16
3) Các nhà đầu tư Việt Nam tham gia quan hệ đầu tư nước ngoài.
4) Các doanh nghiệp vốn đầu nước ngoài, các doanh nghiệp BOT,
BT, BTO.
5) Người lao động.
6) Các cơ quan tài phán trong nước và quc tế.
sở pháp để hình thành quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ
pp luật đầu ớc ngoài tại Việt Nam những nét đặc thù riêng so với các
ngành luật khác. Khi tham gia vào quan hpháp luật đầu nước ngoài tại Việt
Nam, các ch thể của quan hpháp luật đó c quyền và nghĩa vụ nhất định
trên sở các quy định của pháp luật đầu nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật
của ớc mà cá nhân, t chc kinh tế nước ngoài mang quốc tịch và các quy
định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, hoặc trên sở
kết hợp các quy định đó.
Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam còn được xác định theo các điều ước quốc tế mà Vit Nam ký kết hoặc
gia nhập n Hiệp định khung về khu vực đầu ASEAN (1999), Hiệp định
song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai
lần, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa K... quan đm bo đầu đa
biên MIGA 1985 (Multilateral Investment Guarantee Agency), ng ước New
York 1958 vng nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài...
Các điều ước quốc tế đósở pháp lý quan trng để đảm bảo thực hiện quyền
và nghĩa vụ của các nhà đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, quyn và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật đầu
ớc ngoài tại Việt Nam cũng được xác đnh theo quy định của pháp luật đầu
ớc ngoài tại Việt Nam, theo Giấy phép đầu và theo các văn bản cụ thể được
quan nhà nước có thẩm quyền chuẩn y. Trong mt số trường hợp đặc biệt còn
được c định theo quy chế riêng do Chính phViệt Nam ấn định sau khi sự
tha thuận với đối tác bên ngoài, ví dụ một s hợp đồng BOT, BT, BTO...
n฀฀c ngo฀i t฀i Vi฀t Nam, Lun án phó ti฀n s฀ lu฀t h฀c, H฀ N฀i
17
1.2.2.4. Pháp luật đầu ớc ngoài bphận cấu thành mt số
lượng lớn c điều ước quốc tế liên quan trực tiếp đến đầu ớc ngoài
mà Việt Nam ký kết hoc gia nhập
Khác với các ngành luật khác, pháp luật đầu tư nước ngoài có bphận cấu
thànhmt s lượng lớn các điều ước quốc tế như Hiệp định khung về khu vực
đầu ASEAN, 41 Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu ,
34 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa
kỳ... Việc kết và thực hiện các điều ước quốc tế hai bên nhiều n được
tiến hành theo các quy định của pháp luật Việt Nam vkết và thực hiện các
điều ước quốc tế. c ngành luật khác cũng thcó một bphận cấu thành
các điều ước quc tế, nhưng không nhiều hoặc phong phú như Luật Đầu nước
ngoài. Ví dụ: Luật Tố tụng hình s các điều ước quốc tế song phương về
tương trợ pháp hoặc hp n về dẫn độ tội phạm. Nng trong lĩnh vực
này, Vit Nam tham gia với số ợng rất ít, chủ yếu là kết với các nước
XHCN trước đây.
Trong pháp luật đầu tư nước ngoài, các quy phạm trong các điều ước quốc
tế tham gia điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của chủ thể các quan hệ pháp luật đầu
nước ngoài tại Việt Nam. Các nhà đầu nước ngoài coi các điều ước quốc tế
là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Đây
th nói là mt nét đặc thù của pháp lut đầu nước ngoài, bởi lẽ tham gia
điều chỉnh các quan hệ xã hi của các ngành luật khác thể có các quy phạm
được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam kết hoặc gia nhập,
nhưng số lượng của chúng kng nhiều và phổ biến như ở pháp luật đầu tư nước
ngoài.
1.2.3. Vai trò của pháp luật Đầu tư nước ngoài
Trong xã hi chủ nghĩa, pháp luật giữ vai trò quan trọng. Pháp luật là
phương tiện thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo
của Đảng được thực hiện hiệu quả trên quy toàn xã hi. Pp luật là
phương tiện đNhà nước quản mọi mặt đời sng xã hội, thực hiện các chức
18
năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Pháp luật đầu nước ngoài vi cách nhân tố điều chỉnh c quan hệ
xã hi trong lĩnh vực đầu tư, luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới c
quan hđầu i chung, cũng như tới tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng
tầng nói riêng. Pháp luật đầu nước ngoài có một s vai trò chyếu sau đây:
1.2.3.1. Pháp lut đầu nước ngoài là sở để xây dựng và hoàn thiện
bộ máy quản nhà nước về đầu
Bmáy quản nhà nước nói chung, b máy quản nhà nước về đầu
i riêng mt thiết chế phức tạp gồm nhiều quan khác nhau. Đbộ máy đó
hoạt động có hiệu quả, phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm
của mỗi loại quan, phải xác lập một cách đúng đắn và hợp mối quan hệ
gia chúng, phải có những phương pp và hình thc tổ chức, hoạt động phù hợp
đtạo ra một cơ chế đồng bộ trong qtrình thiết lập quyền lực nnước trong
lĩnh vực đầu tư. Tất cả những điều đó chỉ thể thực hiện được khi dựa trên
sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật đầu tư.
Thực tiễn Việt Nam trong những năm qua cho thấy, khi chưa hệ thống
các quy phạm pháp luật đầy đủ, đồng bộ, phù hợp chính xác đlàm cơ sở cho
việc củng cố, hoàn thiện bmáy quản nhà nước về đầu tư, thì ddẫn đến tình
trạng trùng lập, chồng chéo, thực hiện không đúng chức năng, thẩm quyền của
một số cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này, dsinh ra cồng kềnh, kém hiệu quả.
1.2.3.2. Pháp luật đầu tư nưc ngoài bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu
quchức năng tổ chức và qun đầu tư, góp phần xây dựng sở vt chất
của chủ nghĩa xã hi
Chức năng tổ chức và quản lý đầu tư có phạm vi rộng và phc tạp bao gồm
nhiều mối quan hệ, nhiều vấn đề mà Nhà nước cần xác lập, điều tiết và giải quyết
như: hoạch định các chính sách đầu tư, quy định các chế độ tài chính, tiền tệ, g
cả… Tất cả những điều đó đều đòi hỏi sự hoạt động tích cực của Nớc để
tạo ra một chế đồng bộ, thúc đẩy hoạt động đầu tư đúng hướng, mang lại hiệu
quthiết thực. Do tính chất phức tạp của hoạt động đầu tư (nhiều vấn đcần giải
19
quyết) và phạm vi rộng (trên quy toàn quốc) của chức năng quản đầu tư,
Nnước không ththam gia vào các hoạt động đầu tư cụ thmà chthực hiện
chc năng quản nhà ớc đối với hoạt động đầu tư. Quá trình đó không thể
thc hiện được nếu không da vào pháp luật đầu nước ngoài. Chỉ có pháp luật
đầu nước ngoài với những tính chất đặc thù của nó mới sở để Nhà nước
hoàn thành được chức năng của nó trong lĩnh vực đầu .
Quá trình t chức và quản lý đầu tư ở Việt Nam trong những năm qua đã là
một thực tiễn sinh động khẳng định vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài. Tình
trạng thiếu các quy phạm pháp luật về đầu tước ngoài cũng như sự tồn tại q
lâu nhng văn bản, những quy phm pp luật đầu của chế tập trung, quan
liêu, bao cp, đã làm giảm hiệu lực quản lý của Nnước, kìm hãm s phát triển
của hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng, của nền kinh tế Việt Nam nói chung.
1.2.3.3. Pháp lut đầu nước ngoài bảo vệ lợi ích của các nhà đầu
ớc ngoài, đồng thời bảo hộ sản xuất trong nước
Nhm khuyến khích, kêu gọi đầu nước ngoài vào Việt Nam, Luật Đầu
nước ngoài năm 1987 và 1996 đã khẳng định quyền được tôn trng và bảo vệ
của các nđầu ớc ngoài quy đnh một số ưu đãi hơn đối với đầu
trong nước. Đối với các nhà đầu nước ngoài, Nnước ta đã c lp những
chế định bảo hộ và khuyến khích đầu nước ngoài rất rõng.
Tuy nhiên, chúng ta khuyến khích đầu nước ngoài mt phần là nhu
cầu phát triển sản xuất trong nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định "Vốn
ớc ngoài là quan trọng, vốn trong nước là quyết định". Do vậy, đi đôi với việc
khuyến khích, ưu đãi đối với đầunước ngoài, pháp luật đầu tư trong nước chú
trọng bảo h sản xuất trong ớc. Đây là nguyên tắc phát triển kinh tế của mọi
quốc gia, có chăng chỉ khác nhau về mức độ và nội dung bảo h mà thôi. Chính
bản thân sự xuất hiện của pháp luật đầu tư nước ngoài đã nói lên tư tưởng bảo hộ
sản xuất trong nước. Việc đra pháp luật đầu nước ngoài nhằm quy định
một hành lang pp riêng cho hot động đầu nước ngoài, để tách mt số
hoạt động, cũng như một s ưu đãi đối với các nhà đầu nước ngoài khi "sân
20
chơi" của các doanh nghiệp Việt Nam, dành mt số lợi thế so sánh cho các
doanh nghiệp trong nước. Trong giai đoạn hiện nay, c doanh nghiệp Việt Nam
n được hưởng một số đặc quyền hoặc ưu đãi thì mới tồn tại và phát triển được,
nhất trong giai đoạn nền kinh tế của ta còn nhiều hạn chế, các doanh nghiệp
trong nước chưa đ mạnh. Chúng ta chủ trương bảo hộ sản xuất trong nước
trong một số lĩnh vực, phạm vi và mức độ nhất định đtạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong ớc dần mạnh lên. Vì vậy, thể khẳng định một trong
nhng vai trò rất quan trọng của pháp luật đầu ớc ngoài bo vlợi ích
của nhà đầu tư nước ngoài, nhưng đồng thời cũng là hành lang pháp để bảo hộ
sản xuất trong nước. Điều đó góp phần từng bước xây dựng một nền kinh tế tự
ờng, loại bỏ mọi nguy cơ biến nền kinh tế ớc ta thành mt nền kinh tế l
thuc vào bên ngoài.
1.2.3.4. Pháp luật đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư
ti Việt Nam
Pháp luật đầu ớc ngoài ra đời để đáp ng yêu cầu điều chỉnh các
quan hệ xã hội vđầu tư. Pháp luật đầu tư nước ngoài cũng tác động trở lại làm
cho các quan hệ đầu tư phát sinh, phát triển theo hướng có lợi.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo chỉ có thể mang lại
kết quả khi pháp luật nói chung, pháp luật đầu nước ngoài nói riêng phản ánh
đúng các quy luật kinh tế khách quan trong điều kiện mới của nền kinh tế nhiều
thành phn, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước. Chính
sđổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật đầu nước ngoài, tạo tiền đcho sự
cởi trói, thúc đẩy các quan hệ đầu mi phát triển. Đối với s phát triển hoạt
động đầu tư, pháp luật đầu tư nước ngoài có vai trò cthể như sau:
Thnhất, pháp luật đầu ớc ngoài tạo sở cho việc c lập những
nguyên tc pháp bản đảm bảo cho sự vận hành của hoạt động đầu tại
Việt Nam có hiệu quả.
th i đây là vai trò quan trọng của pháp luật đầu nước ngoài, phản
ánh nhng đòi hi khách quan của sự phát triển các quan hệ đầu tư được thể chế