Lãi suất s giảm trên diện rộng
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có một quyết định mạnh m khi giảm trn
lãi suất huy động 2% xuống 9% làm tiền đề để giảmu các loại lãi suất
bản khác. Tin đề của việc gim lãi suất ln này chỗ, các ngân hàng
quốc doanh đã có chuyn động giảmi suất trước khi quyết định giảm lãi
suất huy động xuống 9% được NHNN ng b
Tại Ngân hàng Vietcombank, trong tun trước đã liên tc điều chỉnh lãi suất
huy động k hn 12 tháng t 11% xung 10,5%, xuống 9,5% đương
nhiên s xung 9% t 11/6. Với tiền gửi 12 tháng linh hot, Vietcombank
cũngng thời gian rút gốc linh hoạt t 3 tháng lên 6 tháng thì khách hàng
mới được hưởngi suất k hạn 12 tháng. Quan trng hơn, nhiều ngân hàng
đã thông báo điu chỉnh lãi suất cho vay.
Theo ghi nhn t các DN, lãi suất gii ngân của các ngân hàng như
Vietcombank, Vietinbank tuần vừa qua đã là 12-13%/m. Các ngân hàng
ln chịu áp lực cnh tranh t ngân hàng nước ngoài khi các ngân hàng nước
ngoài đã đang cung cấp ngun vni suất 12% cho nhiều DN t hơn 1
tuần trước. Nếu không gim i suất cho vay, các ngân hàng lớn s d mất
khách hàng tốt vào tay ngân hàng ớc ngoài.
Như vậy, trong lòng hoạt động của ngành ngân hàng, chuyn động gim lãi
suất đã diễn ra sm hơn thời điểm có hiu lực của lãi suất trn huy đng
mới. T s chuyn động của khi ngân hàng lớn, khối ngân hàng thương
mại c phần nhân s buộc phải chuyển động theo trong việc gim lãi suất
cho vay k t sau ngày 11/6. Hiện nhóm ngân hàng c phần vẫn duy trì mặt
bằngi suất cho vay khá cao so vi trn huy động cũ là 11 và 12%. Nhiều
DN phn ánh, nhóm ngân hàng c phn đang c duy trì lãi suất cho vay cao
được ngày nào là tốt ngày đó, thay vì h tr DN trong lúc kkhăn.
Theo cm nhận của nhiều DN ĐTCK ghi nhận được,i suất vay vốn
12% là mức lãi suất có th chấp nhận được. Nếuc ngân hàng nghiêm
chỉnh áp dụng mức lãi suất này thì s có chuyn biến rõ rệt trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của DN trong thi gian ti. Với mức lãi suất cho vay
mới, gánh nng chi phí vốn vay của DN s nh nhàng hơn rất nhiều.m lý
lo ngại rủi ro mất vn, n kđòi dn dn s được gii tỏa. Sau một thời
gian sắp xếp các tồn ti v n vay, các DN có th nhìn li thực lực của mình
để tính đếni toán đầu phát trin.
Tuy nhiên, điều DN cm nhnlà không phi đối tượng DN nào cũng
được hưởng lãi suất vay vốn 12%. Sng lọc DN tiếp tục diễn ra và nhiều
DN vn phải tiếp tụcn tài sản để cấu nvi t l n hin nay, DN s
không th huy động được vốn vi bất c hình thức nào để triển khai hoạt
động sn xuất kinh doanh.
Lãi suất vay vốn 12% là mức gimu so vi trước, nhưng cũng không phi
là lãi sut cạnh tranh so vi lãi suất vay vốn mà DN các ớc trong khu
vực và trên thế gii được hưởng. So vic năm trước đó, mức lãi suất này
vẫnn cao. Trước khi cuộc khủng hoảngi chính toàn cu din ra (năm
2008), DN được vay vớii sut ph biến 9,5%. m 2009, lãi suất
10,5%, nhưng nhiều DN được h tr 4% nên ch phi tr lãi suất 6,5%/năm.
Với DN, quyếtm hi suất của NHNN mang đến hy vọng môi trường
kinh doanh s tốt dần lên. Nhưng trên bình diện vĩ mô, để gi được s ổn
định của nền kinh tế song song với quá trình tái cu trúc hiệu qu và gi lạm
phát mc thấp vẫnn là thách thức lớn phía trước.