sẽ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2018. Trong thời điểm

34

hiện tại, tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam đang tăng nhanh, dẫn đến tình

trạng mất cân đối trong các chính sách và quỹ bảo hiểm xã hội, việc tăng

lương cơ sở cũng sẽ tạo thêm nguồn thu nhập đồng thời cho người lao động

và làm tăng nguồn lương hưu cho người đã về hưu.

Nguyên nhân của những kết quả đạt được

Thứ nhất, trong những thành tựu đạt được, việc đưa chương BHXH

trong Bộ luật Lao động tách thành Luật BHXH vào năm 2006 có một vai trò

rất lớn. Việc tách riêng Luật BHXH đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước

đối với những vấn đề an sinh xã hội, trong đó quy định thêm chế độ bảo hiểm

tự nguyện và bảo hiểm hưu trí tự nguyện, nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội

không chỉ có người sử dụng lao động, ngân sách Nhà nước mà còn gồm cả

người lao động. Luật BHXH năm 2006 đã khắc phục được những vướng mắc,

bất cập cơ bản của các văn bản trước đó về vấn đề bảo hiểm xã hội nói chung,

trong đó có bảo hiểm hưu trí.

Thứ hai, các chính sách về tiền lương được Chính phủ đặc biệt quan

tâm, cải thiện, mức lương cơ sở tăng lên đồng thời với việc tăng mức hưởng

lương hưu ngoài quá trình lao động và làm tăng thu cho quỹ bảo hiểm hưu trí.

Các văn bản dưới luật được quy định khá đầy đủ, kịp thời tạo điều kiện tối ưu

cho việc thực hiện chế độ hưu trí. Cụ thể tại mục 4 quy định về chế độ hưu trí,

hầu hết các điều khoản như Điều 54 về điều kiện hưởng lương hưu, Điều 55

về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động, Điều 56 về

mức lương hưu hằng tháng, Điều 57 về điều chỉnh lương hưu, Điều 59 về thời

điểm hưởng lương hưu,…và các điều khoản khác đều có các hướng dẫn cụ

thể bởi Thông tư, Nghị định. Có thể thấy, vấn đề quy định pháp luật về bảo

hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu trí nói riêng đang rất được quan tâm.

Điều này dẫn đến những thành tựu về chế độ hưu trí đã nêu ở trên.

Thứ ba, bên cạnh việc ban hành các văn bản pháp luật, thì vấn đề thực

thi cũng đã được thực hiện ngày một tốt hơn. Các văn bản hướng dẫn thi hành

thực hiện chế độ hưu trí đều được nghiên cứu chặt chẽ và triển khai cụ thể

35

trong từng khâu trong công tác thu, xét duyệt hồ sơ hưởng, quản lý đối tượng

hưởng và chi trả chế độ hưu trí. Nhờ có sự phối kết hợp giữa các Bộ, ban,

ngành liên quan cùng các đơn vị sử dụng lao động, khiến cho các bước, các

khâu thực hiện bảo hiểm xã hội chất lượng và có hiệu quả cao hơn.

Thứ tư, khi nhìn vào các số liệu được nêu, có thể thấy vấn đề chế độ

hưu trí đang được quan tâm và thực hiện ngày một tốt hơn trong những năm

gần đây. Và để có được những bước thành công đó, không thể không kể đến

một trong những nguyên nhân quan trọng và cốt lõi, đó chính là công tác

tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tại các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động.

Điều này giúp làm tăng sự hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng

lao động và của người lao động. Khi biết được các quyền của mình, người lao

động mới dễ dàng sử dụng quyền một cách đầy đủ và tối ưu nhất, hạn chế

được tình trạng vì thiếu hiểu biết mà làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng

được hưởng của bản thân. Công tác tuyên truyền có thể kể đến thông qua các

phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng rộng rãi, đặc biệt là trên báo,

đài, thông tin điện tử,…

2.3.2. Những hạn chế trong việc thực hiện chế độ hưu trí

Về quy định pháp luật

Thứ nhất, tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay đang tăng nhanh,

từ nwam 2011 dân số Việt Nam đã bắt đầu già khi tỷ lệ người trên 65 tuổi

chiếm 7% tổng dân số. Theo dự báo của Liên Hợp quốc (LHQ), đến năm

2030, tỷ lệ dân số trên 65 tuổi của Việt Nam sẽ vào khoảng 12,9% và năm

2050 là 23%. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến quỹ BHXH, do tỷ số giữa số

người đóng BHXH trên số người hưởng lương hưu ngày càng giảm đi, dẫn

đến nguồn thu của quỹ BHXH có xu hướng giảm và nguồn chi có xu hướng

tăng. Khi đó, khả năng chi trả và an toàn của quỹ sẽ mất cân đối, nếu không

có sự điều chỉnh kịp thời về chính sách hoặc sự hỗ trợ của Nhà nước [27]

Thứ hai, cùng với vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam, có thể thấy quy

định về tuổi đời hưởng lương hưu còn khá nhiều bất cập. Hiện nay, có khoảng

36

60% người nghỉ hưu trước tuổi quy định, trong đó phần lớn nghỉ hưu do suy

giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. Điều này cho thấy, tuổi nghỉ hưu

được quy định trong pháp luật hiện hành và tuổi nghỉ hưu thực tế còn chênh

lệch khá nhiều. Tuổi nghỉ hưu thực tế là 54,17 tuổi, trong đó nam là 55,61

tuổi và nữ là 52,56 tuổi. Tuổi thọ của Việt Nam tăng, nhưng tuổi nghỉ hưu lại

giảm dẫn đến việc mất cân đối của quỹ hưu trí. Theo dự báo của Tổ chức lao

động quốc tế (ILO), với nền chính sách hiện hành, quỹ hưu trí đến năm 2021

thu trong năm đủ chi trong năm, để đảm bảo khả năng chi trả của quỹ phải lấy

nguồn kết dư của quỹ. Đến năm 2034, quỹ hưu trí hoàn toàn cạn kiệt và mất

khả năng chi trả. Đây là một dấu hiệu báo động cho chế độ hưu trí tại Việt

Nam hiện nay [28].

Liên quan đến vấn đề tuổi nghỉ hưu, có rất nhiều tranh cãi xung quanh

vấn đề tuổi nghỉ hưu của nữ giới thấp hơn nam giới 05 năm. Trên thực tế,

cùng với sự hội nhập quốc tế và sự đề cao bình đẳng giới, quãng thời gian này

đã tạo nên sự thiếu công bằng và chưa hợp lý dành cho những lao động nữ

muốn tiếp tục cống hiến sức lao động của mình.

Thứ ba, quy định về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả

nặng lao động cũng đang thể hiện sự bất cập. Những người bị suy giảm khả

năng lao động từ 61% trở lên sẽ có điều kiện hưởng lương riêng biệt so với

những nhóm đối tượng khác. Về cơ bản, quy định này tạo ra những ưu đãi

nhất định cho những người bị suy giảm khả năng lao động, tuy nhiên thực tế

khiến cho nhiều người lao động nghỉ hưu sớm hoặc có những trường hợp

người lao động sau khi đã nghỉ hưu lại tiếp tục tham gia lao động do vẫn còn

sức lao động, ngoài lương hưu họ còn được hưởng lương do việc tham gia

lao động của mình. Điều này cũng phần nào nhằm lộ rõ khuyết điểm của quy

định pháp luật, tạo nên khe hở để người lao động lợi dụng quy định để

hưởng lương hưu.

Thứ tư, chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta thực hiện theo nguyên

tắc đóng – hưởng. Việc quy định mức hưởng lương hưu tối đa là 75% sẽ gây

37

nên sự mất cân đối. Bởi một người lao động đóng bảo hiểm xã hội trong suốt

20 năm thì số tiền đóng góp của người đó cũng chỉ đủ chi lương hưu cho

người đó trong khoảng 6-8 năm sau khi nghỉ hưu. Trong khi hiện nay, như đã

nói ở trên, tình trạng nghỉ hưu trước tuổi quy định tăng đồng thời với tuổi thọ

trung bình tăng tạo nên sức ép đối với quỹ hưu trí vì tỷ lệ hưởng lương hưu

cao hơn nhiều so với mức đóng góp.

Thứ năm, việc xác định mức hưởng lương hưu hàng tháng có quy định

về mức lương hưu thấp nhất bằng mức lương cơ sở tạo nên sự lạm dụng của

chủ sử dụng lao động, chỉ đóng bảo hiểm xã hội ở mức tiền lương, tiền công

thấp. Điều này mang lại lợi ích trước mắt cho quá trình lao động, bởi tỷ lệ

đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội không cao, tuy nhiên lại gây bất lợi cho người

lao động sau khi nghỉ hưu, do mức tiền lương hưu dựa trên mức bình quân

tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Cuối cùng, theo quy định về mức lương hưu hàng tháng tại Điều 56

Luật bảo hiểm xã hội 2014 đã gây nhiều tranh cãi trong thời gian vừa qua.

Theo đó, mứ lương hưu hàng tháng tình từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 có sự

thay đổi về việc áp dụng lộ trình điều chỉnh cách tính lương hưu đối với lao

động nữ trong 05 năm như sau: 15 năm đầu đóng BHXH tính bằng 45%, sau

đó nếu lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2018, 8 năm tiếp theo mỗi năm tính thêm

3%, sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa là 75%. Nếu lao động nữ nghỉ

hưu năm 2019, 6 nưm tiếp theo, mỗi năm tính thêm 3%, sau đó cứ mỗi năm

cộng thêm 3%, sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa là 75%. Nếu lao động

nữ nghỉ hưu năm 2020, 4 năm tiếp theo, mỗi năm cộng 3%, sau đó cứ mỗi

năm tính thêm 2%, tối đa 75%. Nếu lao động nữa nghỉ hưu từ năm 2022 trở

đi, các năm tiếp theo mỗi năm tính thêm 2%, tối đa là 75%. Theo quy định

này, để đạt được tỷ lệ lương hưu ở mức tối đa là 75% thì lao động nữ nghỉ

hưu trong năm 2018 phải có 26 năm đóng BHXH; nghỉ hưu trong năm 2019

phải có 27 năm; năm 2020 là 28 năm; năm 2021 là 29 năm; từ năm 2022 trở

đi là 30 năm.

38

Nếu theo như quy định trên, để được hưởng 75% lương hưu thì lao

động nữ phải đóng 30 năm BHXH trong khi vào thời điểm trước ngày 01

tháng 01 năm 2018, lao động nữ chỉ cần đóng 25 năm. Mức hưởng lương hưu

mới này còn ảnh hưởng tới cả hai giới lao động do cần thêm 5 năm làm việc,

người lao động mới nhận được mức lương tối đa là 75% lương bình quân

trước khi nghỉ hưu. Điều này tạo nên tâm lý lo ngại cho người tham gia lao

động và dẫn đến tình trạng số người nghỉ hưu trước tuổi vào năm 2017 đã cao

hơn khoảng 10% so với năm 2016. Không bàn đến quy định pháp luật này đã

thực sự phù hợp hay chưa, tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại khi áp dụng

quy định này, lao động nữ sẽ bị thiệt thòi và mức nhiều nhất là lên đến 10%

lương hưu.

Trong công tác thực hiện

Thứ nhất, từ việc triển khai thực hiện đến thực tế vẫn còn một số bất

cập, nhất là đối với những người lao động ở vùng sâu vùng xa, hoạt động

trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Trên thực tế còn nhiều người lao

động chưa được tham gia bảo hiểm xã hội và được hưởng quyền lợi từ chế

độ hưu trí.

Thứ hai, mặc dù hiện nay, tỉ lệ tham gia bảo hiểm xã hội đã tăng

nhưng vẫn còn thấp, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng

chiếm một số lượng không nhiều so với tỉ lệ người tham gia lao động.

Thứ ba, việc quản lý đối tượng chưa chặt chẽ, chủ yếu là đối tượng

thuộc nguồn NSNN đảm bảo, công tác tạm trú tạm vắng của các xã, thị trấn

thực hiện chưa đồng bộ, hiện tượng cắt giảm đối tượng chết, hết hạn hưởng

chậm làm cho công tác chi trả thiếu chính xác, mất thời gian thu hồi khi phát

hiển chi trả sai hoặc làm thất thoát quỹ.

Thứ tư, công tác thực hiện khó khăn ở một số tỉnh thành trên phạm vi

cả nước do còn lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế chưa cao. Điều này dẫn đến

công tác quản lý các đối tượng hưởng lương hưu hàng tháng còn gặp khó

khăn do một số đối tượng sinh sống ở các địa bàn các xã vùng sâu vùng xa,

39

gây ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tăng giảm các đối tượng, lập và in danh

sách chi trả.

Thứ năm, tình trạng nợ đọng quỹ bảo hiểm xã hội vẫn còn tồn tại ở

nhiều thành phố. Đây cũng được coi là một khó khăn trong công tác thu, ảnh

hưởng đến tiên độ thu và thực hiện chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội trong

cả nước nói chung.

Nguyên nhân của hạn chế

Một là, như những bất cập nêu ở trên, có thể thấy quỹ bảo hiểm xã hội

chưa bảo đảm cân đối dài hạn. Nguyên nhân của tình trạng này là do các quy

định về quyền lợi hưởng và trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội của người lao

động chưa hợp lý. Pháp luật quy định về tuổi nghỉ hưu là nam 60 tuổi, nữ 55

tuổi, song do thực hiện một số chính sách xã hội như tinh giảm biên chế, giảm

tuổi nghỉ hưu cho một số đối tượng lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm,

nơi có nhiều khó khăn; sắp xếp tổ chức trong khu vực hành chính sự nghiệp,

sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước đã làm giảm nguồn thu và tăng chi trả từ

quỹ BHXH.

Hai là, một trong những nguyên nhân quan trọng không thể không

nhắc tới, đó chính là yếu tố nhận thức của người lao động. Nhiều người lao

động đã không quan tâm tới Luật pháp và những quy định của Nhà nước, mặc

dù những quy định đó có liên quan trực tiếp tới quyền lợi của họ. Điều này

gây khó khăn cho cơ quan BHXH khi giải thích, hướng dẫn thủ tục hồ sở để

hưởng lương hưu, BHXH 1 lần cho người lao động.

Ba là, việc sửa đổi và bổ sung, ban hành các văn bản pháp luật thường

xuyên cũng gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn.

Điều này gây cản trở đặc biệt đến người lao động khi họ không biết xác định

các văn bản đó còn hiệu lực hay không. Đồng thời, sự tràn lan các thông tin

trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài cũng phần nào gây tâm lý

hoang mang cho người sử dụng lao động và người lao động khi họ không biết

nên sử dụng nguồn tin nào.

40

Bốn là, số lượng người được hưởng chế độ hưu trí ngày càng đông,

cùng với sự thay đổi các quy định của pháp luật trong thời gian gần đây nên

khối lượng công việc nhiều trong khi số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn

không cao, đặc biệt là các vùng kinh tế còn kém phát triển. Vấn đề này sẽ gây

ra sự chậm trễ trong công tác xét duyệt và chi trả cho các đối tượng.

Năm là, tình trạng trốn đóng, nợ đọng của một số doanh nghiệp làm ăn

thua lỗ chưa có tiền đóng bảo hiểm xã hội, hoặc đã thu bảo hiểm xã hội của

người lao động nhưng đã sử dụng số tiền đó vào mục đích khác. Ngoài ra,

việc tăng mức đóng bảo hiểm cũng khiến nhiều đơn vị sử dụng lao động gặp

nhiều khó khăn, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất kinh

doanh nhỏ lẻ, có ít vốn đầu tư.

41

CHƯƠNG 3

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ

HƯU TRÍ TRONG LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014

3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam

Trong cuộc sống hàng ngày, với sự phát triển không ngừng về mọi mặt

đời sống như kinh tế, văn hóa, khoa học, xã hội, con người đồng thời cũng có

thể gặp những rủi ro khách quan hoặc chủ quan gây ra mất cân đối trong quá

trình sản xuất – xã hội. Những rủi ro đó sẽ gây ra cho con người nhiều khó

khăn trong cuộc sống và vì vậy, bảo hiểm xã hội là một phần nhằm hỗ trợ

trong việc giải quyết các hậu quả rủi ro. Sự cần thiết của bảo hiểm xã hội hiện

nay càng được đề cao, trong đó chế độ bảo hiểm hưu trí là một trong những

quy định được quan tâm và đạt lên hàng đầu, nhất là trong thời điểm Việt

Nam đang có xu hướng già hóa dân số.

Xã hội phát triển đồng nghĩa với việc các vấn đề pháp lý cũng cần đươc

quan tâm, trong đó mọi công dân đều sống và làm việc bằng pháp luật. Hiện

nay, chúng ta tiếp cận hệ thống bảo hiểm xã hội hoạt động theo nguyên tắc

của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường, vì thế có nhiều điều mới mẻ,

những biến động diễn ra ngày càng phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến mọi

hoạt động kinh tế, xã hội. Do vậy, chúng ta chỉ có thể tạo ra sự ổn định và

quản lý được các hoạt động bảo hiểm xã hội khi có được một hệ thống pháp

lý chuyên ngành đầy đủ và có hiệu lực mạnh.

Luật bảo hiểm xã hội được ban hành với các quy định cụ thể, trong đó

chế độ hưu trí cũng nêu ra các điều kiện về đối tượng tham gia hưu trí, điều

kiện và mức lương được hưởng với các trường hợp cụ thể. Trên cơ sở đó, các

cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ có trong tay một công cụ mạnh mẽ để điều hành

và kiểm soát quá trình thực hiện bảo hiểm xã hội. Vì vậy, để hệ thống pháp

luật về bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng thực sự phát

huy được hiệu lực tối cao của mình thì cần phải sắp xếp rà soát lại toàn bộ các

42

văn bản pháp quy về hoạt động bảo hiểm xã hôi trước đây và hiện hành với

mục đích loại hoặc điều chỉnh bổ sung cho hợp lý với nhu cầu quản lý mới

trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.

Với xu hướng hiện nay, cơ hội cho sự phát triển của bảo hiểm xã hội và

chế độ hưu trí ở Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi là

những khó khăm, hạn chế còn tồn tại bởi bản thân chế độ hưu trí cũng đang bị

cạnh tranh khá quyết liệt bởi các loại hình bảo hiểm thương mại khác có liên

quan đến con người như bảo hiểm con người, bảo hiểm nhân thọ,…Chính vì

vậy, việc nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí hiện nay được đặt ra là

vô cùng cần thiết, nó góp phần nâng cao chất lượng đời sống và hoàn thiện

hơn các quy định pháp luật về chế độ hưu trí.

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về

chế độ hưu trí

Thứ nhất, cần rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp luật quy định về

hoạt động BHXH trước đây và hiện hành với mục đích loại bỏ hoặc điều

chỉnh bổ sung cho phù hợp với nhau cầu quản lý mới trong điều kiện của nền

kinh tế thị trường.

Hiện nay, các văn bản pháp luật với số lượng đồ sộ cũng là một trở

ngại lớn cho vấn đề áp dụng vào thực tiễn. Vì vậy, cần nâng cao khả năng

thực thi của các văn bản này trong BHXH. Muốn thực hiện được điều này thì

ngoài việc đóng góp của xây dựng và hoàn thiện của các chuyên gia, các cán

bộ có kinh nghiệm trong và ngoài ngành, cũng cần có sự tiếp thu kinh nghiệm

từ các nước trên thế giới. Đồng thời, ý kiến đóng góp của đối tượng tham gia

BHXH cũng nên được quan tâm để xây dựng pháp luật hoàn thiện hơn.

Thứ hai, đảm bảo sự công bằng, không phân biệt khu vực kinh tế, bình

đằng giới, quan tâm đến quyền lợi của mọi tầng lớp xã hội, nhất là khi nông

dân hiện chiếm đến 70% dân số nhưng vẫn chưa có điều kiện tham gia vào hệ

thống BHXH hiện hành.

Thứ ba, nâng cao nhận thức của mọi thành phần trong xã hội, đặc biệt

là người lao động và người sử dụng lao động.

43

Việc nâng cao nhận thức cần thực hiện một cách đồng đều, trên khắp

các địa bàn cả nước nhằm đảm bảo sự công bằng cho mọi đối tượng. Với mức

độ phát triển như hiện nay, việc tiếp cận các văn bản hướng dẫn hay quy chế

áp dụng đối với chế độ hưu trí là không quá khó khăn. Tuy nhiên, lại có quá

nhiều nguồn khác nhau trong đó có cả những nguồn thông tin không chính

thống, gây nhầm lẫn cho mọi người. Vì vậy, nguồn thông tin cần được đưa ra

cụ thể, rõ ràng và tập trung tại một nguồn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho

việc tiếp cận.

Đồng thời, việc thường xuyên tổ chức, thực hiện các buổi tuyên truyền

về chính sách, quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng

cần được đẩy mạnh. Bởi vì chỉ khi có sự nhận thức đúng đắn, người lao động

và người sử dụng lao động mới nắm bắt được các công việc cần thiết phải

thực hiện, từ đó sẽ nâng cao ý thức chấp hành theo các quy định.

Thứ tư, nới lỏng quy định về tuổi nghỉ hưu cho nhóm lao động khác

nhau để phù hợp với sức khỏe, khả năng và điều kiện lao động, tránh sự lãng

phí lao động.

Như đã nêu ở trên, vấn đề quy định cụ thể độ tuổi nghỉ hưu của Luật

bảo hiểm xã hội năm 2014 đã tồn tại một vài điểm bất cập. Với tình trạng dân

số già như nước ta, chất lượng cuộc sống tăng lên, sức khỏe ngày càng được

đảm bảo, số lwongj người nghỉ hưu tăng nhanh so với số người đóng bảo

hiểm sẽ gây bất ổn cho quỹ hưu trí. Điều này đã được Tổ chức Lao động

Quốc tế (ILO) dự báo, với điều kiện hiện tại, quỹ lương hưu sẽ cạn kiệt vào

năm 2029. Việc tạo điều kiện cho nhóm đối tượng này sẽ tạo thêm một nguồn

lực có khả năng lao động và kinh nghiệm làm việc, nhất là khi họ còn khả

năng công hiến cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, sự thay đổi này cần cân để tránh gây tình trạng các văn bản

pháp luật ban hành một cách lỏng lẻo khiến cho người tham gia lao động hoặc

người sử dụng lao động sẽ tranh thủ lợi dụng để thực hiện những hành vi trục

lợi cá nhân. Đồng thời, trên thực tế có những ngành nghề gây ảnh hưởng lớn

44

đến sức khỏe của người lao động, thậm chí có thể để lại di chứng, không nên

gộp chung mọi trường hợp, mọi ngành nghề mà nên tách riêng thành các

trường hợp riêng biệt.

Tóm lại, việc điều chỉnh lại độ tuổi nghỉ hưu là cần thiết nhưng không

nên thực hiện ngay một lúc mà cần làm từ từ, tránh tình trạng ảnh hưởng xấu

đến xã hội và tâm lí của người lao động.

3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức triển khai thực

hiện chế độ hưu trí ở Việt Nam.

Một là, tăng cường áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động

BHXH. Trong thời buổi công nghệ hóa, hiện đại hóa, các thiết bị thông tin

điện tử, khoa học công nghệ ngày càng phát triển và giúp đỡ cho con người

giảm đi phần nào việc sử dụng sức lao động. Vì vậy, việc xét duyệt hồ sơ

hưởng BHXH bằng phần mềm, quản lý nghiệp vụ thu – chi, kế toán, chế độ

chính sách bằng công nghệ thông tin sẽ là một bước tiến lớn, vừa góp phần

giảm tải công việc, đồng thời tạo hiệu quả nhanh chóng, chính xác hơn.

Để làm được điều này cần chú ý đầu tư xây dựng hoàn thiện hệ thống

trụ sở làm việc đáp ứng được các nhu cầu phát triển và hiện đại hóa của ngành

bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Việc này cần được tiến hành đồng bộ ở khắp các tỉnh thành trên cả

nước, xây dựng cơ sở hạ tầng mạng thông tin bằng các kỹ thuật hiện đại, đầu

tư trang thiết bị, đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu.

Hai là, đẩy mạnh quá trình thực hiện chi trả lương thông qua ATM.

Hiện nay có hai hình thức trả lương hưu được áp dụng, đó là phương thức chi

trả trực tiếp và phương thức chi trả gián tiếp. Việc trả lương hưu thông

thường phải cần đến một khoảng thời gian dài để chi trả lương cho đủ số

người lao động, đồng thời cần một lượng cán bộ nhân viên tham gia chi trả

dẫn đến các hoạt động khác như giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, thay thẻ

BHYT cho người lao động bị sai sót, bị mất,..không thực hiện được, thời gian

nhận hạn chế khiến một số trường hợp người lao động đi vắng hoặc ốm đau

45

không đến nhận ngay được thì phải ủy quyền cho người khác đi nhận thay,

việc chuyển tiền đến các địa điểm chi trả tốn kém nhiều chi phí mà lại chưa

thực sự an toàn.

Vì vậy, xét thấy việc chi trả lương hưu thông qua ATM sẽ tạo điều kiện

cho các bên, người lao động có thể nhận lương hưu mà không bị giới hạn về

thời gian và không gian cũng như đảm bảo không làm gián đoạn các hoạt

động khác của BHXH.

Điều này cũng đặt ra một vấn đề cần được triển khai, đó là việc lắp đặt

thêm các cây ATM nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động. Tại một

số vùng có địa lý khó khăn thì vẫn áp dụng hình thức chi trả lương hưu truyền

thống. Tuy nhiên, cần có sự linh động giữa hai hình thức trên ở các thành phố

trên cả nước, nhằm tạo điều kiện tối ưu cho người được hưởng lương hưu dễ

dàng nhận được khoản trợ cấp của họ.

Ba là, chỉ đạo các địa phương trong việc đẩy mạnh công tác phát triển

đối tượng, giải quyết, chi trả kịp thời, đầy đủ các quyền lợi về BHXH cho

người lao động, thực hiện rà soát bàn giao sổ BHXH cho người lao động theo

quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Giải pháp này đưa ra nhằm quản lý chặt chẽ, khoa học các biến động

tăng, giảm đối tượng hưởng BHXH. Ở các địa phương trên cả nước, cần có

những cập nhật hàng tháng chặt chẽ tại cơ quan BHXH, rà soát lại hồ sơ và

phân loại danh sách đối tượng hưởng các chế độ. Từ đó, các cơ quan có thẩm

quyền sẽ xây dựng ké hoạch cắt giảm và thông báo cho những người sắp hết

hạn hưởng.

Để việc quản lý trở nên chất lượng hơn, Bảo hiểm xã hội ở các tình,

thành phố có thể in và niêm yết danh sách của các đối tượng tăng, giảm và

điều chỉnh tại các điểm chi trả.

Bốn là, nâng cao trình độ nghiệp vụ và tác phong làm việc, hiệu suất

của các cán bộ chuyên môn. Tích cực kiện toàn đội ngũ cán bộ quản lý các

phòng chức năng, BHXH các huyện, thành phố, các chức danh còn thiếu.

46

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ chính trị,

quản lý Nhà nước, kỹ năng giao tiếp và tinh thần thái độ phục vụ đối tượng.

Công việc này đòi hỏi cần phải củng cố hệ thống quản lý cơ quan bảo

hiểm xã hội ở các cấp, xây dựng một hệ thống chế độ hưu trí chặt chẽ, chất

lượng. Để có thể thực hiện hiệu quả vấn đề này, trên phạm vi toàn ngành cần

tiến hành rà soát và đánh giá lại mức độ phức tạp của công việc và yêu cầu về

tình độ chuyên môn tương ứng cho từng lĩnh vực, công việc trong ngành.

Cần chú trọng giữ và thu hút nhân tài, chuyên gia có trình độ chuyên

môn cao, các cán bộ làm công tác thu, phát triển đối tượng phải nắm vững địa

bàn, nâng cao khả năng thuyết phục đối với các đơn vị khi vận động phát triển

đối tượng, cán bộ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả phải đổi mới phong cách

phục vụ, nêu cao ý thức trách nhiệm, biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến đúng

đắn của khách đến giao dịch nhằm cải tiến quy trình, trả kết quả đúng hạn…

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công

chức, viên chức nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý. Tiếp tục chỉ đạo các đơn vị

trực thuộc và đội ngũ cán bộ, viên chức trong ngành quán triệt và nghiêm túc

thực hiện các văn bản, quy định của Ngành về kỷ luật, kỷ cương hành chính

và đạo đức công vụ cho cán bộ, viên chức.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng

công nghệ thông tin, trong đó thực hiện theo các chương trình, kế hoạch

hành động thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP, thực hiện giám định

điện tử trên hệ thống thông tin giám định trên phạm vi toàn quốc, chuẩn bị

kĩ lưỡng về vấn đề triển khai thực hiện quy định mới về quản lý thu, quản

lý số BHXH của ngành.

Sáu là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế thu – chi bảo hiểm xã hội Việt

Nam nhằm đảm bảo thực hiện tốt chính sách chế độ, cân đối, bảo toàn và tăng

trưởng quỹ.

Hiện nay, hệ thống hưu trí của Việt Nam đang chịu tác động của rất

nhiều nhân tố. Trong đó không thể không kể đến sự phụ thuộc tỷ lệ dân số của

47

hệ thống đang tăng nhanh, tỷ lệ đóng góp thấp hơn so với tỷ lệ hưởng nên quỹ

đang rơi vào tình trạng nhanh chóng bị cạn kiệt. Vì vậy, việc củng cố và tăng

cương quản lý quỹ bảo hiểm xã hội nói chung và quỹ hưu trí nói riêng là vấn

đề cần được quan tâm.

Cần có những quy định nhằm điều chỉnh nhóm đối tượng chậm nộp bảo

hiểm xã hội, nợ đọng quỹ quá lâu. Nhóm đối tượng này gây ảnh hưởng không

nhỏ đến quỹ hưu trí, vì vậy cần phải có chế tài xử phạt về hành chính hoặc

chịu phạt theo phần trăm số quỹ còn nợ.

Bảy là, thanh tra giám sát việc thực hiện chế độ hưu trí trên các tỉnh,

thành phố trong phạm vi cả nước. Đặc biệt các khu vực có báo cáo số liệu đạt

kết quả chưa cao và còn có nhiều sai phạm trong quá trình thực hiện chế độ

hưu trí. Việc thanh tra, giám sát có thể dễ dàng phát hiện ra những sai sót để

kịp thời sửa đổi, hoàn thiện pháp luật phù hợp hơn với tình hình thực tế.

Tám là, hợp tác trong nước và quốc tế về bảo hiểm xã hội, đặc biệt

trong chế độ bảo hiểm hưu trí. Việt Nam có thể trao đổi kinh nghiệm, học hỏi

phương thức quản lý thực hiện của các nước trong khu vực và trên thế giới,

Đồng thời, cần tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và đẩy

mạnh hơn nữa các mối quan hệ với cơ quan, đoàn thể trong nước nhằm tạo

điều kiện thực hiện các hoạt động bảo hiểm xã hội được tốt hơn.

48

KẾT LUẬN

Qua những hiểu biết và tìm hiểu về bảo hiểm xã hội nói chung và chế

độ bảo hiểm hưu trí nói riêng, có thể thấy tầm quan trọng đặc biệt của nó đối

với công dân, đặc biệt là nhóm đối tượng những người lao động. Trong suốt

quá trình hình thành và phát triển, chế độ hưu trí đã góp phần tạo nên cuộc

sống ổn định cho công nhân viên chức, lực lượng vũ trang và gia đình họ, từ

đó tạo cho họ tâm lý thoải mái, dù không còn khả năng lao động như trước

đây nhưng họ vẫn có thể tự thỏa mãn các như cầu cá nhân của mình, không

phụ thuộc vào người khác, giảm bớt gánh nặng cho người than, gia đình và xã

hội. Bảo hiểm hưu trí góp phần tạo tiền đề vững chắc cho người lao động về

cả vật chất lẫn tinh thần. Vì vậy, sự cần thiết của việc xây dựng và hoàn thiện

chế độ hưu trí nhằm đảm bảo những quy định và thực tiễn áp dụng phù hợp

với tình hình phát triển của đất nước và cuộc sống của người lao động là vô

cùng cần thiết.

Trong quá trình nghiên cứu và phân tích, chế độ hưu trí ở Việt Nam

hiện nay đã có những ưu điểm và thành tựu nhất định. Tình hình số người

tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước ngày càng tăng, công tác tuyên truyền

và phổ biến pháp luật cũng được chú trọng hơn trước, tiếp tục khẳng định sự

đúng đắn và đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về bảo

hiểm xã hội. Song, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần được khắp phục do kết

quả đạt được chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, vị thế và số lao động

đông đảo trên cả nước. Sự phát triển về chế độ hưu trí tại các tỉnh, thành phố

trong phạm vi quốc gia vẫn chưa thực sự đồng đều dẫn đến quyền và lợi ích

hợp pháp của người lao động bị ảnh hưởng một cách trực tiếp.

Từ những ưu điểm và hạn chế của chế độ hưu trí đưa ra một số giải

pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí tại Việt Nam. Các giải pháp

đó tương đối đồng bộ, bao gồm cả về mặt lập pháp và thực tiễn tổ chức, thực

hiện. Những giải pháp này được đưa ra với mong muốn góp phần nâng cao

49

hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh

tế - xã hội như hiện nay, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội ngày

càng tăng cũng dẫn đến việc quản lý và áp dụng trở nên phức tạp hơn. Do

vậy, việc tìm hiểu cũng như đưa ra giải pháp góp phần hoàn thiện chế độ

hưu trí theo Luật bảo hiểm xã hội 2014 tại Việt Nam không phải là điều

đơn giản. Vì vậy, trong phạm vi và khả năng cho phép, khóa luận không

tránh khỏi những thiếu sót.

50

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2000), Thực trạng và các giải pháp hoàn 1.

thiện công tác chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn, Đề tài nghiên cứu

khoa học, Hà Nội.

2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2004), Luật bảo hiểm xã hội

một số nước trên thế giới (bản dịch), Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội.

4. Đặng Như Lợi (2014), Cải cách Luật bảo hiểm xã hội để mở rộng bảo

hiểm hưu trí đối với người cao tuổi, Lý luận chính trị, số 12/2014.

5. Đặng Như Lợi (2017), “Bảo hiểm hưu trí – Trụ cột của An sinh xã hội

lâu dài”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, 45(1), tr. 15-21.

6. Hà Ngọc Quế (dịch) (2005), “Những quan điểm, chủ trương của Trung

Quốc trong việc cải cách và thống nhất quản lý an sinh xã hội”, Kêu gọi tiến

tới một nền an sinh xã hội mới, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội.

7. Lê Thị Ngọc Linh (2008), Cải cách chế độ bảo hiểm hưu trí trên thế

giới và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp,

Trường đại học Luật Hà Nội.

Liên hợp quốc (1948), Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền. 8.

Nguyễn Thế Mừng (2015), Chế độ hưu trí trong quy định Luật bảo 9.

hiểm xã hội. Thực trạng tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học,

Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội.

10. Nguyễn Mai Phương (2017), Chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã

hội năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Lai Châu, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Luật

trường Đại học Công đoàn.

11. Nguyễn Thị Kim Phụng (2005), Góp ý dự thảo Luật bảo hiểm xã hội –

Hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8/2005.

12. Nguyễn Hiền Phương (1996), Bảo hiểm hưu trí thực trạng và những

51

giải pháp, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội.

13. Nguyễn Đình Luận (2016), Quy định về hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo

hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp, Tạp chí tài chính kỳ 1 tháng 6/2016.

14. Trần Công Dũng (2002), Góp phần hoàn thiện chế độ hưu trí trong

pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa

Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội.

15. Trần Thị Thúy Nga (2004), Pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng

quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật

trường Đại học Quốc gia Hà Nội.

16. Trần Thúy Lâm (2004), Bảo hiểm xã hội đối với người lao động nữ

thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luật học số 3/2014.

17. Tạp chí Tài chính – Bảo hiểm, năm 2013.

18. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, năm 2003.

19. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, năm 2014

20. Tạp chí Lao động và xã hội, năm 2003.

21. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.

22. Quốc hội (2014), Luật Bảo hiểm xã hội, Hà Nội.

23. Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật bảo hiểm xã

hội của một số nước trên thế giới (Tập 1), Nxb. Tư pháp.

24. Báo mới (2017), “13,52 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt

buộc”, Báo điện tử, truy cập ngày 06/04/2018 từ trang:

https://baomoi.com/13-52-trieu-nguoi-tham-gia-bao-hiem-xa-hoi-bat-

buoc/c/24425071.epi .

25. Báo mới (2017), “Các quốc gia trên thế giới tính lương hưu như thế

nào?”, Báo điện tử, truy cập ngày 06/04/2018 từ trang

https://baomoi.com/cac-quoc-gia-tren-the-gioi-tinh-luong-huu-nhu-the-

nao/c/23836847.epi

26. Tạp chí tài chính (2017), “Hơn 13 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

bắt buộc”, Báo điện tử, truy cập ngày 07/04/2018 từ trang:

52

http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/hon-13-trieu-

nguoi-tham-gia-bao-hiem-xa-hoi-bat-buoc-115400.html.

27. Nguyễn Thanh Vân (2014), “Xu hướng già hóa rủi ro ở Việt Nam”,

Tạp chí Dân số và phát triển, 11(152).

28. Tạp chí bảo hiểm xã hội (2016), “Tuổi nghỉ hưu ở Việt Nam”, Báo điện

tử, truy cập ngày 09/04/2018 từ trang: http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-

tuc/tuoi-nghi-huu-o-viet-nam---thuc-trang-va-kien-nghi-16769.

53