
46
ngoài năm 1987 như sau:
- Đoạn cuối của Điều 16 được sửa lại là: "Lương và các khoản phụ cấp
của người lao động Việt Nam được trả bằng tiền Việt Nam hoặc tiền nước ngoài
trích từ tài khoản của xí nghiệp mở tại Ngân hàng".
- Bổ sung vào Điều 27 một đoạn như sau: "Tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư,
quy mô vốn đầu tư khối lượng hàng xuất khẩu, khối lượng hàng thay thế hàng
nhập khẩu thiết yếu mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ,
tính chất và thời gian hoạt động...".
2.3.4.5. Miễn, giảm tiền thuê đất
Việc miễn giảm tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển được áp dụng cho các
dự án xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, xây dựng - chuyển giao - kinh doanh,
xây dựng - chuyển giao; dự án đầu tư vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo quy định của Chính phủ.
2.3.4.6. Cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được hưởng ưu đãi
như doanh nghiệp liên doanh
Trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 có sự phân biệt chế độ ưu đãi
giữa xí nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, trong đó xí nghiệp
liên doanh được hưởng ba điều ưu đãi mà xí nghiệp 100% không được hưởng,
đó là: được miễn, giảm thuế trong vài năm đầu (Điều 27, 28); trong trường hợp
đặc biệt được hưởng khung thuế lợi tức thấp nhất từ 10% đến 15% (Điều 27,
28); được chuyển lỗ của năm trước sang các năm sau (Điều 27).
Có thể thấy mục đích chính của Việt nam khi ban hành Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 là khuyến khích việc thành lập hình thức xí nghiệp liên doanh,
vì trong đó có phần góp vốn của Bên Việt Nam và thông qua hình thức xí nghiệp
liên doanh để học hỏi kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, thông qua Bên
Việt Nam trong liên doanh để giám sát, kiểm tra hoạt động của xí nghiệp. Đến nay
chủ trương này vẫn đúng. Nhưng thực tiễn thi hành Luật đầu tư còn cho thấy,
trong thời gian đầu, nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn thành lập xí nghiệp liên
doanh, vì họ chưa quen thị trường Việt Nam, nên muốn thông qua Bên Việt Nam

47
trong liên doanh để cùng chia sẻ rủi ro và lo các thủ tục hành chính cần thiết.
Đến nay, nhiều nhà đầu tư nước ngoài, nhất là những người đã quen thị trường
Việt Nam và có ý đồ làm ăn lớn, có xu hướng muốn thành lập xí nghiệp 100%
vốn nước ngoài hơn là xí nghiệp liên doanh vì họ muốn tự do trong kinh doanh
hơn. Nếu nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài,
thì lại không được hưởng những khuyến khích về tài chính như xí nghiệp liên
doanh. Họ bị đặt trước tình huống phải cân nhắc, nhiều khi ngần ngại kéo dài và
dễ đi đến "bỏ cuộc". Vì vậy, việc xóa bỏ sự phân biệt về ưu đãi tài chính giữa xí
nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là yêu cầu bức xúc đặt ra.
2.3.5. Quản lý tài chính và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
2.3.5.1. Quy định về vốn pháp định
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 lần đầu tiên đưa ra khái niệm vốn pháp
định: "Vốn pháp định là vốn ban đầu của xí nghiệp liên doanh được ghi trong
điều lệ xí nghiệp" (khoản 2 Điều 9). Đây là bước tiến về kỹ thuật lập pháp về
đầu tư nước ngoài.
Nhằm hạn chế việc thu hẹp đầu tư, Điều 31 Nghị định số 139 quy định là
xí nghiệp liên doanh không được giảm vốn pháp định. Quy định này không cho
phép nhà đầu tư nước ngoài sau khi đã góp vốn pháp định, tùy tiện rút vốn ra để
tránh ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế, nếu các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút
vốn về nước. Ngược lại, trong trường hợp nhà đầu tư muốn tăng vốn, thì phải
được sự chuẩn y của cơ quản lý cấp phép đầu tư, nhằm khuyến khích đầu tư vào
những lĩnh vực mà ta đang cần đầu tư.
Tuy nhiên, thực tiễn đầu tư nước ngoài đã cho thấy, trong một số trường
hợp bất khả kháng về khả năng tài chính của công ty mẹ, hoặc nhu cầu của thị
trường tiêu thụ bị thu hẹp... doanh nghiệp đầu tư nước ngoài buộc phải cơ cấu lại
vốn đầu tư, vốn pháp định. Để giải quyết vướng mắc này, Nghị định 24 đã quy
định cho phép doanh nghiệp cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định trong trường
hợp thay đổi mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức góp vốn và các

48
trường hợp khác được cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp nhận (Điều 34). Tuy
nhiên, việc cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định không được làm giảm tỷ lệ vốn
pháp định xuống dưới mức 30% so với tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp.
2.3.5.2. Về chế độ kế toán, thống kê, bảo hiểm
Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 (khoản 2 Điều 14) và Luật Đầu tư
nước ngoài năm 1987 (Điều 18) đều quy định các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được áp dụng chế độ kế toán Việt nam hoặc theo những nguyên tắc
và tiêu chuẩn quốc tế phổ biến mà được Bộ Tài chính chấp thuận. Nhưng nay, do
chế độ kế toán của Việt Nam đã có nhiều cải tiến, phù hợp với hệ thống kế toán
quốc tế phổ biến. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 đã quy định chặt chẽ hơn
nhằm thống nhất sự quản lý. Luật quy định các doanh nghiệp nên áp dụng hệ
thống kế toán Việt Nam. Trường hợp do nhu cầu kế toán toàn cầu của những
công ty, tập đoàn lớn hoặc thuộc ngành nghề đặc biệt thì mới được Bộ Tài chính
cho áp dụng hệ thống kế toán nước ngoài (Điều 37 Luật Đầu tư nước ngoài và
Điều 62 Nghị định 24).
Đối với việc bảo hiểm tài sản, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy
định tài sản của xí nghiệp liên doanh được bảo hiểm tại Công ty bảo hiểm Việt
Nam hoặc tại các công ty bảo hiểm khác do hai bên thỏa thuận. Đây là quy định
mới rất cần thiết, bảo đảm bảo hiểm tài sản cho các xí nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài mà trước kia Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 chưa quy định. Luật
Đầu tư nước ngoài năm 1996 chỉ cho phép các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và Bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh bảo hiểm tài
sản và trách nhiệm dân sự tại các công ty bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt
Nam. Điều này có nghĩa là họ không được mua bảo hiểm ở nước ngoài.
2.3.5.3. Vấn đề mở tài khoản
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 quy định xí nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được mở tài khoản bằng tiền Việt Nam và tiền nước ngoài tại Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam hoặc tại các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt
tại Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận (Điều 17). So với

49
quy định tương ứng trong Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977, thì quy định
trên mở rộng hơn, vì Điều lệ quy định các doanh nghiệp phải mở tài khoản tại
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 đã sửa đổi, bổ sung Điều 17
như sau: "Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở tài khoản bằng tiền Việt Nam
và tiền nước ngoài tại Ngân hàng Việt Nam hoặc tại Ngân hàng liên doanh và
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt ở Việt Nam".
Tiếp tục hoàn thiện quy định trên, Điều 35 Luật Đầu tư nước ngoài (sửa
đổi) năm 2000 đã sửa đổi theo hướng quy định: trong trường hợp đặc biệt được
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài được mở tài khoản tại ngân hàng nước ngoài.
2.3.5.4. Cân đối ngoại tệ
Nhằm mục đích ổn định cán cân thanh toán quốc tế trong điều kiện đồng
tiền Việt Nam chưa có khả năng chuyển đổi và dự trữ ngoại tệ có hạn, Luật Đầu
tư nước ngoài năm 1996 quy định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Bên
nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh tự đảm bảo nhu cầu về tiền
nước ngoài cho hoạt động của mình.
Để thực hiện từng bước xử lý vấn đề chuyển đổi ngoại tệ đối với các giao
dịch vãng lai, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và tạo cơ sở pháp lý cho
các ngân hàng được quyền quyết định mua, bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tùy khả năng và điều kiện cụ thể, Luật Đầu tư nước
ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã sửa đổi Điều 33 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996
theo hướng:
- Thay quy định doanh nghiệp tự cân đối ngoại tệ bằng việc cho phép
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các Bên tham gia hợp đồng hợp tác
kinh doanh được mua ngoại tệ tại ngân hàng thương mại để đáp ứng các giao
dịch vãng lai và các giao dịch được phép khác theo các quy định của pháp luật
về quản lý ngoại hối.
- Chính phủ bảo đảm cân đối ngoại tệ đối với một số dự án đặc biệt quan

50
trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ trong từng thời kỳ.
2.3.5.5. Vấn đề chuyển nhượng vốn
Việc chuyển nhượng vốn là hiện tượng bình thường trong kinh tế thị
trường và là quyền chính đáng của nhà đầu tư. Tuy nhiên, Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 chỉ quy định việc chuyển nhượng vốn của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở đó, Điều 33 Nghị định 139 đã quy định việc
chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp liên doanh và các bên ưu tiên chuyển
nhượng cho các bên trong liên doanh. Việc chuyển nhượng này phải được Hội
đồng quản trị nhất trí và phải được ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là
Bộ Kế hoạch và Đầu tư) chuẩn y. Sau này, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 đã
quy định việc chuyển nhượng vốn một cách đầy đủ và thoáng hơn, cụ thể là: quy
định việc chuyển nhượng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cũng như
của hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996
quy định việc phải nộp thuế lợi tức (nay là thuế thu nhập doanh nghiệp) 25%;
trường hợp chuyển nhượng cho Bên Việt Nam thì tùy từng trường hợp sẽ được
miễn, giảm thuế
Do quy định trên về chuyển nhượng vốn còn phức tạp và mang tính áp
đặt, nên Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã quy định: hợp đồng
chuyển nhượng vốn chỉ cần đăng ký với Cơ quan cấp phép đầu tư (Điều 34).
2.3.5.6. Vấn đề tổ chức lại doanh nghiệp
Việc chuyển đổi hình thức đầu tư, mua lại, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách
doanh nghiệp là thực tế phổ biến trong hoạt động đầu tư ở các nước. Một trong
các hạn chế của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 là chưa đề cập đến các hình
thái vận động của doanh nghiệp trong quá trình phát triển như chuyển đổi hình
thức đầu tư, việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp... Thời gian qua,
mặc dù chúng ta đã xử lý linh hoạt việc cho nhà đầu tư lựa chọn cũng như
chuyển đổi hình thức đầu tư, nhưng mới dừng lại ở việc xem xét từng trường
hợp cụ thể, chưa có quy định chính thức về mặt pháp lý. Hơn nữa, vấn đề này đã
được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp.

