31
pp đầu tư nước ngoài của nhiều nước trên thế giới.
So với Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977, Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987 đã có mt bước tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật lập pháp, về sự p hợp với
tập quán và luật pháp quốc tế, tạo môi trường pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt
động đầu nước ngoài tại Việt Nam. Luật Đầu c ngoài năm 1987 đã
một điều riêng (Điều 2) nêu 12 khái niệm pháp lý quan trọng, tạo điều kiện nhận
thc và áp dụng thống nhất luật này trên phạm vi toàn quc.
Bên cạnh đó, Luật Đầu nước ngoài m 1987 đã quy định cụ thhơn
về: 1) Đi tượng hợp tác đầu tư với nước ngoài; 2) Lĩnh vực khuyến khích đầu
tư; 3) Hình thc đầu tư; 4) Biện pháp bảo đảm đầu ; 5) Quy định về thuế; 6)
Quy định về vốn pháp định; 7) Chế đkế toán, thống kê, bảo hiểm; 8) Mở tài
khoản; 9) Thời hạn đầu tư; 10) Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài.
Để thực hiện yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đầu
ớc ngoài tại Việt Nam, ngày 30/6/1990, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa
VIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1987 (sau đây gọi tắt là Luật Đầu tư nước ngoài (sa đổi) năm 1990). Luật
này đã sửa đổi, bổ sung 15 trên tng số 42 điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm
1987.
Với sự sửa đổi, bổ sung một cách đồng bộ này, hthống pháp luật về đầu
nước ngoài đã góp phần làm cho môi trường đầu nước ngoài Việt Nam
vào nhng năm 1990 thêm hấp dẫn.
Ngày 23/12/1992, Quc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một s
điều của Luật Đầu nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gi tắt là Luật Đầu
ớc ngoài (sửa đổi) năm 1992). Luật này đã sửa đổi, bổ sung 9 điều, bổ sung
mới 3 điều tập trung vào 9 vấn đề quan trọng.
Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 được thông qua, Nghị
định số 18/CP ngày 26/12/1992 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành
Luật Đầu c ngoài ti Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghđịnh 18), thay thế
cho Nghđịnh số 28/HĐBT ngày 6/2/1991 (sau đây gọi là Nghđịnh 28) và 17
32
văn bản pháp luật liên quan đến đầu ớc ngoài cũng đã được ban hành. Như
vậy, cho đến trước khi ban hành Luật Đầu ớc ngoài ti Việt Nam năm
1996, Nhà nước đã ban hành khoảng 110 văn bản luật và dưới luật liên quan đến
đầu ớc ngoài, tạo i trường pháp tương đối đầy đủ, đồng bộ cho hoạt
động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2.2.3. Giai đoạn thứ ba (từ năm 1996 đến nay)
Giai đoạn này đất nước ta đã ra khi khủng hoảng kinh tế xã hi; quan
hđối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến
hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt.
Đảng và Nhà nước ta đã có các chtrương, giải pháp cụ thể trong lĩnh vực
đầu nước ngoài. Ngày 12/11/1996 Quốc hội đã thông qua Luật Đầu ớc
ngoài tại Việt Nam trên s sửa đổi, bsung một cách cơ bản Luật Đầu
ớc ngoài tại Việt Nam m 1987, Luật Đầu ớc ngoài (sửa đổi) năm
1990, Luật Đầu nước ngoài (sửa đổi) năm 1992, tiếp tục tạo môi trường pháp
hấp dẫn, thể hiện chính sách nhất quán thu hút đầu ớc ngoài vào Việt
Nam của Đảng và Nhà nước ta.
Luật Đầu ớc ngoài năm 1996 được ban hành trong bi cảnh hệ thng
pp luật về kinh tế đã được xây dựng, sa đổi, bổ sung tương đối đầy đủ, so với
trước kia. Nhiều đo luật quan trọng đã được ban hành vào thời điểm này như
B luật Dân sự, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp... nhằm thu t tối đa mọi
ngun vốn đầu tư, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Sau khi ban hành Luật Đầu nước ngoài năm 1996, Nghđịnh số 12/CP
ngày 18/2/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam (sau đây gi tắt là Nghđịnh 12) 15 n bản pháp luật khác có
liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng được ban hành.
Luật Đầu nước ngoài năm 1996 ng h thống các văn bản luật nói trên
đã tạo dựng khung pháp bản điều chỉnh hoạt động đầu nước ngoài phù
hợp với đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển và mở cửa nền kinh tế, đáp
ứng được yêu cầu của thời đim đó.
33
Tuy nhiên, tsau năm 1997, tình hình trong nước cũng như khu vực và
thế giới đã nhiu thay đổi. trong c, tuy khu vực đầu nước ngoài vẫn
tiếp tục đóng góp tích cực vào s phát triển của kinh tế đất nước, nhưng
nhng năm sau đó, nhịp ng thu hút đầu nước ngoài vào Việt Nam liên tục
suy giảm.
Trước thực tế trên, để chặn đà suy giảm, tiến tới có s tăng trưởng của đầu
ớc ngoài; ngày 9/6/2000, Quc hi đã thông qua Luật sửa đi, bổ sung một
sđiều của Luật Đầu nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Luật Đầu
ớc ngoài (sửa đổi) năm 2000). Luật này đã b sung hai điều mới và sa đổi,
bsung 20 điều của Luật Đầu tước ngoài năm 1996. Luật Đầu nước ngoài
(sửa đổi) năm 2000 đã đưa ra nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những vướng
mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp vốn đầu ớc
ngoài. Sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24. Nghị định gồm 14 chương,
125 điều và kèm theo 2 phụ lục.
Luật Đầu c ngoài (sửa đổi) năm 2000 và Nghđịnh 24 đã tạo điều
kiện xích gần hơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, to thế chủ động
trong tiến trình hi nhập đm bảo các cam kết quốc tế, m cho môi trường
kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng n so với trước đây và so vi
một số nước trong khu vực.
2.3. Shình thành phát triển mt số chế định pháp chủ yếu của pháp
Lut Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Việc nghiên cứu sự hình thành phát triển của pháp luật đầu nước
ngoài nói chung cho ta thấy bức tranh tổng thể mang tính khái quát về pháp luật
đầu ớc ngoài. Tuy nhiên, s là đầy đủ hơn, nếu chúng ta đi sâu phân tích sự
hình thành và phát triển của một số chế đnh pháp chủ yếu của pháp luật đầu
nước ngoài như: chủ thể tham gia hợp tác đầu tư nước ngoài; hình thức đầu tư
phương thức đầu ; các biện pháp bảo đảm đầu tư; các biện pháp khuyến
khích đầu tư; quản lý tài chính hoạt động của các doanh nghiệp vốn đầu tư
34
ớc ngoài; giải quyết tranh chấp, giải thể, thanh , psản doanh nghiệp; thủ
tục đầu tư; quản lý nhà nước vđầu tư ớc ngoài.
2.3.1. Chủ thể tham gia hợp tác đầu tư nước ngoài
Luật Đầu ớc ngoài năm 1987 đã quy định cụ thể về chủ thể tham gia
hợp tác đầu nước ngoài. Đây bước tiến so với Điều lệ Đầu nước ngoài
năm 1977, vì trong Điều lệ chưa quy định cụ thể đi tượng nào thuộc Bên Việt
Nam được tham gia đầu nước ngoài. Luật Đầu nước ngoài năm 1987 đã
quy định rất cụ thnhững chủ thể thuộc Bên Việt Nam tham gia đầu , đó là:
"Mt bên hoặc nhiều tổ chức kinh tế Việt Nam cách pháp nhân. Các
nhân Việt Nam có thể chung vốn với tổ chức Việt Nam thành n Việt Nam đ
hợp tác kinh doanh với Bên nước ngoài".
Theo chúng tôi, vic quy định nhân phải chung vốn với tổ chức kinh tế
cách pháp nhân đthành Bên Việt Nam chưa hoàn toàn p hợp với
chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta, mà nên quy định
nhân Việt Nam được phép độc lập tham gia hợp tác với nước ngoài đtạo
hội cho các nhà đầu tư thuộc nhiều thành phần kinh tế, tự nguyện bỏ vốn để hợp
tác vi các nhà đầu nước ngoài, qua đó góp phần nâng cao tỷ trọng vốn trong
ớc so với toàn bcấu đầu tư của nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc cho phép nhân được độc lập hợp tác đầu tư nước ngoài
nhng mặt trái, đó là: nhân Việt Nam, bên cạnh tiềm năng về vốn năng
lực kinh doanh mà ta cần khai thác, còn thể có nhng biểu hiện tiêu cực, như
li dụng sơ htrong quản nhà nước đm ăn không chính đáng, móc ngoặc
với Bên nước ngoài, lợi ích riêng mà bqua lợi ích của đất nước; các nước
bản lớn có chính sách thù địch với ta đềuý đồ thông qua việc phát triển thành
phần kinh tế nhân để tiến tới "tư nhân a" toàn bộ nền kinh tế của ta, xóa bỏ
chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
vậy, chủ trương cho phép thành phần kinh tế tư nhân được đứng độc
lập thành Bên Việt Nam để hợp tác đầu tư với nước ngoài cần được gắn với việc
hạn chế hoạt đng của họ đối với một s lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa chiến
35
lược đối với an ninh, quốc phòng, như: ng nghiệp quốc phòng, khai thác dầu
khí và các tài nguyên quý hiếm, một số ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn khác...
Tn sở đó, Luật Đầu nước ngoài (sa đổi) m 1990 đã quy định
như sau: "n Việt Nam là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế Việt
Nam ch pháp nhân thuộc các thành phn kinh tế" "c tchức kinh
tế nhân Việt Nam được hợp tác kinh doanh với tổ chức, nhân nước ngoài
trong lĩnh vực và điều kiện do Hội đồng Bộ trưởng quy định".
Luật Đầu nước ngoài m 1987 quy định các tổ chức, nhân nước
ngoài phải đứng chung thành Bênớc ngoài đhợp tác với Bên Việt Nam, chứ
không được đứng riêng thành nhiều Bên nước ngoài độc lập với nhau.
Thực tiễn thi hành Luật Đầu ớc ngoài m 1987 cho thấy, không
phải lúc nào các t chức, nhân nước ngoài cũng muốn đứng chung thành n
ớc ngoài. Có nhiu trường hợp, h muốn đứng thành từng Bên nước ngoài độc
lập với nhau đtham gia liên doanh với Bên Việt Nam. Vphía Bên Việt Nam
cũng xảy ra những trường hợp ơng tự. Vì vậy, việc mở ra hình thức liên doanh
nhiu Bên nước ngoài nhiều Bên Việt Nam tham gia là cn thiết, tạo
hội cho c nhà đầu ớc ngoài được đứng riêng, độc lập với nhau đhợp tác
với các đối tác Việt Nam thành lập doanh nghiệp liên doanh.
Tn tinh thn đó, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đi) năm 1990 đã quy định
tại khoản 4 Điều 2 vvấn đnày như sau: "Nhiu bên Bên Vit Nam và c
n nước ngoài, hoc Bên nước ngoài Bên Vit Nam hoặc là các Bên Việt
Nam các Bên ớc ngoài". T việc quy định "Hai bên", đã b sung thêm
thuật ng"Nhiều bên" ngay sau thut ng "Hai bên" tại c khái niệm "Hp
đồng hợp tác kinh doanh" (khoản 5 Điều 2), "Hợp đồng liên doanh" (khoản 6
Điều 2), "Xí nghiệp liên doanh" (khoản 10 Điều 2).
Luật Đầu ớc ngoài sửa đổi m 1990 cho phép các tổ chức kinh tế tư
nhân cách pháp nhân được hợp tác kinh doanh với c ngoài như nhng
bên độc lập. Tổ chức kinh tế nhân cách pháp nhân công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần (Điều 18 Luật Công ty), còn doanh nghiệp