
Kỹ thuật nuôi cá Dĩa
I. Đặc điểm sinh học
1.1 Phân bố, sinh thái
- Sông Amazon (Nam Mỹ) là nơi sản sinh nhiều loài cá đẹp nhiều cá quý, cá đẹp
và cá lạ: Cá đuối gai độc, cá Rồng, cá Hải Tượng, … và cả cá Đĩa.
- Cá sống mạnh khỏe ở một môi trường nước thật sạch, độ pH từ 5,5 – 6,5 và ở
điều kiện nhiệt độ từ 28 – 32 độ C
1.2 Hình thái
- Cá đĩa có thân hình trơn láng. Cá đĩa được chia ra 2 chủng loại chính đó là cá đĩa
Hoang và cá đĩa thuần chủng.
- Cá trưởng thành có kích thước từ 15cm đến 20cm, thân hình có dạng tròn như
chiếc đĩa, rất dẹp, miệng nhỏ, mang nhỏ và sống hiền hòa theo bầy đàn trong tự
nhiên.
1.3 Phân loại
- Cá đĩa hoang thì có 4 dòng chính
+ Đĩa Heckle.

+ Đĩa nâu (brown discus).
+ Đĩa xanh Dương (blue discus).

+ Đĩa xanh lá (green discus).
- Các loài cá đĩa còn lại điều do những nghệ nhân chơi cá Lai tạo thành. Giống
thông thường của dòng cá lai tại dược gọi là cá đĩa bông xanh (turquoise). Hiện
nay giống mới nhất là cá bạch tạng (snow white hoặc albino white).

1.4 Dinh dưỡng
Cá đĩa không kén ăn. Thức ăn của cá đĩa trong môi trường nuôi nhân tạo thường là
trùn đỏ, trùn chỉ, bo bo, lăng quăng hay tim gan bò băm nhuyễn. Tuy nhiên cá đĩa
là tương đối khó nuôi vì cá chỉ sống tốt khi môi trường nước nuôi gần giống môi
trường nước cá sông ngoài tự nhiên. Người ta dựa vào những tiêu chuẩn này để
làm bể nuôi cá đĩa cho thật phù hợp để cá sống mạnh khỏe.
II. Sinh sản
Có sự khác biệt giữa nuôi cá để ngắm chơi và nuôi sinh sản (ss) về kích thước hồ,
nơi đặt hồ, độ PH, …
2.1 Hồ sinh sản
- Kích thước hồ: từ 30 – 40 x 50 x 60cm (cao, rộng, dài).
- Mực nước trong hồ: Tuỳ theo kích thước cá nhưng thường thì khoảng 30cm.-
Ánh sáng: Sáng mờ mờ (khi cá đã đẻ thuần thục, ĐK này không còn cần thiết).
- Âm thanh: Tránh gây tiếng động trong suốt quá trình cá đẻ đến khi tách bầy.
- Nhiệt độ: Nắng gió phương nam không quan tâm đến yếu tố này (khoảng 28 – 30
độ C là cá đẻ tốt).
- pH từ 6,0 đến 6,4 (nếu cá đẻ lần đầu hoặc không chịu đẻ thì tiến hành nâng pH
lên 6,6 – 7 và tăng ánh sáng để cá sung lại).
- Không sử dụng máy lọc.
- Thổi khí nhẹ đến vừa phải (nếu sử dụng lọc sinh học sẽ tốt hơn).
- Đặt giá thể làm nơi khi cá để.
2.2 Cá sinh sản

- Phải là cặp cá tròn, đẹp, dáng chuẩn được nuôi trên 10 tháng. Việc xác định trống
mái với các bạn mới chơi là một vấn đề nan giải, không thể diễn đạt trọn vẹn. Sau
một thời gian, khi cá bắt đầu bắt cặp (bắt đầu sinh sản_sinh sản lần đầu) thì việc
xác định cá trống mái với độ chính xác từ 85% đến 90%. Tạm thời bây giờ hãy
chấp nhận cách cổ điển như sau:
+ Cho 7 – 8 cá có ở độ tuổi 9-12 tháng tuổi vào hồ nuôi chung.
+ Cho một giá thể (Máng đẻ) vào hồ.
+ Quan sát thấy cặp cá nào quấn lấy giá thể, đánh đuổi những cá khác, làm vệ sinh
giá thể, thậm chí đẻ luôn trên giá thể thì bắt cặp đó cho vào hồ ss đã chuẩn bị trước
phần trên.
+ Bổ sung cá khác vào nếu còn.
- Thông thường cá dĩa có thể đẻ sau 10 tháng tuổi nhưng thành thục phải từ tháng
thứ 9 trở đi. Vì vậy trong thời gian này bạn có nôn nóng cũng không làm được gì.
- Khi cá trống đang dọn ổ đẻ trong điều kiện môi trường nêu trên, có thể 3 giờ sau
sẽ đẻ.
2.3. Chăm sóc cá sinh sản
Trong giai đoạn này ta không can thiệp được bất cứ việc gì ngoài việc chờ và chăm
sóc như sau:
- Thay nước: 1-2 ngày lần với lượng nước thay ra 10% đến 20% lần. Cá thường đẻ
vào khoảng 16 giờ đến 22 giờ . Tránh thay nước vào khoảng thời gian này- PH ổn
định từ 6
- 6,5 Tùy cá tơ hay già.

