
76
cho phép việc xuất khẩu tại chỗ được thanh toán bằng ngoại tệ. Trong Thông tư
số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thực
hiện Thuế giá trị gia tăng, phần II, mục 1.3, khoản c cũng quy định trường hợp
xuất khẩu tại chỗ phải thanh toán qua ngân hàng và bằng ngoại tệ. Trong khi đó,
Thông tư số 01/1999/TT-NHNN7 ngày 15/4/1999 của Ngân hàng Nhà nước
hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý ngoại hối lại quy định: mọi giao dịch của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam phải thực
hiện qua ngân hàng và bằng đồng Việt Nam. Đó là một biểu hiện của sự chồng
chéo, mâu thuẫn trong việc ban hành các văn bản pháp quy của các Bộ ngành,
không có sự phối hợp với nhau. Điều đó dẫn tới thiệt hại và làm ngưng trệ sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cần sửa đổi lại quy định hướng dẫn thi hành
Quy chế quản lý ngoại hối, theo hướng: cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, nếu có hoạt động xuất khẩu tại chỗ, thì có quyền được thanh toán qua
ngân hàng bằng tiền Việt Nam hoặc bằng ngoại tệ, tùy theo sự cân đối và nhu
cầu của doanh nghiệp.
3.3.2.5. Sửa đổi các quy định về tổ chức, hoạt động của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
* Nguyên tắc nhất trí
Nguyên tắc nhất trí được quy định lần đầu tiên trong Luật Đầu tư nước
ngoài năm 1987 nhằm đảm bảo cho Bên Việt Nam trong doanh nghiệp liên
doanh được quyền tham gia quyết định những vấn đề quan trọng, như: phương
án sản xuất, kinh doanh dài hạn và hàng năm, ngân sách, vay nợ; sửa đổi, bổ
sung Điều lệ doanh nghiệp liên doanh; bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc thứ nhất và kế toán trưởng, trong
khi tỷ lệ vốn góp của Bên Việt Nam rất thấp. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996
đã sửa đổi quy định này theo hướng thu hẹp phạm vi cần bảo đảm nguyên tắc nhất
trí, chỉ áp dụng nguyên tắc này đối với một số vấn đề quan trọng nhất trong tổ
chức và hoạt động của doanh nghiệp liên doanh.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 cũng đã bỏ quy định về ba phương pháp

77
giải quyết trong trường hợp không đạt được nguyên tắc nhất trí và dành cho doanh
nghiệp quyền tự chủ giải quyết vấn đề này (Điều 14 Luật Đầu tư nước ngoài năm
1996). Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã sửa đổi quy định trên theo
hướng tiếp tục hạn chế phạm vi áp dụng nguyên tắc nhất trí.
Tuy nhiên, so sánh với pháp luật đầu tư nước ngoài của một số nước trên
thế giới thì thấy rằng: việc quy định nguyên tắc nhất trí trong Luật Đầu tư nước
ngoài (sửa đổi) năm 2000 vẫn chưa phù hợp với các nguyên tắc phổ biến về xí
nghiệp liên doanh trên thế giới và trái với tinh thần của Luật Doanh nghiệp nước
ta. Do vậy, theo các thông lệ quốc tế thì cần bãi bỏ nguyên tắc nhất trí trong việc
bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc thứ nhất, chỉ cần
bảo đảm nguyên tắc nhất trí đối với vấn đề sửa đổi, bổ sung Điều lệ doanh
nghiệp. Theo thông lệ quốc tế, ai góp nhiều vốn, thì người đó được nắm quyền
điều hành doanh nghiệp.
* Sửa đổi quy định về giảm vốn pháp định
Điều 16 Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành quy định: "Vốn pháp định của
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư của
doanh nghiệp. Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể thấp hơn 30%, nhưng
phải được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp nhận. Trong
quá trình hoạt động, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được giảm
vốn pháp định".
Thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua
cho thấy, có những trường hợp bất khả kháng, dẫn đến việc doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài buộc phải xin giảm vốn pháp định. Đó là các trường hợp sau
đây:
Thứ nhất, một trong các Bên trong doanh nghiệp liên doanh rút khỏi liên
doanh vì những nguyên nhân nhất định, trong khi đó, các Bên còn lại có nguyện
vọng vẫn tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, doanh nghiệp liên doanh buộc phải giảm quy mô đầu tư so với kế
hoạch đề ra ban đầu, bởi thị trường tiêu thụ sản phẩm đã có biến động theo

78
hướng nếu cứ duy trì theo quy mô cũ, thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng làm
ăn thua lỗ.
Thứ ba, vì những khó khăn về tài chính của các công ty mẹ, nên Bên nước
ngoài buộc phải xin giảm vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
Trong những trường hợp trên, nguyện vọng của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài xin giảm vốn pháp định là chính đáng và phải được các cơ
quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp nhận. Điều 34 Nghị định số
24 quy định về cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định đã cho phép doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài được cơ cấu lại vốn đầu tư, vốn pháp định khi có
những thay đổi về mục tiêu, quy mô dự án, đối tác, phương thức góp vốn và các
trường hợp khác.
Việc giảm vốn pháp định nói trên phải đảm bảo điều kiện là không được làm
tỷ lệ vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuống dưới mức
quy định, có nghĩa là không được thấp hơn 30% so với tổng vốn đầu tư, trường
hợp đặc biệt không dưới 20%.
3.3.2.6. Vấn đề xử lý phá sản doanh nghiệp
Trong những năm qua, khi việc giải thể doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, nhất là giải thể doanh nghiệp trước thời hạn, thường nảy sinh tình trạng
doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ cho chủ nợ. Theo quy
định hiện hành, hết thời hạn thanh lý thì các tranh chấp được chuyển cho Tòa án
giải quyết. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào Luật Phá sản doanh nghiệp và Nghị
định 189/CP ngày 23/12/1996 quy định chi tiết thi hành Luật Phá sản doanh
nghiệp, thì trên thực tế nhiều trường hợp chưa đủ căn cứ pháp lý để xử lý việc
phá sản của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy đối tượng áp dụng
luật này bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có những đặc thù riêng, cần phải được
quan tâm xem xét cho thích hợp
3.3.2.7. Sửa đổi, bổ sung quy định về bảo đảm đầu tư

79
Điều 66 Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành quy định: "căn cứ vào những
nguyên tắc quy định trong Luật này, Chính phủ có thể ký các thỏa thuận với nhà
đầu tư nước ngoài hoặc đưa ra các biện pháp bảo lãnh về đầu tư". Quy định này
chưa làm cho các nhà đầu tư các dự án lớn như dự án dầu khí Nam Côn sơn, Dự
án điện BOT Phú Mỹ 3, Phú Mỹ 2.2... yên tâm, vì theo thông lệ quốc tế, các
nước thường quy định bảo lãnh của Nhà nước, chứ không quy định bảo lãnh của
Chính phủ. Họ lý giải rằng Hiến pháp quy định tài nguyên, khoáng sản... trên
lãnh thổ Việt Nam là thuộc sở hữu Nhà nước, đồng thời quy định đất đai là sở
hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Như vậy, những giá trị vật chất
cơ bản là do Nhà nước nắm giữ. Nhưng Luật Đầu tư nước ngoài lại quy định là
Chính phủ đứng ra bảo lãnh. Vậy, Chính phủ có gì để bảo lãnh? Đồng thời, Nhà
nước thì tồn tại lâu dài, còn Chính phủ thì có thể thay đổi. Tất nhiên, chúng ta
đều hiểu, Chính phủ cũng là đại diện cho Nhà nước. Do đó, quy định này có
nghĩa là Chính phủ đại diện cho Nhà nước Việt Nam đứng ra bảo lãnh. Nhưng
phía các nhà đầu tư nước ngoài khó hiểu vai trò này của Chính phủ. Họ luôn yêu
cầu phải có sự bảo lãnh của Nhà nước chứ không phải là của Chính phủ như hiện
nay. Hơn nữa, các dự án BOT này toàn là những dự án lớn, có ý nghĩa đối với
nền kinh tế.
3.3.2.8. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài
cho phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt nam đã ký kết hoặc gia nhập
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài
không phải chỉ nhằm thực hiện cam kết trong các điều ước quốc tế, mà là một
giải pháp nằm trong chủ trương chung của Nhà nước ta về cải thiện môi trường
đầu tư và chủ động hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế khu vực và thế giới.
Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài nhằm
thực hiện cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia
nhập được thực hiện theo các hướng sau đây:
Thứ nhất, điều chỉnh các quy định về thành lập, tổ chức hoạt động của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiến tới thực hiện đối xử quốc gia

80
đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Đây là cam kết có liên quan trực tiếp đến các quy định của pháp luật đầu
tư nước ngoài hiện hành. Do vậy, việc thực hiện các cam kết này đòi hỏi phải
điều chỉnh một số quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài về hình thức góp
vốn, huy động vốn, tỷ lệ góp vốn, chuyển nhượng vốn và nguyên tắc nhất trí
trong doanh nghiệp liên doanh. Trừ cam kết liên quan đến hình thức góp vốn,
toàn bộ các cam kết này phải được thực hiện với thời hạn tối đa 3 năm kể từ
ngày Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực.
Thứ hai, điều chỉnh các cam kết về việc thực hiện chế độ thẩm định cấp
giấy phép đầu tư và chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư
Luật đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 2000 đã luật hóa quy định về chế độ
thẩm định cấp giấy phép đầu tư và chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư, nhưng
không quy định cụ thể đối tượng, phạm vi cũng như nội dung của các chế độ
này.
Để có thời gian rút kinh nghiệm việc triển khai chế độ đăng ký cấp giấy
phép đầu tư đã được quy định cụ thể tại Nghị định 24 và Luật Đầu tư nước ngoài
(sửa đổi) năm 2000 cho phù hợp với lộ trình đã cam kết trong các điều ước quốc
tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, cần sửa đổi Nghị định nói trên với các
quy định có tính nguyên tắc sau đây:
Một là, công bố rõ ràng, công khai điều kiện cấp phép đối với tất cả các dự
án đầu tư. Khi đáp ứng các điều kiện này, nhà đầu tư được cấp giấy phép mà
không buộc phải thực hiện bất kỳ yêu cầu nào khác.
Hai là, từng bước mở rộng phạm vi các dự án được thực hiện chế độ đăng
ký cấp giấy phép đầu tư theo hướng:
- Chỉ áp dụng các tiêu chí thực hiện chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư
đã cam kết gồm: các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất; các dự án có
tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu 50%; các dự án có vốn đầu tư đến 5 triệu USD.
- Trong vòng từ 2 - 3 năm, mở rộng chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư
đối với tất cả các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất khác không phụ thuộc vào quy

